LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "dựa vào các lý thuyết kinh tế và đầu tư giải thích vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế": http://123doc.vn/document/1041064-dua-vao-cac-ly-thuyet-kinh-te-va-dau-tu-giai-thich-vai-tro-cua-dau-tu-doi-voi-tang-truong-va-phat-trien-kinh-te.htm
thuộc các doanh nghiệp.
Đầu tư cơ bản quyết định đâù tư vận hành, đầu tư vận hành tạo điều kiện
cho các kết quả đầu tư cơ bản phát huy tác dụng. Không có đầu tư vận hành
thì các kết quả của đầu tư cơ bản không vận hành được, ngược lại không có
đầu tư cơ bản thì thì đầu tư vận hành chẳng để làm gì. Đầu tư cơ bản thuộc
loại đầu tư dài hạn, đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư để tái
sản xuất mở rộng các loại tài sản cố định là phức tạp đòi hỏi số vốn lớn, thu
hồi lâu( nếu có thể thu hồi).
Đầu tư vận hành chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư, đặc điểm kỹ
thuật của quá trình thực hiện đầu tư không phức tạp. Đầu tư vận hành cho
các cơ sở sản xuẩt kinh doanh có thể thu hồi nhanh sau khi đưa ra các kết
quả đầu tư nói chung vào hoạt động.
2. 5. Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá
trình tái sản xuất xã hội:
Có thể phân loại đầu tư thành đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
thành đầu tư thương mại và đầu tư sản xuất.
Đầu tư thương mại là hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện đầu tư
và hoạt động của các kêt quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, vốn vận
động nhanh, độ mạo hiểm thấp do trong thời gian ngắn tính bất định không
cao, dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao.
Đầu tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn(5, 10. 20 năm hoặc lâu hơn)vốn
đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao vì
tính kỹ thuật của đầu tư phức tạp, phải chịu nhiều tác động của các yếu tố
bất định trong tương lai không thể dự đoán và dự đoán chính xác được( về
nhu cầu, giá cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa
học kỹ thuật, thiên tai, sự ổn định chính trị. . . ). Loại đầu tư này phải được
chuẩn bị kỹ, phải dự đoán những gì liên quan đến kết quả và hiệu quả của
hoạt động đầu tư trong tương lai xa; xem xét các biện pháp sử lý khi các yếu
tố bất định xảy ra để đảm bảo thu hồi đủ vốn và có lãi khi hoạt động đầu tư
kết thúc.
Trên thực tế, trên giác độ điều tiết vĩ mô, Nhà nước thông qua các cơ chế
chính sách của mình làm sao để hướng được các nhà đầu tư không chỉ đầu
5
tư vào lĩnh vực thương mại mà cả vào lĩnh vực sản xuất theo các định hướng
và mục tiêu đac dự kiến trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong cả
nước.
2. 6. Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả
đầu tư:
Có thể phân chia hoạt động đầu tư phát triển thành: đầu tư ngắn hạn
và đầu tư dài hạn.
Đầu tư dài hạn là việc đầu tư xây dựng các công trình xây dựng đòi
hỏi thời gian thời gian đầu tư dài, khối lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn
lâu. Đó là những công trình thuộc lĩnh vực sản xuất, đầu tư phát triển khoa
học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng. . . )
Đầu tư dài hạn thường chứa đựng những yếu tố khó lường, rủi ro lớn,
do đó cần có những dự báo dài hạn, khoa học.
Đầu tư ngắn hạn là loại đầu tư tiến hành trong một thời gian ngắn,
thường do những chủ đầu tư ít vốn thực hiện, đầu tư vào những lĩnh vực
hoạt động nhanh chóng thu hồi vốn. Tuy nhiên, rủi ro đối với những hình
thức đầu tư này cũng rất lớn.
Trên phạm vi nền kinh tế hai loại hình đầu tư này luôn hoà quyện, hỗ trợ
nhau, nhằm đảm bảo tính bền vững, vì mục tiêu của công cuộc đầu tư.
2. 7. Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư:
Hoạt động đầu tư được chia thành đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.
Đầu tư gián tiếp: Trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều
hành quản lý quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư. Người có
vốn thông qua các tổ chức tài chính trung qian để đầu tư phát triển. Đó là
việc chính phủ thông qua các chương trình tại trợ không hoàn lại hoặc có
hoàn lại với lãi suất thấp cho các chính phủ của các nước khác vay để phát
triển kinh tế xã hội, là việc cá nhân, các tổ chức mua các chứng chỉ có giá
như cổ phiếu, trái phiếu. . . để hưởng lợi tức( gọi là đầu tư tài chính). Đầu
tư gián tiếp là phương thức huy động vốn cho đầu tư phát triển.
Đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư, trong đó người bỏ vốn trực tiếp
tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư.
Loại đầu tư này tạo nên những năng lực sản xuất phục vụ mới(cả về chất và
6
lượng). Đây là loại đầu tư sản xuất tái mở rộng, là biện pháp chủ yếu để
tăng thêm việc làm cho người lao động, là tiền đề để đầu tư tài chính và
đầu tư chuyển dịch. Đầu tư trực tiếp thực hiện ở nước sở tại và cả ở nước
ngoài. Do vậy, việc cân đối giữa hai luồng vốn ra và vào và việc coi trọng cả
hai luồng vốn này là hết sức cần thiết.
Chính sự điều tiết của bản thân thị trường và các chính sách
khuyến khích
đầu tư của nhà nước sẽ khuyến khích sẽ hướng việc sử dụng vốn của
các nhà đầu
tư theo định hướng của nhà nước, từ đó tạo nên một cơ cấu đầu tư
phục vụ cho
việc hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý.
2. 8. Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc qia, hoạt động đầu tư
được chia thành:
Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước
ngoài.
Đầu tư bằng nguồn vốn trong nước: các hoạt động đầu tư được tài trợ
từ nguồn vốn tích luỹ từ ngần sách, của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của
dân cư.
Đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài: hoạt động đầu tư được thực hiện
bằng các nguồn vốn đầu tư gián tiếp và trực tiếp nước ngoài.
Cách phân loại này chỉ ra vai trò của từng nguồn vốn trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội, trong đó thống nhất quan điểm vốn trong nước là
quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng.
2. 9. Theo vùng lãnh thổ:
Chia đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ, các vùng kinh tế trọng
điểm, đầu tư phát triển khu vực thành thị và nông thôn. . . Cách phân loại
phản ánh tình hình đầu tư của từng tỉnh, từng vùng kinh tế và ảnh hưởng của
đầu tư với tình hình phát triển kinh tế xã hội từng địa phương.
Ngoài ra trong thực tế để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu cơ
cấu kinh tế người ta còn phân chia đầu tư theo quan hệ sở hữu, theo quy mô
và theo các tiêu thức khác.
II. TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ:
7
2. 1. Khái niệm về tăng trưởng:
Tăng trưởng là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng
thời gian nhất định( thường là một năm).
Sự gia tăng được thể hiện ở qui mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng
phản ánh sự gia tăng nhiều hay tăng ít còn tốc độ được sử dụng với ý nghĩa
so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ.
Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị.
Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua chỉ tiêu GDP, GNI và tính cho toàn thể
nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người.
Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của
nền kinh tế. Ngày nay yêu cầu của tăng trưởng kinh tế gắn liền với tính bền
vững hay bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao. Theo khía cạnh
này, điều được nhấn mạnh hơn là gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu
qui mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người. Hơn nữa, quá trình ấy
phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quan trọng là khoa học, công
nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý.
2. 2. Phát triển kinh tế:
Hiện nay mọi quốc qia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua
nhiều thời qian, khái niệm về phát triển đã đều đi thống nhất
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.
Phát triển kinh tế được xem như là qui trình biến đổi cả về lượng và chất, nó
là sự kết hợp một cách chặt chẽ hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội
của mỗi quốc gia.
Theo cách hiểu như vậy, phát triển phải là một quá trình lâu dài và do
các nhân tố nội tại của nền kinh tế quy định. Nội dung khái quát của nền
kinh tế được khái quát theo 3 tiêu thức:
Một là:sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia
tăng thu nhập bình quân trên một đầu người. Đây là tiêu thức thể hiện quá
trình biến đổi cả về chất và lượng của nền kinh tế, là điều kiện để nâng cao
đời sống vật chất của một quốc qia và thực hiện những mục tiêu khác của
phát triển.
Hai là:sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế. Đây là tiêu
thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc qia. Để phân
8
biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế
qiữa các nước phát triển với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về
dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc qia đạt được.
Ba là: sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Mục
tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc qia không phải là
tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là việc xoá bỏ nghèo đói,
suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận các
dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí. giáo dục của quảng đại quần
chúng nhân dân. . . Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội
của quá trình phát triển.
2. 3. Phát triển kinh tế bền vững:
Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế của
nhiều nước trên thế giới đã đạt được một tốc độ khá cao, người ta đã bắt đầu
có những lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến
tương lai con người và vấn đề phát triển bền vững được đạt ra. Theo thời
qian, quan niệm về phát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện. Năm
1987 vấn đề phát triển bền vững được Ngân hàng thế giới(WB) đề cậplần
đầu tiên, theo đó phát triển bền vững là “. . . Sự phát triển đáp ứng các nhu
cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các
thế hệ tương lai” Quan niệm đầu tiên về phát triển bền vững của WB chủ
yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển. Ngày
nay quan điểm về phát triển bền vững được đề cập một cách đẩy đủ hơn,
bên cạnh yếu tố môi trường tài nguyên thiên nhiên, yếu tố môi trường xã
hội được đặt ra với ý nghĩa quan trọng. Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về
phát triển bền vững tổ chức ở Jóhnnesbug( Cộng hoà Nam Phi) năm 2002
xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ,
hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm:tăng trưởng kinh tế, cải
thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường, Tiêu chí để đánh giá sự phát
triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ công
bằng xã hội, khai thác hợp lý, sử dụng tốt tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và
nâng cao chất lượng môi trường sống. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nêu rõ
quan điểm về phát triển bền vững trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội
9
của đất nước năm 2010: “ Phát triển nhanh hiệu quả và bền vững. Phát triển
kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường”gắn sự phát triển kinh tế với giữ vững ổn định chính trị xã hội, bảo
đảm an ninh quốc phòng.
III. Các lý thuyết kinh tế về đầu tư:
Có nhiều lý thuyết về đầu tư, trong đó có các lý thuyết nghiên cứu về
tác động của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế:
3. 1. Số nhân đầu tư:
Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng. Nó cho
thấy sản lượng gia tưng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng một đơn vị.
Công thức tính:
k = ∆Y/∆I (1)
trong đó
∆Y là mức gia tăng sản lượng
∆I là mức gia tăng đầu tư
k là số nhân đầu tư
Từ công thức (1) ta có
∆Y = k * ∆I (2)
Như vậy, việc gia tăng đầu tư có tác dụng khuyếch đại sản lượng tăng lên số
nhân lần. Trong công thức trên, k là một số dương lớn hơn 1.
Vì khi I = S, có thể biến đổi công thức (2) thành:
k = ∆Y/∆I = ∆Y/∆S = ∆Y/(∆Y - ∆C) = I/(1 - ∆C/∆Y) = 1/(1 – MPC)
= 1/MPS
Trong đó:
MPC = ∆C/∆Y Khuynh hướng tiêu dùng biên
MPS = ∆S/∆Y Khuynh hướng tiết kiệm biên
Vì MPS <1 nên k >1
Nếu MPC càng lớn thì k càng lớn, do đó, độ khuyếch đại của sản
lượng càng lớn. sản lượng càng tăng, công anư việc làm gia tăng.
Thực tế, gia tăng đầu tư, dẫn đến gia tăng cầu về các yếu tố tư liệu sản xuất
(máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…) và quy mô lao động. sự kêt hợp
hai yếu tố này làm cho sản xuất phát triển, kết quả là gia tăng sản lượng nền
kinh tế.
10
3. 2. Lý thuyết tân cổ điển:
Theo lý thuyết này thì đầu tư bằng tiết kiệm (ở mức sản lượng tiềm
năng). Còn tiết kiệm S = sy trong đó 0 < s < 1.
s: Mức tiết kiệm từ một đơn vị sản lượng (thu nhập) và tỷ lệ tăng
trưởng của lao động bằng với tỷ lệ tăng dân số và ký hiệu là n.
Theo hàm sản xuất, các yếu tố của sản xuất là vốn và lao động có thể thay
thế cho nhau trong tương quan sau đây:
y = A. e
rt
. K
α
. N
(1-α)
↓ ↓ ↓
sản lượng vốn ĐT lao động
A. e
rt
biểu thị ảnh hưởng của yếu tố công nghệ.
A > 0 và cố định, r tỷ lệ tăng trưởng của công nghệ.
α và ( 1- α) là hệ số co giãn thành phần của sản xuất với các yếu tố
vốn và lao động ( thí dụ nếu α = 0, 25 thì 1% tăng lên của vốn sẽ làm cho
sản lượng tăng lên 25%). Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo thì α và (1 –
α) biểu thị phần thu nhập quốc dân từ vốn và lao động.
Từ hám sản xuất Cobb Douglas trên đây ta có thể tính được tỷ lệ tăng
trưởng của sản lượng như sau:
g = r + αh = (1- α)n
trong đó:
g: tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng
h: tỷ lệ tăng trưởng của vốn
n: tỷ lệ tăng trưởng lao động
Biểu thức trên cho thấy: tăng trưởng của sản lượng có mối quan hệ thuận
với tiến bộ của công nghệ và tỷ lện tăng trưởng của vốn và lao động.
trong một nền kinh tế ở “thời điểm hoàng kim” có sự cân bằng trong tăng
trưởng của các yếu tố sản lượng, vốn và lao động.
Gọi đầu tư ròng là ∆I và ∆I=∆K
∆K = S=sy suy ra ∆K =sy
Chia cả 2 vế cho K, ta được: ∆K/K = s*Y/K
hoặc
h = s*Y/K
11
Khi h không đổi, s không đổi thì Y/K cũng không đổi và Y phải tăng trưởng
cùng tỷ lệ như h và K.
khi đó: g = r + αg = r + (1 – α)n
(1-α)g = r + (1-α)n
Hay g = r/(1-α) + n (14)
Như vậy trong thời đại hoàng kim, tỷ lệ tăng trưởng g phụ thuộc vào tỷ lệ
tăng trưởng của công nghệ và lao động. điều này cho thấy, không thể có thu
nhập trên đầu người tăng nếu không có sự tiến bộ của công nghệ.
3. 3. Mô hình của keynes về tăng trưởng kinh tế:
Nền kinh tế đạt được mức cân bằng dưới mức sản lượng tiềm năng. Keynes
đánh giá cao vai trò của tiêu dùng trong việc xác định sản lượng. theo ông,
thu thập của các cá nhân được sử dụng cho tiêu dùng và tích luỹ. Nhưng xu
hướng chung là khi mức thu nhập tăng thì xu hướng tiêu dùng trung bình
(APC) sẽ giảm và xu hướng tiết kiệm trung bình (APC) sẽ tăng do xu hướng
tiêu dùng cận biên (MPC) giảm và xu hướng tiết kiệm cận biên (MPS) tăng.
Việc giảm xu hướng tiêu dùng sẽ làm cho cầu tiêu dùng giảm. Keynes cho
rằng đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự trì trệ trong
hoạt động kinh tế. keynes cho rằng đầu tư đóng vai trò quyết định đến quy
mô việc làm. Song khối lượng đầu tư lại phụ thuộc vào lãi suất cho vay và
hiệu suất cận biên của vốn. ông viết “sự thúc đẩy, tăng sản lượng phụ thuộc
vào hiệu suất cận biên của một khối lượng tiền vốn nhất định tăntg lên so
với lãi suất”.
Keynes sử dụng lý luận về việc làm và sản lượng do cầu quyết định
để giải thích mức sản lượng thấp và thất nghiệp cao kéo dài trong những
năm 30 hầu hết các nước công nghiệp phương Tây, do đó lý thuyết này còn
là thuyết trọng cầu. ông khuyên nên phát triển nhiều hình thức hoạt động để
nâng cao tổng cầu và việc làm trong xã hội.
Keynes kết luận, muốn thoát khỏi khủng hoảng, thất nghiệp, nhà nước
phải thực hiện điều tiết bằng các chính sách kinh tế, những chính sách này
nhằm tăng cầu tiêu dùng. Trước hết, ông đề nghị sử dụng ngân sách của nhà
nước để kích đầu tư thông qua các đơn đặt hàng của nhà nước và trợ cấp vốn
cho các doanh nghiệp, để kích thích đầu tư phải có các biện pháp tăng lợi
nhuận và giảm lái suất, muốn vậy phải tăng khối lượng tiền tệ trong lưu
12
thông Keynes đề gnhị thực hiện lạm phát có mưc độ, ông đánh giá cao vai
trò của hệ thống thuế khoá, công trái nhà nước, qua đó để bổ sung cho ngân
sách. Ông đề nghị giảm lãi suất ngân hàng để khuyến khích đầu tư và đánh
thuế thu nhập theo luỹ tiến làm cho phân hối trở lên công bằng hơn, do đó sẽ
tăng tổng thu nhập nhân dân dùng cho tiêu dùng, ông tán thành đầu tư của
chính phủ vào công trình công cộng và các biện pháp khấc nhau như một
loại bơm trợ lực khi đầu tư tư nhân giảm sút.
3. 4. Mô hình Harrod Domar:
Mô hình Harrod Dorma giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng
trưởng kinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư
Để xây dựng mô hình, các tác giả đưa ra 2 giả định
lao động đầy đủ việc làm, không có hạn chế đối với cung lao động
sản xuất tỷ lệ với khối lượng máy móc
nếu gọi:
Y là sản lượng năm t
g = ∆Y/Y
t
tốc độ tăng trưởng kinh tế
∆Y sản lượng gia tăng trong kỳ
S tổng tiết kiệm trong năm
s = S/Y
t
tỷ lệ tiết kiệm/GDP
ICOR tỷ lệ gia tăng của vốn so với sản lượng
từ công thức
ICOR = ∆K/∆Y nếu ∆K=I, ta có ICOR = I/∆K
Ta lại có: I = S = s*Y. Thay vào công thức tính ICOR, ta có:
ICOR = ∆K/∆Y = s*Y/∆Y.
từ đây suy ra: ∆Y = s*Y/ICOR: Y
cuối cùng ta có: g = s/ICOR
Như vậy theo Harrod – Domar, tiết kiệm là nguồn gốc của tăng
trưởng kinh tế. muốn gia tăng sản lượng với tốc độ g thì cần duy trì tỷ lệ tích
luỹ để đầu tư trong GDP là s với hệ số ICOR không đổi. Mô hình thể hiện S
là nguồn gốc của I, đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất (∆K), gia tăng vốn sản
xuất sẽ trực tiếp làm gia tăng ∆Y. cũng lưu ý rằng, do nghiên cứu ở các
nước tiên tiến, nhằm xem xét vấn đề: để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế
1% thì đầu tư phải tăng bao nhiêu, nên những kết luận của mô hình cần
13
được kiểm nghiệm kỹ khi cứu đối với các nước đang phát triển như nước ta.
ở những nước đang phát triển, vấn đề không đơn giản chỉ là duy trì tốc độ
tăng trưởng kinh tế như cũ mà quan trọng là phải tăng với tốc độ cao hơn.
Đồng thời do thiếu vốn, thừa lao động, họ thường sử dụng nhiều nhân tố
khác phục vụ tăng trưởng.
IV. Vai trò của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế thông
qua các lý thuyết kinh tế
1. Tác động đến tổng cung và tổng cầu:
1. 1. Tác động đến tổng cầu:
Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu tư. đầu tư là một yếu
tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế. theo số liệu của
ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24 đến 28% trong cơ cấu tổng
cầu của tất cả các nước trên thế giới. đối với tổng cầu, tác động của đầu tư
thể hiện rõ trong ngắn hạn. xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đâu tư là bộ phận
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu. khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng
đầu tư làm cho tổng cầu (AD) tăng (nếu các yếu tố khác không đổi).
AD = C + I + G + X – M (1)
Trong đó: C: tiêu dùng
I: đầu tư
G: tiêu dùng của chính phủ
X: xuất khẩu
M: nhập khẩu
Theo Keynes, ông đề cao vai trò của cầu đối với tăng trưởng kinh tế.
Từ quan hệ trên ta thấy khi đầu tư (I) tăng sẽ trực tiếp làm tăng GDP. Theo
Keynes thì khi đầu tư tăng một đơn vị thì sẽ làm cho GDP tăng hơn một đơn
vị.
Trong thực tế thì mức độ của ảnh hưởng trên còn tuỳ thuộc vào năng
lực cung của nền kinh tế. Nếu năng lực cung hạn chế thì việc gia tăng tổng
cầu, với bất kỳ lý do nào chỉ làm tăng giá mà thôi, sản lượng thực tế không
tăng là bao. Ngược lại, nếu năng lực sản xuất (cung) dồi dào thì gia tăng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét