Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT

TRINH MINH TUAN
tình cảm, ý chí…). Nếu có nói đến những khổ ải mà Bác đã phải trải qua trong nhà tù, thì cũng nhằm
nói lên ý chí, nghò lực của Bác.
Đề bài yêu cầu trình bày cảm nhận của bản thân người làm bài, thực ra cũng là phân tích
“con người tinh thần” của Hồ Chí Minh trong tập thơ, có kết hợp với bình luận và nêu cảm nghó
của mình.
- Học sinh cần nắm vững nội dung cơ bản của tập Nhật kí trong tù, nhớ và chọn lọc những câu
thơ, bài thơ tiêu biểu thể hiện thế giới tinh thần phong phú, cao đẹp của Bác.
Điều quan trọng nữa là cần quan niệm cho đầy đủ về “con người tinh thần” của Bác qua tập
thơ. Nhật kí trong tù về cơ bản là một tập thơ “hướng nội”, bộc lộ con người tinh thần Hồ Chí Minh.
Hình tượng trữ tình bao trùm trong tập thơ là hình tượng chính con người Hồ Chí Minh. Con người
tinh thần của Bác hết sức phong phú, cao cả và đẹp đẽ, nhưng cũng rất bình dò, không xa lạ với mọi
người.
Để lập ý, có thể đi theo những hệ thống như: trí tuệ, tình cảm, ý chí hoặc dùng những khái
niệm có tính truyền thống như trí – nhân – dũng. Cũng có thể dựa vào ý một câu thơ của Hoàng
Trung Thông để nêu hai mặt thống nhất là “thép” và “tình”.
Không nên biến bài văn thành sự liệt kê các câu thơ trong một dàn ý có tính áp đặt hoặc
chung chung, mà không phân tích làm rõ bức chân dung thật sự sống động, giàu sức lay động, truyền
cảm của con người tinh thần Hồ Chí Minh trong Nhật kí trong tù.
B. DÀN BÀI
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
- Nhật kí trong tù, một tập thơ được viết ra dường như ngoài chủ đònh của tác giả, chỉ cốt để
“ngâm ngợi cho khuây” trong những tháng ngày mà tác giả của nó – nhà cách mạng, nhà yêu nước
vó đại Hồ Chí Minh – bò giam giữ trong nhiều nhà tù của bọn Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch ở
tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Nhưng tác phẩm ấy đã trở thành một sự kiện lớn trong lòch sử văn học
hiện đại Việt Nam, có sức lay động to lớn và lâu bền trong nhiều thế hệ độc giả trong và ngoài nước.
- Giá trò lớn của Nhật kí trong tù là ở nhiều mặt. Nhiều người đã nói đến giá trò phản ánh thời
đại, sức mạnh tố cáo hiện thực đen tối của chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch. Nhưng phải thấy rằng,
về cơ bản, Nhật kí trong tù là một tập thơ “hướng nội”. Tác giả viết trước hết để cho chính mình. Và
vì thế, hình tượng nổi bật và cũng là giá trò lớn lao nhất của tập thơ chính là hình tượng con người Hồ
Chí Minh. Bởi vậy, sách giáo khoa Văn 12 đã nhận đònh: “Có thể xem Nhật kí trong tù như một bức
chân dung tự họa con người tinh thần của Chủ tòch Hồ Chí Minh”.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Đọc Nhật kí trong tù, chúng ta được tiếp cận chân dung con người tinh thần của Hồ Chí Minh
thật phong phú, cao đẹp và sâu sắc, khó nói hết được. Dưới đây chỉ là một số phương diện nổi bật
trong “bức chân dung” ấy.
1. Khát vọng tự do:
a. Một nét tâm trạng nổi bật trong Nhật kí trong tù là nỗi nóng lòng, sốt ruột như lửa đốt,
khắc khoải ngóng trông về tự do của người tù Hồ Chí Minh. Mang trọng trách đại biểu cho phong
trào cách mạng Việt Nam tìm sang Trung Hoa để bàn bạc phối hợp hành động chống đế quốc, phát
xít, thế mà bỗng dưng vô cớ, Bác bò bọn mật vụ Quốc dân đảng bắt giữ, rồi bò giải đi hết nhà giam
này đến nhà tù khác, không được xét xử, không biết bao giờ được thả. Hồ Chí Minh thấm thía nỗi
đau khổ vô hạn của sự mất tự do:
Trên đời ngàn vạn điều cay đắng
TRINH MINH TUAN
Cay đắng chi bằng mất tự do
(Cảnh binh khiêng lợn cùng đi)
Đau khổ chi bằng mất tự do
(Bò hạn chế)
Nỗi sốt ruột nóng lòng nhiều khi thành sự bất bình, phẫn nộ, giận dữ:
Quảng Tây đi khắp, lòng oan ức
Giải đến bao giờ, giải tới đâu
b. Mặt khác, chúng ta cũng bắt gặp một con người hoàn toàn tự chủ về tinh thần, ung dung
tự tại, tâm trí như bay lượn trong bầu trời tự do, không tù ngục nào giam hãm được.
Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Và nhiều lần, Hồ Chí Minh thấy mình là “khách tự do”, thậm chí ung dung tự tại như một
“khách tiên” (Vào nhà lao huyện Tónh Tây, Trên đường, Đi Nam Ninh, Giải đi sớm, ). Đọc tập thơ,
chúng ta chứng kiến nhiều cuộc “vượt ngục” bằng tinh thần của người tù Hồ Chí Minh. Lúc thì
Người thả hồn mình theo vười vợi mảnh trăng thu, hoặc theo một cánh chim chiều, một vầng dương
buổi sớm, và nhất là, tâm hồn ấy tha thiết hướng về Tổ quốc, về đồng bào đồng chí, trong cả giấc
ngủ vẫn quyện với bóng cờ sao năm cánh.
2. Mộât trí tuệ, một tầm tư tưởng lớn:
a. Trí tuệ lớn thể hiện trong sự nhìn nhận hiện thực: Những bất công, vô lí, nghòch cảnh của
nhà tù Quốc dân đảng, nhìn rộng ra là cả một xã hội mục nát của nước Trung Hoa cũ dưới thời
Tưởng Giới Thạch).
Hơn thế nữa, từ những sự việc nhỏ, có khi là tầm thường, Hồ Chí Minh đã rút ra được
những khái quát, qui luật của đời sống, qua sự chiêm nghiệm của một con người thật từng trải, nên
có ý vò thâm trầm, sâu sắc.
+ Một sự nhìn nhận về bản chất “thiện” của con người và tác động của hoàn cảnh, của
giáo dục:
Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền.
Hiền dữ phải đâu là tính sắn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên.
(Nửa đêm)
+ Một chiêm nghiệm về Đường đời hiểm trở:
Núi cao gặp hổ mà vô sự,
Đường phẳng gặp người, bò tống lao.
Những nhận đònh về cuộc đời của con người từng trải ấy không hề có vò yếm thế hay hư
vô, mà luôn biểu hiện ý thức hành động, đặt lòng tin ở con người và hướng về cuộc sống.
Đi dường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
(Đi đường)
b. Trí tuệ lớn ấy là trí tuệ của một nhà cách mạng, có tầm nhìn xa rộng, nhận thức được
chiều hướng của lòch sử và do đó, nhìn thấu suốt tương lai. Dù trong cảnh tối tăm của nhà ngục –
cũng là hoàn cảnh khó khăn của thực tại lúc ấy, Người đã nhìn thấy ánh sáng của vầng dương chiếu
tỏa: Trong ngục giờ đây còn tối mòt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
(Buổi sớm)
TRINH MINH TUAN
Một cuộc chuyển lao mà người tù bò dựng dậy, giải đi từ lúc nửa đêm trên con đường xa
trong gió thu “trận trận hàn”, vậy mà bỗng chốc, khung cảnh đột ngột biến đổi: ánh ban mai quét
sạch bóng tối đêm tàn và người tù đi trong ánh sáng bình minh rực rỡ với hơi ấm bao la cả vũ trụ,
con người ấy không thể không thành thi nhân với thi hứng nồng nàn (Giải đi sớm). Cái nhìn biện
chứng về sự vận động của tự nhiên, của cuộc sống (Trời thu, Chiết tự) cùng với nhãn quan chính trò
xa rộng của nhà cách mạng đã tạo cơ sở cho niềm tin vững chắc vào tương lai.
3. Một trái tim lớn:
Trong bài thơ Bác ơi, Tố Hữu viết:
Bác ơi tim Bác mênh mông thế,
Ôm cả non sông, mọi kiếp người.
Đọc Nhật kí trong tù, điều mà ai cũng cảm nhận và rung động là tấm lòng nhân ái bao la,
tình cảm nồng nàn, cháy bỏng đối với đất nước, với nhân dân của Bác:
a. Tấm lòng ấy luôn nhớ về Tổ quốc và đồng bào đồng chí:
Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng,
Tin tức bên nhà bữa bữa trông.
(Tức cảnh)
Khi nghe tin ở Việt Nam có biến động – tin về cuộc nổi dậy của phong trào cách mạng
trong nước, Người phấn khởi mà lại xót xa vì:
Xót mình giam hãm trong tù ngục,
Chưa được xông ra giữa trận tiền.
Hình bóng Tổ quốc đã vào cả trong giấc ngủ không an của người tù ấy (Không ngủ được)
với hình ảnh ngôi sao năm cánh rất đẹp và thiêng liêng.
Đến lúc thoát khỏi nhà tù, từ trên ngọn núi Tây Phong, tâm hồn sáng trong như gương ấy chỉ
một lòng trông về Tổ quốc và đồng bào đồng chí (Tân xuất ngục, học đăng sơn).
b. Lòng nhân ái ở Bác Hồ là lòng nhân ái của một chủ nghóa nhân đạo vừa rộng lớn bao la,
vừa sâu sắc thấm thía. Tình thương ấy hướng trước hết vào những người lao khổ. Tấm lòng ấy nhạy
bén, đồng cảm sâu sắc với mọi nỗi khổ đau, bất hạnh mà con người phải chòu đựng hàng ngày trong
nhà tù (Cháu bé trong nhà lao Tân Dương, Một người tù cờ bạc vừa chết,, ). Bác gọi những người tù
cùng bò giam là “nạn hữu” (bạn tù). Bác cùng chia sẻ cảnh ngộ và nỗi niềm của họ, cùng đùa vui
trong cảnh ghẻ lở (“Mặc gấm bạn tù đều khách q, Gảy đàn trong ngục thảy tri âm”), thấu hiểu nỗi
lòng nhớ quê hương, nhớ nhà của họ (Người bạn tù thổi sáo). Tình thương ấy không xa rời cơ sở giai
cấp, nhưng nó mang tầm nhân loại rộng lớn phổ quát. Nhà thơ nữ Ấn Độ – Amrita Pritam đã viết về
Bác: “Người yêu thương nhân loại là ai đó, Bậc hiền nhân đó là ai?”.
c. Tâm hồn phong phú ấy đặc biệt nhạy cảm với thiên nhiên, rung động với cái đẹp. Đó thực
sự là một tâm hồn nghệ só lớn, vừa mang cốt cách cổ điển phương Đông, vừa có màu sắc hiện đại.
Tình yêu thiên nhiên là một phương diện rất quan trọng của tập Nhật kí trong tù. Dù bò giam
hãm trong ngục tù, tâm hồn Hồ Chí Minh vẫn vượt khỏi song sắt nhà giam để giao cảm với thiên
nhiên, từ ánh hồng ban mai, đám mây chiều, bông hoa hồng nở rồi tàn và nhất là trăng - người bạn
tri âm của Bác (Chiều tối, Ngắm trăng ). Trên các chặng đường chuyển lao là dòp để Người thả hồn
mình vào khung cảnh thiên nhiên. Mặc dù thân thể bò cùm trói, nhưng tâm hồn Bác thật sảng khoái,
tự do (“Vui say ai cấm ta đừng”). Nhiều bài thơ được viết trong cảnh đi đày, mà như được viết từ một
con người đang ung dung tự tại, một bậc hiền triết hòa đồng với thiên nhiên, vũ trụ (Chiều tối, Giải
đi sớm, Hoàng hôn).
4. Chất “thép” tuyệt vời thể hiện ở ý chí kiên đònh, nghò lực lớn lao, bền bỉ:
Bài thơ Đề từ của tập thơ Nhật kí trong tù đã khẳng đònh vai trò và sức mạnh của tinh thần
đối với sự nghiệp lớn (Muốn nên sự nghiệp lớn, Tinh thần cần phải cao”.
a. Chất “thép” trong Nhật kí trong tù thể hiện ở sự kiên đònh, vững vàng, chiến thắng mọi
gian khổ, vượt lên mọi hiểm nguy, “uy vũ bất năng khuất” trong suốt hơn một năm ròng bò đày ải nơi
TRINH MINH TUAN
ngục tù của bọn Tưởng Giới Thạch. Điều đáng chú ý là Bác Hồ luôn nhấn mạnh đến sự rèn luyện,
sự kiên trì của con người, đặc biệt là người cách mạng. Bởi chất “thép” không phải như một cái gì có
sẵn, được thiên phú cho những con người “siêu phàm”. Với Bác, mọi gian nan là điều kiện cho con
người rèn luyện thêm vững vàng, kiên đònh (“tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng”) và có vượt
qua được mọi tai ương, đau đớn mới trở nên sáng trong, cao đẹp (Nghe tiếng giã gạo, Bốn tháng rồi).
b. Chất “thép” ở Hồ Chí Minh không cần “lên giọng thép”, không cần lời thép, mà thường
toát ra một cách tự nhiên, bình dò trong tư thế ung dung, trong sự tự chủ cao độ của con người ở mọi
cảnh huống (Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh, Chiều tối, Giải đi sớm, Mới ra tù tập leo núi).
III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ:
Nhật kí trong tù là một bộ phận trong di sản tinh thần của Chủ tòch Hồ Chí Minh: Giá trò hàng
đầu của tập thơ thể hiện ở “bức chân dung tự họa con người tinh thần của Hồ Chí Minh”. Đó là chân
dung của một nhà cách mạng, một nhà yêu nước vó đại, cũng là một nhà nhân đạo chủ nghóa lớn,
một nhà văn hóa, một nhà thơ lớn. Đó là “con người Việt Nam đẹp nhất”, nhưng cũng là con người
của nhân loại, của mọi thời đại, “một con người đã qua một sự chắt lọc trong sáng nhất, đã được
nâng lên đến một tầm vóc lớn” (Phêlích Pita Rôtơrighết – nhà thơ Cu Ba).
(Theo Để ôn luyện lớp 12 – Nguyễn Văn Long)
Phân tích “bức chân dung tự họa” của Hồ Chí Minh” hiện lên qua các bài thơ Chiều tối, Giải
đi sớm và Mới ra tù, tập leo núi
A. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU ĐỀ:
Đây là mmọt đề Văn tổng hợp đòi hỏi vừa khả năng khái quát vấn đề vừa khả năng phân tích
từng tác phẩm cụ thể. Để thực hiện được yêu cầu của đề, không nên phân tích lần lượt từng bài thơ
mà nên rút từ các bài thơ những dẫn chứng sát hợp để minh họa cho các luận điểm về phẩm chất con
người Hồ Chí Minh. Một bài thơ có thể được dẫn ra nhiều lần để làm sáng tỏ những luận điểm khác
nahu, do vậy, khả năng viết trùng lặp rất dễ xảy ra. Để tránh khả năng này, mỗi lần dẫn thơ, người
viết chỉ nên khai thác một phương diện nhất đònh trong ý nghóa của nó vừa đủ chứng minh cho một
luận điểm nhất đònh. Những phương diện ý nghóa khác sẽ tiếp tục được khai thác trong những lần
dẫn sau. Thêm nữa, với từng luận điểm một, chỉ cần phân tích những dẫn chứng tiêu biểu nhất. Các
dẫn chứng ít tiêu biểu hơn có thể chỉ nói qua.
B. DÀN BÀI:
I. MỞ BÀI:
Các bài thơ đã nêu đều thuộc loại tác phẩm trữ tình. Bản chất của thơ trữ tình là tính chủ
quan. Ngoài nội dung phản ánh hiện thực khách quan (theo kiểu của thơ), thơ trữ tình chủ yếu bộc lộ
thế giới bên trong, thế giới tinh thần của người nghệ só. Hoàn toàn có cơ sở khi ta nói đến một thứ
chân dung tự họa của nghệ só – nhân vật trữ tình trong đó.
II. THÂN BÀI:
Qua các bài thơ trên, con người Hồ Chí Minh đã bộc lộ những phẩm chất cao đẹp nổi bật như
sau:
1. Đó là một con người có tinh thần thép vững vàng, “kiên trì”, “nhẫn nại” trước mọi thử
thách khốc liệt:
TRINH MINH TUAN
- Chiến thắng được những đọa đày thể xác, có đức tự chủ cao.
- Luôn có khát vọng sống chiến đấu vì dân tộc.
2. Đó là một con người có tâm hồn thật sự tự do:
- Luôn khao khát tự do.
- Luôn giữ được sự tự do tinh thần tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh, không bao giờ để cảnh
ngộ bi đát chế ngự suy nghó, cảm xúc của mình.
3. Đó là một con người có tình yêu cuộc sống sâu nặng, thể hiện lòng nhân ái bao la:
- Rất yêu thiên nhiên tạo vật; nâng niu từng biểu hiện nhỏ của cái đẹp trong đời.
- Rất quan tâm đến con người; mọi cảm xúc đều hướng tới con người.
4. Đó là một con người có hồn thơ phong phú, có tài năng văn học lớn:
- Dễ rung động trước cái đẹp, dù trong cảnh huống nào.
- Thể hiện niềm rung động ấy qua những vần thơ cô đọng, giàu sức biểu cảm, vừa có vẻ
đẹp cổ kính, vừa có vẻ đẹp hiện đại.
III. KẾT BÀI:
Bức chân dung tự họa cóa vẻ đẹp hoàn chỉnh. Các mảng màu (các phẩm chất con người)
thống nhất với nhau, hòa quyện với nhau.
(Thực hành Làm văn 12)
Tình cảm nhân đạo được biểu hiện trong tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh.
A. GI Ý CHUNG:
I. Giải thích khái niệm: Thế nào là nhân đạo?
II. Tình cảm nhân đạo được biểu hiện như thế nào trong Nhật kí trong tù?
III. So sánh, mở rộng, đánh giá:
a. So sánh với truyền thống nhân đọ của dân tộc.
b. So sánh với tinh thần nhân đạo thể hiện trong văn học cổ, văn học hiện thực phê phán
1930 -1945.
4. Tại sao Nhật kí trong tù lại thể hiện một chủ nghóa nhân đạo cao cả, sâu sắc như vậy?
B. GI Ý CỤ THỂ:
I. Thế nào là nhân đạo? (Giải thích khái niệm)
Lòng yêu thương, thông cảm đối với con người, căm ghét những thế lực chà đạp lên con
người, trân trọng, tin yêu, phát hiện những nét đẹp ở con người.
II. Tình cảm nhân đạo biểu hiện trong Nhật kí trong tù :
a. Quên đi nỗi khổ bản thân, thương yêu, cảm thông, chia sẻ, đau với nỗi đau của người
xung quanh (Vợ người bạn tù đến thăm chồng, Cháu bé trong nhà lao Tân Dương, Người bạn tù thổi
sáo, Phu làm đường, Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng, ).
b. Vui với niềm vui của người của người xung quanh (Từ Long An đến Đồng Chính,…).
c. Căm ghét những thế lực chà đạp con người như chế độ nhà tù, chế độ xã hội Trung
Quốc thời Tưởng Giới Thạch (khi phân tích dẫn chứng, phải tập trung phân tích thái độ của nhà thơ
bộc lộ trong từng câu, từng chữ).
d. Người đã tìm thấy trong tâm hồn người lao động những nét đẹp của con người như tình
yêu quê hương, lòng chung chủy (Vợ ngời bạn tù đến thăm chồng, Người bạn tù thổi sáo, ).
TRINH MINH TUAN
e. Khát vọng tự do cho con người, ước mơ giải phóng con người (Không ngủ được, Ở Việt
Nam có biến động).
III. So sánh, mở rộng, đánh giá:
a. Tiếp tục và phát huy truyền thống nhân đạo của dân tộc:
• Nhiễu điều phủ lấy giá gương (ca dao).
• Bầu ơi thương lấy bí cùng… (ca dao).
b. Khác với tinh thần nhân đạo trong văn học cổ điển và văn học hiện thực phê phán:
• Tình thương người gắn bó với tình cảm giai cấp, thể hiện ở lòng yêu thương người lao
động nghèo khổ.
• Tình thương người gắn với tình quốc tế vô sản (mở rộng tình cảm ra năm châu bốn
biển).
• Yêu thương gắn liền với hành động giải phóng con người khỏi áp bức bất công.
Đó chính là chủ nghóa nhân đạo cộng sản.
IV. Lí giải nguyên nhân:
a. Người xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, lớn lên trong hoàn cảnh nước mất
nhà tan, chứng kiến bao nhiêu nỗi khổ của nhân dân.
b. Ba mươi năm bôn ba ở hải ngoại, làm các nghề vất vả. Đó là dòp để Người có điều kiện
quan sát, hiểu biết, gần gũi với nhân dân trên thế giới.
c. Người có một trái tim nhân ái:
Bác để tình thương cho chúng con
(Tố Hữu).
d. Vì yêu thương con người, Bác đã hiến trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giai
cấp, đấu tranh dân tộc.
(135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh)
Thiên nhiên trong Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh.
GI Ý CHUNG
Tình yêu thiên nhiên là một truyền thống của các nhà thơ phương Đông. Khi đọc Thiên gia
thi, Hồ Chí Minh cũng đã nhận xét:
Cổ thi thiên ái thiên nhiên mó,
Sơn thủy, yên hoa, tuyết nguyệt phong.
Nhật kí trong tù thể hiện tình yêu thiên nhiên trong một hoàn cảnh khắc nghiệt:
1. Những hình tượng thiên nhiên quen thuộc. Đặc biệt là hình tượng trăng:
a. Thiên nhiên đẹp tạo nên những bức tranh kì thú:
+ Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
+ Phương đông màu trắng chuyển sang hồng.
+ Núi ấp ôm mây, mây ấp núi.
+ Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng.
+ Đất trời một thoáng thu màn ướt,
Sông núi muôn trùng trải gấm phơi.
TRINH MINH TUAN
Trời ấm hoa cười chào gió nhẹ,
Cây cao chim hót rộn cành tươi.
b. Hình ảnh trăng thân mật, gần gũi:
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
c. Những hình tượng thiên nhiên khắc nghiệt:
+ Rát mặt đêm thu trận gió hàn.
+ Gió sắc tựa gươm mài đá núi,
Rét như dùi nhọn chích cành cây.
+ Núi cao rồi lại núi cao trập trùng.
d. Thiên nhiên tượng trưng cho những ước mơ, khát vọng:
+ Chẳng được tự do mà thưởng nguyệt,
Lòng theo vời vợi mảnh trăng thu.
(Mảnh trăng thu tượng trưng cho khát vọng tự do)
+ Trong ngục giờ đây còn tối mòt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
2. Vì sao hình ảnh thiên nhiên xuất hiện nhiều trong Nhật kí trong tù?
a. Hồ Chí Minh rất gắn bó và yêu thích thiên nhiên.
Nơi ở, nơi làm việc của Người ở Việt Bắc cũng như ở giữa thủ đô Hà Nội đều chan hòa
giữa thiên nhiên.
b. Người vốn có một tâm hồn nghệ só rất nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên và tình
người.
c. Người chòu ảnh hưởng của thơ ca cổ điển phương Đông.
Lối cảm xúc của các thi nhân xưa phản ánh quan điểm triết học về sự hòa đồng giữa
con người và thiên nhiên.
3. Bàn luận:
a. Trong Nhật kí trong tù, chỉ vài ba bài có thể gọi là tả cảnh đơn thuần. Có lẽ đó là một
khuynh hướng tâm lí. Vì Bác quan niệm tự nhiên trước hết là một môi trường của cuộc sống, thiên
nhiên rất gần gũi với con người, không nên cô lập thiên nhiên với con người.
Nhật kí trong tù có sự hài hòa rất ý nhò giữa nội tâm và tạo vật. Thiên nhiên đem đến
cho con người một mối đồng cảm, một cơ hội để bộc lộ nội tâm.
b. Con người hài hòa trong tạo vật nhưng vẫn làm chủ tạo vật, làm cho bức tranh thiên
nhiên trở nên sống động và ấm áp hơn.
c. Thiên nhiên trong Nhật kí trong tù khác với thiên nhiên trong thơ cổ: Ở đây, con người
luôn giữ vai trò chủ thể. Thiên nhiên như một người bạn tri âm tri kỉ (Ngắm trăng). Con người hiện
diện trong thiên nhiên với tư cách là một thi nhân. Con người làm tôn vẻ đẹp của thiên nhiên và
thiên nhiên làm tôn vẻ đẹp của con người, mang lại niềm vui cho con người (Giải đi sớm khổ II, Mới
ra tù tập leo núi).
d. Trong quá trình vượt qua những khắc nghiệt của thiên nhiên, con người luôn ở tư thế
chiến thắng:
+ Giày rách, đường lầy, chân lấm láp,
Vẫn còn dấn bước dặm đường xa.
+ Rát mặt đêm thu trận gió hàn.
Thơ thiên nhiên trong Nhật kí trong tù có nhiều bài rất hay. Có những phác họa mà chân thật
và đậm đà như một bức tranh thủy mạc cổ điển. Có những cảnh lộng lẫy sinh động như những tấm
TRINH MINH TUAN
thảm thêu. Nhưng toát lên trong những bài thơ ấy là một tình yêu thiên nhiên rất nghệ só của một
chiến só cách mạng lão thành, giàu tinh thần thép, giàu dũng khí.
(135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh)
Đọc thơ Hồ Chí Minh, Hoài Thanh viết: “Khi Bác nói, trong thơ có thép, ta cũng cần tìm hiểu
thế nào là thép ở trong thơ. Có lẽ phải hiểu một cách rất linh hoạt mới đúng. Không phải có nói
chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép” (Đọc Nhật kí trong tù – NXB Tác phẩm mới,
1977).
Giải thích ý kiến trên. Hãy chép ra theo trí nhớ và phân tích một bài thơ nào đấy của Bác
trong Nhật kí trong tù có “tinh thần thép” mà không “nói chuyện thép, lên giọng thép”.
A. GI Ý CHUNG:
1. Thế nào là “thép” trong một bài thơ nói riêng và trong văn học nói chung? Hiểu thế nào là
“tinh thần thép”, “nói chuyện thép, lên giọng thép”.
2. Soi vào Nhật kí trong tù, ta nên hiểu những điều trên một cách linh hoạt như thế nào?
3. Chép và phân tích một bài thơ trong Nhật kí trong tù có “tinh thần thép” mà không “nói
chuyện thép, lên giọng thép”.
B. GI Ý CỤ THỂ:
1. Thế nào là “thép” trong một bài thơ nói riêng và trong văn học nói chung?
a. Có đề cập đến nội dung chiến đấu, cách mạng, có hình tượng người chiến só.
b. Giọng điệu phải hừng hực khí thế chiến đấu, cất cao lời kêu gọi cổ vũ.
c. Có tác dụng như một vũ khí sắc bén chống quân thù.
d. Nhà văn phải là người chiến só trên mặt trận văn hóa nghệ thuật.
2. Ta nên hiểu một cách linh hoạt “chất thép”, “giọng thép” trong Nhật kí trong tù như thế
nào?
Chất “thép” và tinh thần người chiến só không phải lúc nào cũng bộc lộ trực tiếp, mà có
lúc bộc lộ gián tiếp. Có nhiều bài phải ngẫm nghó, ta mới thấy thấm thía một tinh thần thép rắn chắc,
không gì lay chuyển nổi. Vì vậy, ở Nhật kí trong tù, hầu như bài nào cũng có “thép”, bài nào cũng
thể hiện”tinh thần thép”.
a. Có những bài thể hiện trực tiếp:
- Tố cáo, lên án chế độ nhà tù khắc nghiệt và chế độ xã hội bất cong, mục rỗng (Bốn
tháng rồi, Cơm tù, Chia nước, Cái cùm, Cháu bé trong nhà lao Tân Dương, Tiền vào nhà giam, v.v…).
- Thể hiện tinh thần chiến só:
+ Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
(Nhật kí trong tù)
TRINH MINH TUAN
+ Thà chết chẳng cam nô lệ mãi,
Tung bay cờ nghóa khắp trăm miền.
Xót mình giam hãm trong tù ngục,
Chưa được xông ra giữa trận tiền.
(Ở Việt Nam có biến động)
b. Có những bài không nói chuyện cách mạng, chuyện chiến đấu, nhưng vẫn thể hiện tinh
thần thép:
+ Ăn cơm nhà nước, ở nhà công,
Binh lính thay nhau để hộ tùng.
Non nước dạo chơi tùy sở thích,
Làm trai như thế cũng hào hùng.
+ Đầy mình đỏ tía như hoa gấm,
Sột soạt luôn tay tựa gảy đàn,
Mặc gấm, bạn tù đều khách q,
Gảy đàn, trong ngục thảy tri âm.
Sau nụ cười ấy là những giọt nước mắt xót xa, xen lẫn một tinh thần gang thép của người
chiến só cách mạng Hồ Chí Minh.
3. Có thể chép và phân tích bài thơ Mới ra tù, tập leo núi để làm nổi rõ vấn đề trên:
Mới ra tù, tập leo núi thể hiện một phong thái ung dung, một tấm lòng son sắt hướng về quê
hương đất nước, một ý chí quyết tâm rèn luyện láy lại sức lực để trở về phục vụ Tổ quốc, nhân dân.
Giọng thơ bình dò nhưng cứng cỏi “tinh thần thép”.
(135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh)
Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn, nhưng trong Nhật kí trong tù, Người lại viết:
Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây.
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Anh (chò) giải thích hiện tượng trên như thế nào?
A. GI Ý CHUNG:
Bài viết cần trình bày ba ý lớn:
1. Chứng minh Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn.
2. Nhấn mạnh Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được
hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được
học hành, để thấy Người không lấy văn thơ làm sự nghiệp của đời mình.
Ngâm thơ ta vốn không ham.
3. Giải thích tại sao có sự mâu thuẩn ấy?
B. GI Ý CỤ THỂ:
1. Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn:
Người không bao giờ tự nhận mình là một nhà thơ, nhà văn. Thế nhưng, Bác để lại cho đời
rất nhiều bài thơ hay, có giá trò lớn, với những cảm xúc dạt dào, với cái nhìn tinh tế, với một phong
cách rất đa dạng. Ta có thể bắt gặp những bài phảng phất thơ Đường, Tống trong Nhật kí trong tù
hay thơ kháng chiến củaBác. Ta cũng gặp những bài rất giản dò hay những bài thơ chúc Tết đậm đà
phong cách cổ truyền của dân tộc.
2. Thế mà, trong Nhật kí trong tù, Người lại viết:
Ngâm thơ ta vốn không ham.
Ta biết mục đích của Người “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước
ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai
TRINH MINH TUAN
cũng được học hành”. Vì thế, Người không lấy văn thơ làm sự nghiệp, mặc dù không bao giờ xem
thường văn chương.
3. Tại sao Bác không có ý đònh trở thành một nhà thơ, nhà văn, nhưng lại là một nhà thơ,
nhà văn lớn?
a. Vì trong quá trình hoạt động cách mạng, Người thấy văn chương là một vũ khí sắc bến,
nên Người đã quyết tâm rèn luyện để có thể nắm chắc vũ khí ấy phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.
Dẫn chứng:
• Truyện kí Bác viết vào những năm 1920 là những áng văn xuôi của châu Âu hiện đại.
Bởi đối tượng mà Bác hướng đến lúc bấy giờ chủ yếu là nhân dân Pháp.
• Trong thời kì Mặt trận Việt Minh, để kêu gọi toàn dân đoàn kết đứng lên đánh Pháp
đuổi Nhật, Bác đã viết những bài thơ dưới dạng ca dao, hò, vè dễ thuộc, dễ hiểu, đáng
nhớ (Hòn đá to, Bài ca sợi chỉ, Ca dân cày,v.v…).
• Thời kì đầu kháng chiến chống Pháp, để động viên các nhà Nho yêu nước tham gia
kháng chiến, Bác đã sáng tác một số bài thơ chữ Hán gửi tặng cụ Võ Liêm Sơn, tặng
cụ Bùi.
b. Bác có tâm hồn rất nhạy cảm của một người nghệ só.
c. Bác rất yêu thơ và có năng khiếu làm thơ.
d. Bản thân được trao dồi học vấn từ nhỏ, trong quá trình hoạt động, Bác đi nhiều, có vốn
sống phong phú, đã từng kết thân với nhiều nhà văn, nhà thơ.
Bác còn kế thừa tuyền thống văn chương của gia đình và quê hương.
Vì tất cả các lí do trên, Bác đã trở thành một nhà thơ, nhà văn ngoài ý muốn.
(135 bài văn chọn lọc – Thái Quang Vinh)
Trong chuỗi ngày bò chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm, Hồ Chí Minh cảm thấy đau
khổ vô hạn vì bò mất tự do. Vậy mà có lúc Người lại tự nhận là “khách tự do”, “khách tiên”. Có thể
giải thích điều đó như thế nào?
GI Ý
1. Là người chiến só cách mạng đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc, bỗng dưng vô cớ bò
bắt vào tù, bò đày đọa mà không được xét xử, Hồ Chí Minh rất bất bình, chua xót vì mất tự do.
- Nhiều câu thơ cụ thể:
• Đau khổ chi bằng mất tự do…
• Trên đời ngàn vạn điều cay đắng,
Cay đắng chi bằng mất tự do.
- Nhiều cảnh ngộ trớ trêu nói lên nỗi đau khổ đó: Bò trói dẫn đi với xiềng xích; đi đại tiện
cũng không được bình thường
2. Tinh thần ở ngoài lao:
Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao.
- Vào nhà lao huyện Tónh Tây:
Còn lại trong tù khách tự do.
- Những cuộc “vượt ngục” bằng tinh thần: (Ngắm trăng, Đi dường, Không ngủ được )
3. Giải thích:
- Vừa mang cốt cách ung dung tự tại của nhà hiền triết phương Đông.
- Vừa là bản lónh làm chủ của người cộng sản, nắm vững qui luật và hành động theo qui
luật.

Xem chi tiết: ÔN THI TỐT NGHIỆP THPT


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét