Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

“Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả gia công xuất khẩu tại công ty cổ phần Giầy Hà Nội”

2. Đặc điểm gia công xuất khẩu ở Việt Nam.
ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều công ty hoạt động về gia công xuất khẩu
dới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động gia công quốc tế đang là một trong
những hình thức kinh doanh quốc tế phổ biến tại Việt Nam. Bởi dk kinh tế kỹ
thuật của Việt Nam còn nghèo nàn, lạc hậu nên khó có thể đầu t vào công ngh kỹ
thuật cha cao nh dệt may, da dầy, chế biến hàng nông sản, hải sản, chế biến hàng
công nghiệp nhẹ Do nền công nghiệp Việt Nam hoạt động ch a mấy hiệu quả,
bên cạnh đó các dây truyền thiết bị, công nghệ kỹ thuật còn lạc hậu, phẩm chất kỹ
thuật cha cao rất khó có thể thực hiện các thao tác sản xuất ra các sản phẩm đòi
hỏi về kỹ thuật cao, hàng công nghiệp nặng chế tạo máy móc công cụ hiện đại
phục vụ sản xuất
Ngành gia công xuất khẩu da giầy và các dụng cụ đề ra cũng là một ví dụ
minh hoạ điển hình cho hoạt động gia công quốc tế tại Việt Nam. Phần lớn các
công ty doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực gia công xuất khẩu da dới hình
thức nhập nguyên vật liệu chính từ nớc ngoài, sau đó tự cung cấp nguyên vật liệu
phụ rồi sản xuất ra sản phẩm, sau đó xuất khẩu trở lại nớc đặt gia công. Nhìn
chung với hình tức gia công xuất khẩu này, do chất lợng sản phẩm cha đợc cao,
sản phẩm trên thị trờng quốc tế cha cao cấp mà phần lớn là sản phẩm cấp thấp, do
đó phí gia công cha cao, thị trờng tiêu thụ quốc tế còn nhỏ hẹp. Chính vì vậy mà ln
hàng năm của các doanh nghiệp gia công xuất khẩu còn thấp và cha mấy ổn định.
Kéo theo đó là thu nhập của ngời lao động thấp, điều kiện đ phát triển sản xuất
cũng hạn chế.
Trong hoạt động gia côn quốc tế do có sự tham gia của các nhân tố nớc
ngoài, do đó có sự ảnh hởng của các thể chế chính trị, kinh tế quốc tế, pháp luật
quốc tế cũng nh pháp luật của các quốc gia. Bên cạnh đó văn hoá dân tộc các quốc
gia cũng có sự ảnh hởng đáng kể đến kết cấu sản phẩm và mỗi quan hệ hợp tác
kinh doanh giữa các chủ thể ở các nớc khác nhau.
Hoạt động gia công quốc tế đợc thực hiện giữa các chủ thể ở các nớc khác
thông qua các hợp đồng gia công quốc tế. Yừu tố về trình độ ngoài ngữ cũng nh
kinh nghiệm kinh doanh quốc tế cũng là nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo
hiệu quả và lợi ích cho mỗi doanh nghiệp. ở Việt Nam do trình độ, kinh nghiệm
trong hoạt động kinh doanh quốc tế còn hạn chế nên rất hay xảy ra sự thua thiệt
trong khi ký kết và thực hiện hợp đồng. Đồng tiền thành toán trong hoạt động gia
công quốc tế là ngoại tệ mạnh, hình thức thành toán cũng đợc thực hiện theo thể
lệ, tập quán quốc tế
Công ty c phần giầy Hà Nội, là một công ty hoạt động trong lĩnh vực gia
công xuất khẩu giầy da và các vật dụng đợc sản xuất từ da, nên cũng chịu ảnh h-
ởgn chung bởi các đặc điểm của hoạt động gia công quốc tế tại Việt Nam. Bên
cạnh những đặc điểm chung của nền gia công quốc tế, công ty cổ phần giầy Hà
Nội còn có một số các đặc điểm chung của nền gia công quốc tế, công ty c phần
giầy Hà Nội còn có một s các đặc điểm riêng trong quá trình hoạt động của mình.
Hoạt động gia công xuất khẩu của công ty, đơn thuần là hoạt động nhận
nguyên vật liệu từ nớc ngoài sau đó sản xuất ra sản phẩm đem trả cho bên đặt gia
công rồi thu cới phí gia công.
Trình độ kỹ thuật, dây truyền thiết bị lạc hậu, trình độ quản lý cũng nh sản
xuất của cán bộ công nhân viên còn yếu kém. Tuy nhiên sản phẩm gia công của
công ty cũng có một số những sản phẩm cao cấp đợc các nớc ý, Hàn Quốc, Thái
Lan u chuộng.
Hoạt động gia công xuất khẩu của công ty đựơc thực hiện một cách thụ
động, thị trờng, đối tác đặt gia công còn hạn chế. Hầu hết sản lợng gia công của
công ty đều đợc nhận từ các đơn đặt hàng của 3 đối tác chính: Hàn Quốc, Thái
Lan, Italia, do họ chủ động đặt gia công với công ty.
Cớc phí cho mỗi sản phẩm gia công của công ty còn thấp do chất lợng, mẫu
mã cha cao, dẫn đến lợi nhuận và thu nhập của cán bộ công nhân viên của công ty
còn thấp dẫn đến khó cải thiện và phát triển sản xuất cũng nh mở rộng chiến lựơc
kinh doanh của công ty.
II: Khái quát chung về hiệu quả gia công xuất khẩu.
1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh.
Do điều kiện lịch sử và giác độ nghiên cứu khác nhau mà có nhiều quan
điểm khác nhau về hiệu quả. Nếu nh trớc đây, ngời ta thờng đồng nhất khái niệm
hiệu quả và kết quả điều đó có ý nghĩa là hiệu quả kinh doanh đạt đợc trong một
thời kỳ nhất định chính bằng doanh thu đợc trong suốt thời kỳ ấy. Ngày nay, quan
điểm này không còn phù hợp theo quan điểm mới, ngòi ta tính chỉ tiêu hiệu quả
phải dựa trên sự so sánh giữa kết quả thu đợc với chi phí bỏ ra.
Do vậy, một doanh nghiệp khi điều kiện nhập khẩu, để đạt đợc hiệu quả
cao, thu đợc lợi nhuận lớn, tất yếu phải chú ý đến việc tối thiểu hoá chi phí . Gia
công xuất khẩu ở Việt Nam ngoài việc đẩy mạnh khai thác nguồn hàng nhập khẩu,
để phục vụ cho nc sản xuất, gia công, mặt khác tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Đẩy mạnh gia công xuất khẩu là việc
chú trọng tìm kiếm đối tác nớc ngoài đồng thời nâng cao hiệu quả sản xuất. Nh
vậy các đơn vị gia công xuất khẩu đặc biệt chú ý đến hiệu quả của việc gia công
hiệu quả kinh tế. Yếu tố đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng trởng và phát
triển bền vững.
Hiệu quả kinh tế của nền sản xuất xã hội phản ánh việc sử dụngcc nguồn
lực xã hội trong sản xuất thông qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đặc trng đợc xác
định bằng tỷ lệ so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả đạt đợc với chỉ tiêu
phản ánh chi phí đã bỏ ra hoặc nguồn lực đợc huy động vào sản xuất
Công thức khái quát nh sau:
Hiệu quả =
Kết quả
Chi phí
Trong đó:
- Kết quả kinh doanh đợc xác định bằng chỉ tiêu thể hiện mục tiêu kinh
doanh cần đạt đợc nh doanh số bán ra, lợi nhuận, thu nhập.
- Chi phí đợc xác định bằng chỉ tiêu khác nhau, tuỳ thuộc vào yêu cầu đối t-
ợng phân tích. Cụ thể là khi phân tích hiệu quả gia công nh chi phí mua hàng, chi
phí vận chuyển, bốc xếp, chi phí mua bảo hiểm, chi phí trả lãi tiền vay, lu kho, chi
phí sản xuất, gia công các sản phẩm.
- Hiệu quả là chỉ tiêu đã đợc đề cập ở trên, có nghĩa là một đơn vị chi phí bỏ
ra sẽ thu đợc bao nhiêu đơn vị kết quả. Đơn vị tính %.
Ngoài ra còn nhiều những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của một công ty trong một giai đoạn, thòi kỳ nhất định trên cơ sở hiệu
quả kinh tế.
2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả gia công xuất khẩu.
Trên thực tế, về hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, có rất nhiều các
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp trong một
giai đoạn, thời kỳ nhất định. Tuy nhiên về hoạt động gia công xuất khẩu nói chung
và tình hình hoạt động gia công xuất khẩu ở công ty cổ phần giầy Hà Nội nói
riêng, tôi chỉ đa ra một số các chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả hoạt động gia công
xuất khẩu của công ty nh:
2.1. Tỷ xuất lợi nhuận trên tổng doanh thu trong 1 năm của công ty:
Nếu gọi:
R
i
: Là doanh thu của công ty ở năm i

i
: Là lợi nhuận tại năm i
P

i
: Là tỷ xuất lợi nhuận trên doanh thu tại năm i (đơn vị tính %)
Ta có:
%100.
'
i
i
R
P

=
Chỉ tiêu này nói lên tỷ suất lợi nhuận sẽ đạt bao nhiêu phần trăm khi doanh
thu và lợi nhuận của công ty trong 1 năm là: R và . Nói cách khác, đây là sự so
sánh về phần trăm lợi nhuận trên tổng doanh thu của công ty tại một năm nhất
định. Chỉ tiêu này đánh giá về hiệu quả hoạt động của công ty, lợi nhuận thu đợc
sẽ đạt là bao nhiêu phần trăm so với doanh thu. Tức là đánh giá hiệu quả về lợi
nhuận của công ty có đạt đợc mức tiêu chuẩn tối thiểu so với tổng giá trị hàng đã
bán hay không.
2.2. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng giá trị sản xuất công nghiệp:
Chỉ tiêu này nói lên phần trăm lợi nhuận của công ty so với tổng giá trị sản
phẩm sản xuất ra trong một năm.
Công thức:
%100.
'
i
i
i
GTSXCN


=
Trong đó:

i
: Là lợi nhuận tại năm i
GTSXCN: Là tổng giá trị hàng đợc sản xuất ra tại năm i.


i
: Tỷ suất lợi nhuận trên tổng giá trị sản xuất công nghiệp ở năm i.
Phân tích chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động của công ty trong một
năm có đạt hay không. Nghĩa là lợi nhuận thu đợc so với chi phí sản xuất ra sẽ đạt
bao nhiêu phần trăm, từ đó đánh giá hiệu quả trong quá trình hoạt động sản xuất
của công ty trong năm đó.
2.3. Chỉ tiêu tốc độ chu chuyển vốn trên một năm.
Chỉ tiêu này muốn nói lên thời gian hoạt động hay tốc độ quay vòng vốn lu
động của công ty trong một năm đạt bao nhiêu lần.
Công thức:
i
i
i
VLD
GTSXCN
L
=
Trong đó; VLd
i
: là tổng số vốn lu động tại năm i
GTSXCN
i
: Là giá trị sản xuất công nghiệp tại năm i.
L
i
: Số vòng chu chuyển vốn cố định trong năm i.
Do tổng doanh thu của công ty còn bao gồm cả hàng tồn kho của những
năm trớc, do đó để chính xác hơn trong quá trình đánh giá hiệu quả hoạt động của
công ty tại một năm, ngời ta lấy tổng giá trị sản xuất công nghiệp ra làm tiêu thức
tính.
Tốc độ chu chuyển vốn lu động của công ty cũng là một chỉ tiêu đánh giá
về hiệu quả quay vòng vốn cũng nh hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty tại một thời kỳ nhất định. Nói cách khác là sự đánh giá hiệu quả trong
quá trình hoạt động đầu t của công ty. Việc phân tích so sánh tỷ lệ tổng giá trị
hàng đợc sản xuất ra với vốn lu động của công ty trong năm cho thấy hiệu quả
hoạt động sản xuất của công ty diễn ra nhanh hay chậm thời gian thực hiện quá
trình gia công cho một lô hàng dài hay ngắn. Nếu tốc đọ quay vòng vốn càng lớn,
tức là việc tực hện gia công diễn ra nhanh, thu hồi vốn sớm thì thể hiện hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh càng cao và ngợc lại.
Việc phân tích, đánh giá hiệu quả gia công xuất khẩu theo từng thời kỳ sản
xuất kinh doanh đợc tính toán chủ yếu dựa vào hệ thống các chỉ tiêu trên. Song khi
kết thúc công việc tính toán đó, ta cần so sánh giữa số thực hiện với kế hoạch, giữa
các thời kỳ với nhau, xác định số chênh lệch, từ đó đa ra kết luận công ty hoạt
động có hiệu quả hay không riêng với chỉ tiêu lợi nhuận còn xác định đợc mức độ
tăng giảm trong kỳ, nhờ đó doanh nghiệp gia công xuất khẩu có thể tìm ra biện
pháp hữu hiệu để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình hơn.
Việc đánh giá hiệu quả hoạt động gia công xuất khẩu của công ty không chỉ
dựa trên một chỉ tiêu, mà cần phải đánh giá trên cơ sở tổng hợp các chỉ tiêu để có
thể đa ra đợc kết quả chính xác và đầy đủ.
3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả gia công xuất khẩu:
Gia công xuất khẩu không còn là hoạt động mới mẻ ở Việt Nam hiện nay.
Tuy nhiên nó đóng vai trò rất quan trọng vào nền kinh tế quốc dân cũng nh công
tác hoạt động kinh tế đối ngoại với Việt Nam hiện nay. Nâng cao hiệu quả gia
công xuất khẩu là nâng cao năng lực hoạt động của doanh nghiệp trên thơng trờng
quốc tế, tạo nền móng cơ sở kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động kinh doanh
quốc tế, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động gia công quốc tế cũng là nâng cao
lợi nhuận cho doanh nghiệp, tạo điều kiện để doanh nghiệp gia công xuất khẩu
phát triển lớn mạnh, đóng góp vào nền kinh tế quốc dân nhiều hơn, góp phần phát
triển kinh tế đất nớc.
Hiệu quả gia công xuất khẩu chính là hiệu quả của hoạt động kinh doanh
quốc tế, song nó bó hẹp trong gia công quốc tế. Do đó ta có thể khẳng định, hiệu
quả gia công quốc tế là một con số tơng đối, một phần phản ánh kim ngạch xuất
nhập khẩu, một phần phản ánh kết quả hoạt động gia công quốc tế phản ánh quy
mô thì hiệu quả phản ánh về chất lợng.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển thì cần thiết phải
hoạt động có hiệu quả, nâng cao hiệu quả hoạt động gia công xuất khẩu là điều
cấp bách của các doanh nghiệp gia công quốc tế, đ đảm bảo cho sự phát triển
trong quan hệ hợp tác, gôia lu kinh tế với thế giới. Để có thể mở rộng quy mô
cũng nh thị phần của mình, đầu t cải tiến kỹ thuật công nghệ và trình độ quản lý
cũng nh kinh nghiệm hoạt động kinh doanh quốc tế, công ty cần thiết phải nâng
cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất cũng nh hoạt động kinh doanh quốc tế của
mình.
Nâng cao hiệu quả là con đờng có lợi nhất để thu lợi nhuận từ hoạt động gia
công xuất khẩu, mà cần đến rất ít vốn. Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả hoạt động
gia công xuất khẩu của mình, công ty còn tạo dựng, khẳng định uy tín, sức mạnh
cạnh tranh của mình trên thơng trờng quốc tế nói chung và trong nớc nói riêng.
Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động gia công xuất khẩu do thực
trạng nền sản xuất công nghiệp trong nớc còn non kém, kỹ thuật, công nghệ lạc
hậu, tay nghề sản xuất của ngời lao động cha thực sự cao, vốn đầu t ít và hiệu quả
đầu t cũng nh hoạt động sản xuất kinh doanh còn thấp. Do vậy, để có thể tốn tại và
phát triển quy mô, chất lợng hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, gia công
quốc tế nói riêng, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc dân cả về quy mô lẫn cơ
cấu thì các doanh nghiệp nói chung, công ty cổ phần giầy nói riêng phải nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình lên cao hơn nữa
Chơng II
Thực trạng nâng cao hiệu quả hoạt động gia
công xuất khẩu ở Công ty cổ phần giày hà nội
I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần
giày hà nội.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần giày Hà
Nội.
Công ty cổ phần giầy Hà Nội tiền thân là một phân xởng của nhà máy quốc
phòng X40 trực thuộc Sở công nghiệp Hà Nội, chuyên sx hàng may mặc, găng tay,
giây và các dụng cụ quân nhu, quân khí nh dây lng, bao súng. Trong suốt thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ, phân xởng này là một đơn vị hàng đầu của nhà máy X40.
Do nhu cầu tiêu dùng cho an ninh quốc phòng ngày càng tăng, do chuẩn bị gấp rút
kháng chiến chống Mỹ vào giai đoạn cuối, đòi hỏi phải cung cấp nhiều hơn nữa
các dụng cụ quân trang , quân khí do đó, sự cấp thiết cần phải tách riêng phân x-
ởng này thành một xí nghiệp riêng biệt để có thể phát huy, tận dụng tối đa khả
năng sản xuất của phân xởng. Năm 1968, đợc sự nhất trí của sở công nghiệp Hà
Nội và UBND thành phố Hà Nội đã quyết định tách phân xởng này thành xí
nghiệp giầy da Hà Nội.
Trong suốt thời giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, xí nghiệp giầy da Hà Nội
luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, cung cấp đầy đủ những dụng cụ
quân trang, quân dụng cho lực lợng quốc phòng và an ninh góp phần thúc đầy
nhanh hơn công cuộc giải phóng đất nớc. Sau khi miền nam hoàn toàn giải phógn.
Trong thời kỳ miền bắc xây dựng xh chủ nghĩa, với cơ chế tập trung bao cấp, để
phù hợp với cơ chế kinh tế hiện hành, UBND thành phố Hà Nội đã quyết định đổi
xí nghiệp thành Công ty giầ da Hà Nội theo quyết định số 1538/QĐ UBND ngày
2/8/1978 của UBND thành phố Hà Nội. Trong thời kỳ này nhiệm vụ của Công ty
trực tiếp là sản xuất găng tay bảo hộ lao động, giầy và các đồ quân nhu quân dụng
phục vụ cho quốc phòng an ninh cũng nh phục vụ đời sống lao động, sản xuất giai
đoạn này, do quan hệ giữa Việt Nam với Liên xô và các nớc XHCN đông âu phát
triển mạnh mẽ, có sự giao lu bền vững về mặt kinh tế nhờ đó mà Công ty có các
bạn hàng ngoài nớc thờng xuyên có đơn đặt hàng sản xuất các sản phẩm găng tay,
vật dụng bảo hộ lao động, giầy dép da Đây chính là tiền đề trong quá trình sản
xuất kinh doanh xuất khẩu của Công ty. Những bạn hàng quen thuộc của Công ty
thời gian này là: Liên Xô, Tiệp Khắc, Đức, Mông Cổ, Ba Lan
Sự hợp tác kinh tế với nớc ngoài đã góp phần củng cố về mặt sản xuất kinh
doanh của Công ty đặc biệt là về công nghệ, kỹ thuật sản xuất cũng nh và chủng
loại và chất lợng sản phẩm. Về mặt chất lợng, để có thể xuất khẩu đợc đòi hỏi sản
phẩm sản xuất ra phải đạt phẩm chất tốt, phù hợp về mẫu mã, chủng loại. Nếu nh
trớc đây Công ty chỉ sản xuất để phục vụ lực lợng quốc phòng và an ninh thì nay
sản phẩm sản xuất ra đã đợc đa dạng hoá và phục vụ nhiều đối tợng nh: Hàng
quốc phòng, Hàng nội địa, Hàng xuất khẩu. Tuy vậy hàng quốc phòng vẫn chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm sản xuất ra của Công ty do nhu cầu bảo vệ, gìn
giữ tổ quốc rất cao và nó phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế thời điểm đó.
Từ năm 1982 do sự phồn thịnh của hệ thống các nớc XHCN Công ty càng
có nhiều đơn đặt hàng và việc sản xuất đẻe xuất khẩu thời gian này Công ty chủ
yếu là nhận các hợp đồng đặt gia công và thực hiện công việc gia công xuất khẩu
với quy mô ngày càng lớn, đảm bảo nhiệm vụ sản xuất ổn định trong thời gian dài.
Đây là khởi điểm cho thời kỳ sôi động của hoạt động gia công xuất khẩu của Công
ty và là một bớc ngoặt quan trọng trong sự phát triển của Công ty. Trong suốt giai
đoạn này cơ cấu về sản phẩm của Công ty đã có sự thay đổi rõ rệt, chuyển từ sản
xuất hàng quốc phòng sang hàng xuất khẩu là chủ yếu. Với 90% sản phẩm ra là để
xuất khẩu, đảm bảo cho Công ty có việc làm lâu dài và cải thiện cũng nh phát huy
nang lực sản xuất của mình. Cơ sở để đảm bảo sự ổn định sự phát triển của Công
ty và ngày càng có nhiều các đơn đặt hàng đến từ các nớc balan, Liên Xô, Đức
đặc biệt là các nớc nh áo, Tiệp với số lợng hợp đồng lớn và quy mô hợp đồng cao,
có khi đến hàng triệu đơn vị sản phẩm.
Đến đầu thập kỷ 90 cũng là lúc hệ thống các nớc XHCN tan rã, kết thúc cơ
chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, Công ty mất đi sự nâng đở của Nhà nớc và
mất mát lớn nhất đó là mất đi những khách hàng quan trọng chiếm vị trí chiến lợc
trong quá trình phát triển của Công ty. Thời kỳ này Công ty đã trải qua bao thăng
trầm và rơi vào tình trạng hết sức khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Đợc sự hỗ trợ của cấp trên, cộng với những nổ lực của chính bản thân, Công ty đã
vợt qua đợc những khó khăn, đợc tình trạng suy thoái khủng hoảng trong ngành
giầy da nói chung và dần phục hồi năng lực sản xuất của mình. Đến năm 1997
Công ty đã cải thiện đợc hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng nh về kỹ thuật công
nghệ sản xuất. Cụ thể là Công ty đã có 583 máy sản xuất đồ da với 11 chủng loại
máy khác nhau, một dây truyền sản xuất giầy nữ hoàn chỉnh, một dây truyền sản
xuất cặp túi cao cấp, 682 lao động, 17.500 m
2
đất, nhà xởng kho tàng vốn lu
động đã đạt đến 1286 tỷ đồng.
Ngày 30/12/1998 UBND thành phố quyết định đổi Công ty giầy Hà Nội
thành Công ty cổ phần giầy Hà Nội theo quyết định sóo 5652/UBND thành phố
Hà Nội với số vốn điều lệ là 1,868 tỷ đồng. Sự chuyển đổi này hoàn toàn phù hợp
với hoàn cảnh thực tế nền kinh tế thị trờng vừa có thể là động lực thúc đầy sự phát
triển mạnh trong hoạt động gia công xuất khẩu của Công ty. Đến nay hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty chỉ đơn thuần là gia công với số lợng lớn nhất là
ý, Thái Lan, Hàn Quốc. Ngay từ khi chuyển thành Công ty cổ phần giầy Hà Nội,
số lợng sản phẩm sản xuất ra để xuất khẩu tăng vọt và cũng có nhiều cải thienẹ về
hệ thống công nghệ kỹ thuật sản xuất. Là một Công ty vững mạnh trong ngành sản
xuất đồ da, hiện Công ty đứng thứ 3 tại Hà Nội Công ty cổ phần giầy Hà Nội đã
góp phần không nhỏ trong sự phát triển nên fkt đất nớc, đóng góp đáng kể vào nền
kinh tế quốc dân.
Trải qua hơn 30 năm kể từ khi thành lập đến nay, Công ty cổ phần giày Hà
Nội đã gặp phải biết bao thăng trầm cùng sự hng thịnh và suy thoái nói chung của
ngành da giầy nói chung. Sau nhiều lần chuyển đối về cơ cấu hình thức Công ty,
Công ty cổ phần giầy Hà Nội đã dần khắc phục đợc những khó khăn và phát huy
vai trò của mình trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân. Là

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét