Chủ Nhật, 16 tháng 3, 2014

Tài liệu Kinh nghiệm từ mô hình và thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của một số nước trên thế giới pptx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Kinh nghiệm từ mô hình và thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của một số nước trên thế giới pptx": http://123doc.vn/document/1039446-tai-lieu-kinh-nghiem-tu-mo-hinh-va-tham-quyen-xet-xu-vu-an-hanh-chinh-cua-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-pptx.htm


Hội đồng Nhà nước là đỉnh chóp của hệ thống tòa án hành chính,
được coi là Tòa án hành chính tối cao tồn tại song song với Tòa án tư
pháp tối cao - đỉnh chóp của hệ thống tòa án thường. Với tư cách là cơ
quan tư vấn, Hội đồng Nhà nước tư vấn cho Chính phủ trong việc ban
hành các dự án luật liên quan đến lĩnh vực hành pháp, đưa ra những lời
khuyên cho Chính phủ về những vấn đề xung đột với các nguyên tắc
của Hiến pháp, cũng như các đạo luật trong nước và điều ước quốc tế.
Với tư cách là tòa án hành chính tối cao, hàng năm Hội đồng Nhà nước
xét xử khoảng 10.000 đến 11.000 vụ án, với số lượng khoảng 300 thẩm
phán được chia làm ba cấp với cấp cao nhất là Hội đồng viên.
Dưới Hội đồng Nhà nước là các Tòa án hành chính Phúc thẩm, bao
gồm 8 tòa án, trong đó tòa án hành chính phúc thẩm Versailles mới
được thành lập năm 2004. Tòa án hành chính vùng là tòa án cấp thấp
nhất, với 41 đơn vị trên toàn nước Pháp, trong đó có 30 tòa nằm trong
lãnh thổ chính của Pháp và 11 nằm ở các khu vực khác nhau trên thế
giới thuộc lãnh thổ Pháp.
Theo lý luận của Otto Mayer2[2], khái niệm cơ bản và quan trọng
nhất đó là Nhà nước làm theo luật, hoàn toàn khác biệt với Nhà nước
cảnh sát. Nhà nước làm theo luật là Nhà nước có một nền hành chính
tốt và hệ thống luật hành chính vững chắc để bảo đảm cho mối quan hệ
tốt đẹp giữa Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý với các đối tượng
tham gia, hay đối tượng được phục vụ của hành chính. Nhà nước làm
theo luật không chỉ đòi hỏi việc ban hành luật một cách chặt chẽ và


thống nhất, mà còn đòi hỏi một cơ chế bảo đảm cho Nhà nước cũng
phải tuân thủ theo pháp luật, thông qua việc cho phép các đối tượng
quản lý được quyền kiện Nhà nước ra tòa án hành chính độc lập.
Đức đã xây dựng mô hình tòa án hành chính độc lập tồn tại song
song với hệ thống tòa án thường. Tòa án hành chính tối cao chỉ có
nhiệm vụ xét xử các vụ kiện hành chính mà không có chức năng tư vấn
cho Chính phủ như mô hình của Pháp. Bên cạnh đó, khác với tòa án
hành chính Pháp có thể xem xét các vụ việc bồi thường thiệt hại, tòa án
Đức chỉ xem xét tính hợp pháp của các quyết định, hành vi, còn việc
yêu cầu bồi thường sẽ do tòa án dân sự giải quyết.
Trước khi mô hình Tòa hành chính nằm trong hệ thống Tòa án nhân
dân được thành lập ở Việt Nam năm 1996, nhiều học giả Việt Nam ủng
hộ mô hình của Pháp, mong muốn giới thiệu mô hình cơ quan tài phán
hành chính nằm trong nhánh hành pháp nhưng độc lập với cơ quan
hành chính, có thêm chức năng tư vấn cho cơ quan này. Hiện nay,
nhiều học giả vẫn đang tiếp tục nghiên cứu theo hướng nâng cấp hệ
thống cơ quan thanh tra trở thành hệ thống cơ quan tài phán hành chính
thuộc Chính phủ, với lý luận ảnh hưởng từ Pháp, hành chính bao gồm
hai mặt cùng tồn tại song song, không thể tách rời đó là quản lý và tài
phán. Bên cạnh đó, nhiều tác giả ủng hộ mô hình độc lập của Tòa án
hành chính Đức, mặc dù mô hình này từng bị phê bình vì cho rằng
không phù hợp với Hiến pháp Việt Nam, chỉ công nhận một cơ quan có
thẩm quyền xét xử duy nhất đó là Tòa án nhân dân. Trên thực tế, dù mô
hình của Pháp và Đức đều bị từ chối bởi các nhà lập pháp, nó vẫn đang
được tiếp tục nghiên cứu, và một điều không thể phủ nhận, mô hình xét
xử hành chính của các quốc gia này đã tồn tại lâu đời, nhiều ưu điểm có
thể chia sẻ với Việt Nam trong bối cảnh mô hình hiện tại bộc lộ nhiều
khiếm khuyết.
1.2. Kinh nghiệm về xác định thẩm quyền của tòa án
Về thẩm quyền tòa án hành chính, một số kinh nghiệm có thể tham
khảo, như:
Một là, tòa án có thể xem xét tính hợp pháp của các quy phạm pháp
luật hành chính, như trường hợp ở Pháp, các tòa án có thể phán quyết
từ những quyết định nhỏ nhất của chính quyền địa phương đến các
Nghị định được ban hành bởi Tổng thống, ngoại trừ những văn bản đặc
biệt của Chính phủ. Ngoại lệ này xuất phát từ lý luận về đạo luật của
Chính phủ và sự phân biệt rõ ràng giữa chức năng quản lý và chức năng
điều hành3[3]. Theo các học giả Pháp, một số đạo luật bảo vệ lợi ích
công như chống khủng bố, bạo loạn, thiên tai, dịch bệnh , mặc dù có
thể xâm hại đến quyền riêng tư của cá nhân nhưng nhằm bảo vệ các lợi
ích của quốc gia, cộng đồng, Chính phủ vẫn có thể ban hành. Việc xem
xét lại các đạo luật này chỉ có thể là Nghị viện mà không thể là Hội
đồng Nhà nước.
Hai là, tòa án không giới hạn xem xét các vấn đề hành chính được
liệt kê cũng như không công nhận điều khoản dự phòng (trong trường
hợp pháp luật có quy định khác) như Điều 11 của Pháp lệnh Thủ tục

3[3] Xem L.Neville Brown & John.S.Bell, French Administrative Law, 1998, tr.162.
giải quyết các vụ án hành chính của Việt Nam. Luật hành chính Pháp
chỉ đưa ra một nguyên tắc ngoại lệ là tòa án sẽ không xem xét, giải
quyết các vụ việc liên quan đến quá trình lập pháp của cơ quan Nghị
viện, các mối quan hệ luật pháp quốc tế, các hoạt động hành chính
nhưng mang bản chất dân sự như hợp đồng hành chính Về nguyên
tắc, người dân có thể kiện bất kỳ một quyết định hay hành vi công
quyền nào ra tòa án có thẩm quyền nếu không thuộc những trường hợp
ngoại lệ. Chính phủ không thể tự ý trao cho tòa án quyền xét xử một vụ
việc nào đấy thông qua điều khoản dự phòng như Việt Nam đã từng có.
Ba là, trong khi Tòa án hành chính Pháp có thể giải quyết các vụ
kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành chính gây ra, Đức lại giao vụ việc
này cho tòa án thường giải quyết. Các học giả Đức tranh cãi rằng, việc
một chiếc xe ô tô chở cán bộ công chức khi đi thực hiện nhiệm vụ gây
ra một tai nạn, có khác gì so với một chiếc xe ô tô thường chở khách
gây tai nạn hay không. Do vậy, đây hoàn toàn là vụ kiện dân sự và do
tòa án thường giải quyết, mặc dù đối tượng bị kiện có thể là cán bộ
công chức khi đang đi thực thi công vụ.
Bốn là, về căn cứ để phán quyết, luật của các nước này đều cho phép
tòa án phán quyết tính hợp pháp của các quyết định và hành vi bị kiện.
Tuy nhiên, họ quy định rõ việc xem xét tính hợp pháp về hình thức và
nội dung của đối tượng khởi kiện, chẳng hạn: luật của Pháp quy định rõ
hai căn cứ để xem xét về hình thức là: 1) không đúng thẩm quyền; 2) vi
phạm các quy định về thủ tục; và hai căn cứ để xem xét về nội dung là:
1) vi phạm nội dung luật; 2) sự lạm dụng quyền lực. Bên cạnh đó, xuất
phát từ học thuyết về giới hạn quyền tự định đoạt, hành chính có những
quyền tự quyết định trong phạm vi của mình. Như vậy, trong một số
trường hợp, tòa án có thể xem xét các quyết định hay hành vi này có
vượt ngưỡng của quyền tự định đoạt hay không.
Năm là, tòa án có thể xem xét tính hợp pháp của các quyết định,
hành vi công quyền bất kể khi nào khi có yêu cầu khởi kiện mà không
cần trải qua giai đoạn tiền tố tụng bắt buộc như ở Việt Nam. Điều này
lý giải cho số lượng vụ kiện hành chính ở các nước này tăng cao đáng
kể, đặc biệt là tâm lý không quá nặng nề của cơ quan hay người đứng
đầu khi bị kiện ra tòa án.
Sáu là, liên quan đến nội dung bản án hành chính, luật các nước này
quy định rõ thẩm quyền tòa án trong việc giải quyết từng vụ án cụ thể,
không chỉ tuyên bố tính trái pháp luật của các quyết định, hành vi bị
kiện. Chẳng hạn, Tòa án Pháp có thẩm quyền: hủy, giữ nguyên hay sửa
những sai phạm trong các quyết định bị kiện; xác định các quyền được
làm và không được làm của các đương sự; quyết định việc bồi thường
thiệt hại; giải thích việc áp dụng quyết định phù hợp với thực tiễn pháp
lý mặc dù quyết định quy phạm có thể bị tuyên là trái luật; áp đặt mức
phạt hoặc bổ sung khoản tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài
sản công; áp dụng biện pháp cưỡng chế bắt buộc đối với đối tượng bị
kiện.
Cuối cùng, về việc thi hành án hành chính, Luật của Pháp năm 1995
đã trao cho thẩm phán hành chính nhiều quyền hơn, cụ thể là cho phép
thẩm phán đặt ra các biện pháp nghiêm ngặt để bắt buộc cơ quan hành
chính bị kiện phải có nghĩa vụ chấp hành các phán quyết của tòa, chẳng
hạn như có thể phạt tiền hoặc yêu cầu xử lý hình sự đối với các cán bộ
có thẩm quyền cố tình vi phạm công tác thi hành án, áp dụng các biện
pháp phòng ngừa thông qua phương tiện thông tin đại chúng
2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
2.1. Sự thay đổi từ mô hình tòa hành chính độc lập sang tòa án
thường
Trước Đại chiến Thế giới II, lý luận về tố tụng hành chính cũng như
mô hình cơ quan tài phán của Nhật Bản, như giáo sư Sugai và thẩm
phán tối cao Sonobe bình luận trong cuốn “Luật hành chính Nhật Bản”,
hoàn toàn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Đức và ảnh hưởng gián tiếp từ
Pháp. Điều 61 Hiến pháp Minh Trị năm 1889 quy định: “Không một vụ
kiện nào liên quan đến việc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của
các tổ chức, cá nhân trước cơ quan công quyền được giải quyết ở tòa án
thường, nó phải được giải quyết ở tòa án hành chính độc lập”. Theo đó,
Tòa án hành chính đã được thành lập ở Tokyo năm 1890, hàng năm
giải quyết hơn 1.000 các vụ kiện hành chính. Tuy nhiên, tòa án này chỉ
giải quyết sơ thẩm mà không có thẩm quyền phúc thẩm. Thẩm phán
được gọi là những Hội đồng viên có thể cùng đồng thời đảm đương
những vị trí khác trong quản lý hành chính. Thẩm quyền của tòa án này
chỉ xem xét những đối tượng kiện tụng được liệt kê, như trong lĩnh vực
thuế, cấp giấy phép kinh doanh, phúc lợi xã hội Các vụ kiện này cũng
chỉ được giải quyết tại tòa án sau khi người khởi kiện đã thực hiện hành
vi khiếu nại tới cơ quan hành chính đã ban hành ra quyết định bị kiện.
Sau Đại chiến Thế giới II, Hiến pháp Nhật Bản năm 1947 đã hủy bỏ
mô hình tòa án hành chính độc lập như các nước châu Âu lục địa và
xây dựng mô hình tòa án giống như của Mỹ, theo đó tất cả các tranh
chấp, bao gồm cả trong lĩnh vực hành chính đều được giải quyết bởi hệ
thống tòa án thường. Điều 76 Hiến pháp mới quy định: “toàn bộ quyền
lực tư pháp đều thuộc về tòa án tư pháp” và “cấm không được thành lập
bất kể các tòa án đặc biệt nào hay một cơ quan nào khác ngoài tòa án tư
pháp được quyền xét xử hành chính”. Tuy nhiên, một điểm cần nhấn
mạnh, trong lĩnh vực giải quyết vụ án hành chính, Nhật Bản không
hoàn toàn đi theo lý luận và mô hình của Mỹ và đánh mất đi đặc trưng
của hệ thống tố tụng hành chính được ảnh hưởng mạnh mẽ từ Đức,
cũng như những nét riêng của lý luận hành chính Nhật Bản trước chiến
tranh. Bên cạnh ba cải cách lớn liên quan đến luật hành chính giai đoạn
này là: 1) mở rộng yêu cầu đòi bồi thường nhà nước; 2) lý luận về
quyết định hành chính và hành vi vượt quyền; 3) lý luận về hướng dẫn
hành chính, việc ban hành Những quy định đặc biệt liên quan đến việc
giải quyết vụ kiện hành chính năm 1948, việc pháp điển hóa Luật Kiện
tụng hành chính năm 1962 cùng với việc duy trì những lý luận về tố
tụng hành chính ở Đức trước đây, cho thấy, xét về bề ngoài, tòa án tư
pháp giải quyết vụ án hành chính như quy định của Hiến pháp, nhưng
thủ tục giải quyết lại giống như tòa án hành chính ảnh hưởng mô hình
từ Đức. Bình luận về điều này, các học giả Nhật Bản thời kỳ hậu chiến
như Sugai và Sonobe cho rằng, họ vẫn dũng cảm để phục hồi và phát
triển lý luận tố tụng hành chính của châu Âu lục địa và coi đây là sự
thất bại của quá trình Mỹ hóa luật hành chính Nhật Bản xét ở lĩnh vực
tố tụng.
Hệ thống tòa án của Nhật Bản hiện nay bao gồm bốn cấp: 450 tòa án
rút gọn, 50 tòa án quận được đặt ở 47 đơn vị hành chính trong cả nước
trong đó vùng Hokkaido có 4 tòa án, 8 tòa án phúc thẩm đặt tại Tokyo,
Osaka, Nagoya, Hiroshima, Fukuoka, Sendai, Sapporo, Takematsu, và
tòa án tối cao đặt tại Tokyo. Về nguyên tắc, tòa án tư pháp có nhiệm vụ
giải quyết vụ án hành chính; tuy nhiên, trong xu hướng cải cách hiện
nay, một số tòa quận như Tokyo, Osaka, Nagoya, Yokohama, Saitama,
Chiba, Kyoto và Kobe có thêm phân tòa đặc biệt chuyên xét xử hành
chính4[4]. Như vậy, có vẻ như Nhật Bản chia sẻ với Việt Nam và
Trung Quốc trong việc thành lập mô hình Tòa hành chính nằm trong hệ
thống Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn là các tòa của
Nhật Bản không phân chia theo địa giới hành chính, và Điều 12 Luật
Kiện tụng hành chính của Nhật Bản quy định, tòa án có thẩm quyền
giải quyết thường là tòa án nơi có bất động sản hay trụ sở của chủ thể
bị kiện, nhưng ở vị trí cao hơn, không phụ thuộc vào quyền quản lý địa
phương của cơ quan hành chính.
2.1. Một vài kinh nghiệm về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính

4[4] Xem Carl F.Goodman, Justice and Civil Procedure in Japan, 2004, tr. 460-463.
Nhật Bản có Luật Kiện tụng hành chính ban hành ngày 16/5/1962,
được sửa đổi gần đây nhất ngày 19/6/2004. Các quy định liên quan đến
thẩm quyền và thủ tục giải quyết được sửa đổi với nhiều điểm tiến bộ,
góp phần bảo vệ triệt để các quyền tự do cá nhân, có giá trị tham khảo
đối với Việt Nam trong việc pháp điển hóa luật tố tụng hành chính. Một
vài kinh nghiệm có thể tham khảo như:
Một là, Tòa án Nhật Bản không bị giới hạn bởi các vụ việc hành
chính mang tính liệt kê. Tuy nhiên, các quyết định hành chính có thể
được kiện ra tòa phải thỏa mãn các đặc trưng của một quyết định hành
chính như: tính quyền lực công; hiệu lực pháp lý, có sự tác động trực
tiếp và chính xác với người khởi kiện, mối quan hệ không phụ thuộc
giữa chủ thể và đối tượng quản lý5[5]. Tên gọi của các quyết định này
rất đa dạng trong các văn bản pháp luật khác nhau, như giấy phép, giấy
đăng ký, chấp thuận, cấm đoán hoặc xử phạt Hiện nay, vấn đề còn
gây nhiều tranh cãi là các hướng dẫn hành chính của Nhật Bản có thể bị
xem xét tính hợp pháp bởi tòa án hay không. Điểu 2 Luật Thủ tục hành
chính năm 1994 (sửa đổi 2005) đã định nghĩa rõ hướng dẫn hành chính
không phải là một quyết định hành chính vì nó không trực tiếp đặt ra
các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho đối tượng quản lý, cũng không
mang tính bắt buộc phải thực hiện mà trên cơ sở tự nguyện của đương
sự. Tuy nhiên, trong thực tế, xuất phát từ tâm lý e ngại cũng như thói
quen phục tùng đối với cơ quan công quyền, các hướng dẫn hành chính
đôi khi gián tiếp bắt buộc đối tượng quản lý phải thực hiện và trong

5[5] Xem Ishikawa Toshiyuki, The Introductory Japanese Administrative Law, Hajimete no Gyoseihou,
2006. tr. 67-72.
nhiều trường hợp, tòa án cũng thụ lý giải quyết. Để giải quyết sự tranh
cãi một hướng dẫn hành chính có thể bị kiện hay không, gần đây, Luật
Thủ tục hành chính đã bổ sung trong Điều 2 như sau: các hướng dẫn
hành chính như gợi ý việc thực hiện các chính sách, các bước tiến hành
trong việc xây dựng, kinh doanh phải bảo đảm được tính tính tự nguyện
của đối tượng khi thực hiện. Một hướng dẫn sẽ không còn là hướng dẫn
khi nó mang tính bắt buộc phải thực hiện. Như vậy, các tòa án địa
phương trong từng trường hợp cụ thể có thể xem xét một hướng dẫn
hành chính dưới dạng thông báo, cảnh báo hoặc chỉ dẫn có thỏa mãn
điều kiện của một quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện hay
không.
Hai là, về việc phán quyết tính hợp pháp của các văn bản quy phạm
pháp luật hành chính, mặc dù trong luật không quy định rõ tòa án có
thẩm quyền hay không, nhưng Điều 81 Hiến pháp Nhật Bản cũng
khẳng định rõ: Tòa án tối cao là tòa án có thẩm quyển cuối cùng có
quyền phán quyết bất kể đạo luật, pháp lệnh, nghị định hay quy định
nào có hợp hiến hay không. Như vậy, mặc dù không có Tòa án Hiến
pháp, Nhật Bản cũng thừa nhận quyền tài phán hiến pháp được trao cho
tòa án tối cao. Về nguyên tắc, người dân không thể khởi kiện một quy
phạm ra tòa án; tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính
cụ thể, tòa án có quyền xem xét tính hợp hiến và hợp pháp của các quy
phạm mà dựa vào đó quyết định bị kiện được ban hành. Thẩm quyền
phán quyết cuối cùng thuộc về Tòa án tối cao.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét