Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

ĐỊNH HƯỚNG VIỆC SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM SẮP TỚI

Đề án môn học
nặng tính sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; đa số lao động nông thôn chưa qua đào
tạo, kỹ năng còn thấp nên khả năng ứng dụng khoa học công nghệ vào thực
tiễn còn thấp; bên cạnh đó là môi trường kinh tế- văn hóa- xã hội nông thôn
chưa thực sự thay đổi theo hướng phát triển bền vững trên lộ trình công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước…
III) Các nhân tố tác động tới số lượng và chất lượng lao động nông thôn.
1) Ảnh hưởng đến số lượng lao động nông thôn
1.1) Dân số
Dân số được coi là yếu tố cơ bản quyết định số lượng lao động: quy
mô và cơ cấu dân số có ý nghĩa quyết định đến quy mô và cơ cấu nguồn lao
động. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến biến động dân số là phong tục, tập
quán của từng nước; trình độ phát triển kinh tế; mức độ chăm sóc y tế và
chính sách của từng nước đối với vấn đề khuyến khích hoặc hạn chế sinh
đẻ. Từ đó nó ảnh hưởng đến quy mô dân số, đến nguồn lao động. Tình hình
tăng dân số trên thế giới hiện nay có sự khác nhau giữa các nước. Nhìn
chung các nước phát triển có mức sống cao thì tỷ lệ tăng dân số thấp,
ngược lại ở những nước kém phát triển thì tỷ lệ tăng dân số lại cao. Mức
tăng dân số bình quân của thế giới hiện nay là 1,8%, ở các nước Châu Âu
thường ở dưới mức 1% trong khi đó ở các nước Châu Á là 2-3% và các
nước Châu Phi là 3-4%. Hiện nay ba phần tư dân số thế giới sống ở các
nước đang phát triển, ở đó dân số tăng nhanh làm cho mức sống dân cư
không được cải thiện và tạo ra áp lực lớn trong việc giải quyết việc làm.
Ở nước ta, tỷ lệ tăng dân số ở khu vực nông thôn thường cao hơn khu
vực thành thị và tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 ở nông thôn cao gấp đôi so với
thành thị (24% so với 13%), điều này tác động đến quy mô và cơ cấu lao
động, đặc biệt là cơ cấu lao động khu vực thành thị và nông thôn.
Do đó kế hoạch dân số đi đôi với phát triển kinh tế là vấn đề quan tâm
của các nước đang phát triển.
Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
5
Đề án môn học
1.2 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
Dân số trong độ tuổi lao động phản ánh khả năng lao động của nền
kinh tế nhưng không phải tất cả những người trong độ tuổi lao động đều
tham gia lực lượng lao động. Do đó, cung lao động sẽ phụ thuộc dân số
trong độ tuổi lao động tham gia lao động và được xem xét qua chỉ tiêu tỷ lệ
tham gia lực lượng lao động.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là tỷ số phần trăm giữa số người đủ
15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động trên dân số đủ 15 tuổi trở lên.
Ở Việt Nam, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động vào khoảng 50%, mặt
khác lao động nông thôn còn gồm những người ngoài độ tuổi lao động
tham gia vào lao động sản xuất nên tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu
vực nông thôn tương đối cao.
1.3 Thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp
Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao
động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền
công nhất định.
Tỷ lệ thất nghiệp được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng số người
thất nghiệp và tổng số nguồn lao động. Nhưng đối với các nước đang phát
triển thì tỷ lệ thất nghiệp này chưa phản ánh đúng sự thực về nguồn lao
động chưa sử dụng hết. Trong thống kê thất nghiệp ở các nước đang phát
triển, số người nghèo thường chiếm tỷ lệ rất nhỏ và khi họ thất nghiệp thì
họ có gắng không để thời gian kéo dài. Bởi vì họ không có các nguồn lực
dự trữ, họ phải chấp nhận làm việc ở mọi mức tiền công nếu có. Do đó ở
các nước đang phát triển để biểu hiện tình trạng chưa sử dụng hết lao động
người ta dùng khái niệm thất nghiệp hữu hình và thất nghiệp trá hình. Thất
nghiệp trá hình gồm bán thất nghiệp và thất nghiệp vô hình. Trong đó thất
nghiệp trá hình là biểu hiện chính của tình trạng chưa sử dụng hết ở các
nước đang phát triển. Họ là những người có việc làm trong khu vực nông
thôn hoặc thành thị không chính thức nhưng làm việc với năng suất thấp,
Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
6
Đề án môn học
họ đóng góp rất ít hoặc không đáng kể vào sản xuất.Vấn đề khó khăn là
không đánh giá được chính xác nguồn lao động chưa sử dụng hết dưới hình
thức bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp vô hình.
Ở khu vực nông thôn, thất nghiệp trá hình chủ yếu tồn tại dưới dạng
thiếu việc làm. Nguyên nhân là do giới hạn đất đai nông nghiệp; do khu
vực kinh tế phi nông nghiệp nông thôn chậm phát triển. Mức độ thiếu việc
làm ở nông thôn càng trầm trọng hơn khi chúng ta xem xét tới tính thời vụ
việc làm. Chẳng hạn ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các chuyên
gia kinh tế, trong thời gian mùa vụ, một nông dân làm việc 11 giờ/ ngày
trong khi đó ở thời kỳ nông nhàn chỉ làm viêc 3 giờ/ ngày.
2. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng lao động nông thôn.
Số lượng lao động mới chỉ phản ánh được mặt lượng của sự đóng góp
của lao động nông thôn vào phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
Để phản ánh đầy đủ đóng góp của lao động nông thôn, chúng ta phải xem
xét lao động nông thôn dưới góc độ chất lượng. Chất lượng lao động có thể
nâng cao nhờ giáo dục, đào tạo; sức khỏe của người lao động và nâng cao
tính kỷ luật lao động.
2.1 Giáo dục và cải thiện chất lượng lao động nông thôn
Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập của con người
nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng con người trong suốt cả cuộc đời.
Giáo dục gồm giáo dục cơ bản và giáo dục dạy nghề. Giáo dục cơ bản
nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản để phát triển năng lực cá nhân.
Giáo dục dạy nghề vừa giúp người học có kiến thức và đồng thời còn giúp
nâng cao tay nghề, kỹ năng và chuyên môn. Với mỗi trình độ đào tạo nhất
định, người được đào tạo biết họ sẽ phải đảm nhận công việc gì? Yêu cầu
kỹ năng cũng như chuyên môn nghề nghiệp phải như thế nào?
Vai trò của giáo dục với việc nâng cao chất lượng lao động thể hiện:
Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
7
Đề án môn học
• Giáo dục là cách thức để tăng tích lũy vốn con người đặc biệt là tri
thức và sẽ giúp cho việc sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp thu công nghệ mới
do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.
• Giáo dục tạo ra lực lượng lao động có trình độ, chuyên môn và kỹ
năng làm việc với năng suất cao, là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững.
• Giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để
người dân đặc biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng
cường sức khỏe, dinh dưỡng. Chẳng hạn tỷ lệ tử vong của trẻ em giảm
xuống, tỷ lệ dinh dưỡng trẻ em tăng lên cùng với học vấn của cha mẹ…
Với ý nghĩa trên giáo dục còn góp phần vào việc bổ sung cho các dịc vụ y
tế.
2.2 Dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe và cải thiện chất lượng lao động
Sức khỏe của người lao động thường được đánh giá ở thể lực (chiều
cao, cân nặng). Điều này lại phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và chăm sóc
sức khỏe. Ngoài ra đối với người đang làm việc, sức khỏe của họ còn phụ
thuộc vào dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường xuyên và chính sách bảo
hiểm y tế đối với người lao động.
Sức khỏe có tác động tới chất lượng lao động cả hiện tại và tương lai.
Người lao động có sức khỏe tốt có thể mang lại những lợi nhuận trực tiếp
hoặc gián tiếp bằng việc nâng cao sức bền bỉ, dẻo dai và khả năng tập trung
cao trong khi làm việc. Việc nuôi dưỡng và chăm sóc sức khỏe tốt cho trẻ
em sẽ là yếu tố làm tăng năng suất lao động trong tương lai, giúp trẻ em
phát triển thành những người khỏe về thể chất , lành mạnh về tinh thần.
Hơn nữa điều đó còn giúp trẻ em nhanh chóng đạt được những kỹ năng, kỹ
xảo cần thiết cho sản xuất thông qua giáo dục ở nhà trường. Ngoài ra
những khoản chi cho sức khỏe còn làm tăng nguồn nhân lực về mặt số
lượng bằng việc kéo dài tuổi thọ lao động.
Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
8
Đề án môn học
2.3 Tác phong công nghiệp, tính kỷ luật của người lao động và chất
lượng lao động
Bên cạnh hai yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động là trình độ, kỹ
năng và sức khỏe người lao động, thì hiệu quả công việc còn liên quan đến
tác phong, tinh thần, thái độ và tính kỷ luật của người lao động.
Theo Bộ luật Lao động Việt Nam: Kỷ luật lao động là những quy định
về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuât, kinh doanh
thể hiện trong nội quy lao động.
Trong khu vực thành thị, điều kiện làm việc ngày càng có xu hướng
hiện đại hóa. Trong các hoạt động kinh tế, sự phối hợp giữa các cá nhân
trong cùng một tổ chức và giữa các tổ chức với nhau có xu hướng gia tăng
và đòi hỏi tính nhịp nhàng, tính hiệu quả…Điều này đòi hỏi người lao động
phải có tác phong công nghiệp, tinh thần tự chủ sáng tạo, thái độ hợp tác và
tính kỷ luật chặt chẽ.
III) Vai trò của lao động nông thôn đối với tăng trưởng và phát
triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn
1)Vai trò hai mặt của lao động nông thôn trong quá trình phát triển
kinh tế nông nghiệp nông thôn
Lao động có vai trò đặc biệt hơn các yếu tố khác vì lao động nông
thôn có vai trò hai mặt.
a)Trước hết lao động nông thôn là một nguồn lực sản xuất chính và
không thể thiếu được trong các hoạt động kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Với vai trò này, lao động nông thôn luôn được xem xét ở hai khía cạnh đó
là chi phí và lợi nhuận. Lao động nông thôn là yếu tố đầu vào, nó ảnh
hưởng tới chi phí tương tự như việc sử dụng các yếu tố sản xuất khác. Mặt
khác lao động nông thôn cũng bao gồm các lợi ích tiềm tàng theo nghĩa
góp phần làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống và giảm nghèo đói thông
qua chính sách ( tạo việc làm, tổ chức lao lao động có hiệu quả, áp dụng
công nghệ phụ hợp…)
Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
9
Đề án môn học
b)Vai trò của lao động nông thôn còn thể hiện ở khía cạnh thứ hai, đó
là lao động – một bộ phận của dân số, là người được hưởng thụ lợi ích của
quá trình phát triển. Mọi quốc gia đều nhấn mạnh đến mục tiêu “ phát triển
vì con người và coi đó là động lực của sự phát triển”. Trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội, hầu hết các nước đều đặt trọng tâm vào chiến lược
phát triển con người.
Việc nâng cao năng lực cơ bản của cá nhân người lao đôngh sẽ giúp
họ có nhiều cơ hội việc làm hơn. Khi thu nhập từ việc làm tăng, họ sẽ có
điều kiện cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng cuộc sống. Kết quả là
tăng nhu cầu xã hội, đồng thời tác động đến hiệu quả sản xuất trong điều
kiện nâng cao năng suất lao động.
2)Đánh giá vai trò của lao động nông thôn ở Việt Nam
Một trong những lợi thế của nền sản xuất nông nghiệp nông thôn nước
ta là lao động nhiều, giá lao động rẻ. Tuy nhiên, lao động nông thôn nước
ta vẫn chưa phải là động lực mạnh cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
nông nghiệp nông thôn.
Nguyên nhân của tình trạng này là do lao động nông thôn nhiều nhưng
lại có biểu hiện của sự “ dư thừa” hay tình trạng thiếu việc làm. Lao động
nông thôn với năng suất thấp, phần đóng góp của lao động nông thôn trong
tổng thu nhập còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế chậm phát
triển, các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng việc làm chậm
được cải thiện, bổ sung thậm chí còn suy giảm( như quỹ đất đai). Mặt khác
mối quan hệ lao động và thị trường lao động nông thôn chậm phát triển
cũng là nhân tố hạn chế vai trò của lao động nông thôn
Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
10
Đề án môn học
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY
I) Thực trạng sử dụng lao động nông thôn
1)Quy mô nguồn lao động nông thôn nước ta hiện nay
Năm 1990 dân số nông thôn có 53.1 triệu người, chiếm 80.5% dân số
cả nước, năm 2006 dân số nông thôn Việt nam có 61,3 triệu người chiếm
72,9%. Như vậy, sau 10 năm tỷ lệ dân số nông thôn mới giảm được 7.6
điểm phần trăm, tính bình quân, mỗi năm giảm chưa được 0.5 điểm phần
trăm, chứng tỏ tốc độ đô thị hóa của Việt nam còn chậm so với một số
nước láng giềng như Thái lan, Singapore, Malaysia.
Năm 2006 lao động nông thôn chiếm 75.4% tổng số lao động cả nước
(tương đương 33.6 triệu người) và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm là
1.6%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng việc làm của cả nước (2.3%) trong giai
đoạn 1996-2006.
Có thể nói, hầu như toàn bộ lao động nông nghiệp tập trung ở khu vực
nông thôn. Năm 2006 cả nước có 24,37 triệu lao động làm việc trong ngành
nông nghiệp, nhưng riêng khu vực nông thôn đã có 23,17 triệu người,
chiếm 95,1%. Nếu so với tổng lao động có việc làm của cả nước thì lao
động nông nghiệp nông thôn vẫn chiếm quá bán, khoảng 52%. Nhìn từ góc
độ chuyển dịch cơ cấu lao động ta thấy, giai đoạn 1996- 2006 tỷ lệ lao
động nông nghiệp nông thôn đã có chuyến biến, giảm từ 82,3% trong tổng
lao động nông thôn năm 96 xuống còn 69% năm 2006, bình quân mỗi năm
giảm được trên 1 điểm phần trăm, mức giảm tuy nhỏ so với một số nước
trong khu vực nhưng đó là sự nỗ lực của cả nền kinh tế.

Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
11
Đề án môn học
Bảng 1: Số lượng và cơ cấu lao động có việc làm theo 3 nhóm ngành chính
1996 2000 2005 2006
Cả nước
Số lượng(1000 người) 35385,9 38367,6 43452,4 44548,9
Cơ cấu (%) 100,0 100,0 100,0 100,0
Nông-lâm-ngư 70,0 65,3 56,7 54,7
Công nghiệp-xây dựng 10,6 12,4 17,9 18,3
Dịch vụ 19,4 22,3 25,4 27,0
Nông thôn
Số lượng (1000 người) 28553,4 30055,5 32930,7 33575,8
Cơ cấu (%) 100,0 100,0 100,0 100,0
Nông-lâm-ngư 82,3 79,0 71,2 69,0
Công nghiệp-xây dựng 6,8 8,3 14,0 14,8
Dịch vụ 10,9 12,7 14,8 16,1
Nguồn: Số liệu TK Việc làm - Thất nghiệp ở VN giai đoạn 1996- 2005
của Bộ LĐTBXH và số liệu LĐVL-TN năm 2006, Bộ LĐTBXH, đĩa CD.
Năm 2006, lao động nông nghiệp cả nước chiếm 75,4% tổng lao động
nhưng giá trị GDP được tạo ra từ ngành này lại thấp nhất, chiếm 18.7%.
Ngược lại, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp là 18% và trong ngành
dịch vụ là 27.1% nhưng tạo được giá trị GDP ở mỗi ngành trên 40%3. Các
con số trên đây cho thấy năng suất lao động trong ngành nông nghiệp là rất
thấp.
2)Chất lượng nguồn lao động nông thôn
Nội tại vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nước ta vẫn còn
chứa đựng nhiều mảng yếu. Trong quá trình tác động của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, những
mảng yếu đó càng bộc lộ rõ hơn. Một trong những mảng yếu đó là chất
lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Những cơ hội
đem lại cho người lao động trong lộ trình thực hiện các cam kết gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là việc làm tăng do sự xuất hiện
Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
12
Đề án môn học
nhiều nghề mới ở các lĩnh vực mới, khu vực mới; thị trường lao động phát
triển, sự di chuyển lao động giữa các vùng và lãnh thổ, giữa các doanh
nghiệp tăng cao. Người lao động Việt Nam vừa có thể tham gia sâu vào
quá trình phân công lao động quốc tế vừa có cơ hội để tiếp nhận khoa học
và công nghệ tiên tiến. Chúng ta đang có một lực lượng lao động xã hội rất
lớn. Nguồn lao động của Việt Nam hằng năm được bổ sung nhiều nhưng cơ
hội để họ có được việc làm bảo đảm thu nhập ổn định đời sống lại không
dễ dàng. Số lao động đã được đào tạo không chỉ chiếm tỷ lệ thấp mà còn
bất cập do chất lượng đào tạo kém; cơ cấu đào tạo bất hợp lý, mất cân đối
giữa đào tạo nghề và đào tạo ở cấp bậc đại học, cao đẳng. Thêm nữa, số đã
qua đào tạo đối với thanh niên ở khu vực nông thôn lại chiếm tỷ lệ rất thấp
so với khu vực đô thị. Quá trình đô thị hóa nông thôn đã làm gia tăng áp
lực về thiếu việc làm cho khu vực này thêm trầm trọng; đồng nghĩa với
việc gia tăng tỷ lệ chất lượng nguồn nhân lực thấp. Mâu thuẫn nội tại chất
lượng nguồn nhân lực nông thôn nước ta càng phát sinh thêm do chúng ta
chưa tìm ra được lối thoát về đào tạo để nâng cao chất lượng nhân lực cho
khu vực này. Hiện nay, hơn 78% lao động ở nước ta chưa qua đào tạo,
trong số đó 63% là lao động ở địa bàn nông nghiệp, nông thôn. Đây thực sự
là một số liệu đáng để chúng ta phải suy nghĩ và trăn trở. Đặc điểm dễ nhận
thấy ở người lao động của một nền sản xuất nông nghiệp có trình độ thấp ở
Việt Nam như hiện nay là vẫn mang nặng tính chất của người sản xuất nhỏ
lẻ, phân tán, năng lực ứng dụng khoa học - công nghệ và các tiến bộ kỹ
thuật vào thực tiễn rất hạn chế, nên đa số họ là những người thụ động, tư
duy cạnh tranh kém, tính tự do và manh mún cao. Từ đó thu nhập của họ
thấp, khả năng chuyển đổi nghề khi bị mất đất hoặc cơ hội tham gia vào
môi trường lao động công nghiệp đòi hỏi các kỹ năng và tính kỷ luật lao
động cao là không dễ dàng.
Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
13
Đề án môn học
Hiện nay nước ta có 10 triệu hộ nông dân với hơn 30 triệu lao động
trong độ tuổi, nhưng mới có 17% trong số đó được đào tạo chủ yếu thông
qua các lớp tập huấn khuyến nông sơ sài. Trong số 16,5 triệu thanh niên
nông thôn đang cần có việc làm ổn định thì chỉ có 12% tốt nghiệp phổ
thông trung học; 3,11% có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở
lên (thấp hơn 4 lần so với thanh niên đô thị). Với trình độ như vậy họ khó
có thể áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp có ứng dụng
công nghệ cao, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm hàng hóa nông sản trong
khu vực và cũng khó có thể tìm được việc làm ở các doanh nghiệp đòi hỏi
lao động phải qua đào tạo và đạt trình độ tay nghề cao. Do đó, nhiều nơi
sau khi chuyển ruộng đất cho sản xuất công nghiệp, nếu doanh nghiệp có
ưu tiên tuyển lao động trẻ cho các hộ mất đất thì họ cũng khó có thể đảm
nhận công việc kỹ thuật để đạt được mức thu nhập cao, nên dù có những cơ
hội chuyển đổi nghề, người lao động nông thôn (bao gồm cả thanh niên đến
tuổi lao động và người chủ gia đình bị mất đất) đều khó tiếp nhận những
nghề mới. Tình trạng nguồn lao động trình độ thấp, chưa được đào tạo nghề
(cả nghề nông và phi nông) cùng với sự thiếu kiến thức, tác phong sống và
tính kỷ luật, kỹ năng lao động trong lao động công nghiệp kém nên rất khó
đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng cao trước tốc độ của công nghiệp hóa
và hội nhập. Từ đó có thể thấy rằng, thu nhập của người lao động ở khu
vực nông thôn thấp và ngày càng cách xa ở khu vực đô thị. Những điểm
vừa nêu trên đây là một rào cản và thách thức lớn nhất trong giai đoạn hiện
nay đối với người lao động khu vực nông thôn.
Cũng cần phải nói đến một thực trạng có ảnh hưởng quan trọng đến
chất lượng nguồn nhân lực nông thôn là đội ngũ cán bộ cơ sở. Theo số liệu
điều tra thống kê năm 2006, cả nước có 81.300 công chức xã. Về trình độ
học vấn: có 0,1% chưa biết chữ; 2,4% có trình độ tiểu học; 21,5% trung
học cơ sở và 75% trung học phổ thông. Về trình độ chuyên môn: 9% cao
Võ Hà Phương - Kinh tế phát triển 47B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét