Chủ đề Mức độ cần đạt Ghi chú
2. Tia. Đoạn thẳng. Độ dài đoạn
thẳng. Trung điểm của đoạn thẳng.
Về kiến thức:
- Biết các khái niệm tia, đoạn thẳng.
- Biết các khái niệm hai tia đối nhau,
hai tia trùng nhau.
- Biết khái niệm độ dài đoạn thẳng.
- Hiểu và vận dụng đợc đẳng thức
AM + MB = AB để giải các bài toán
đơn giản.
- Biết khái niệm trung điểm của
đoạn thẳng.
Về kỹ năng:
- Biết vẽ một tia, một đoạn thẳng. Nhận
biết đợc một tia, một đoạn thẳng trong
hình vẽ.
- Biết dùng thớc đo độ dài để đo đoạn
thẳng.
- Biết vẽ một đoạn thẳng có độ dài cho
trớc.
- Vận dụng đợc đẳng thức
AM + MB = AB
để giải các bài toán đơn giản.
- Biết vẽ trung điểm của một đoạn
thẳng.
Ví dụ. Học sinh biết dùng các thuật ngữ:: đoạn
thẳng này bằng (lớn hơn, bé hơn) đoạn thẳng
kia.
Ví dụ. Cho biết điểm M nằm giữa hai điểm
A, B và AM = 3cm, AB = 5cm.
a) MB bằng bao nhiêu? Vì sao?
b) Vẽ hình minh hoạ.
Ví dụ. Học sinh biết xác định trung điểm
của đoạn thẳng bằng cách gấp hình hoặc dùng
thớc đo độ dài.
V. Góc
1. Nửa mặt phẳng. Góc. Số đo góc.
Tia phân giác của một góc.
Về kiến thức:
- Biết khái niệm nửa mặt phẳng.
Chủ đề Mức độ cần đạt Ghi chú
- Biết khái niệm góc.
- Hiểu các khái niệm: góc vuông, góc
nhọn, góc tù, góc bẹt, hai góc kề nhau,
hai góc bù nhau.
- Biết khái niệm số đo góc.
- Hiểu đợc: nếu tia Oy nằm giữa hai tia
Ox, Oz thì :
xOy + yOz = xOz
để giải các bài toán đơn giản.
- Hiểu khái niệm tia phân giác của góc.
Về kỹ năng:
- Biết vẽ một góc. Nhận biết đợc
một góc trong hình vẽ.
- Biết dùng thớc đo góc để đo góc.
- Biết vẽ một góc có số đo cho trớc.
- Biết vẽ tia phân giác của một góc.
Ví dụ. Học sinh biết dùng các thuật ngữ: góc
này bằng (lớn hơn, bé hơn) góc kia.
Ví dụ. Cho biết tia Ot nằm giữa hai tia Ox,
Oy và xOt = 30, xOy = 70.
a) Góc tOy bằng bao nhiêu? Vì sao?
b) Vẽ hình minh hoạ.
Ví dụ. Học sinh biết xác định tia phân giác
của một góc bằng cách gấp hình hoặc dùng th-
ớc đo góc.
2. Đờng tròn. Tam giác. Về kiến thức:
- Biết các khái niệm đờng tròn, hình
tròn, tâm, cung tròn, dây cung, đờng
kính, bán kính.
- Nhận biết đợc các điểm nằm trên, bên
trong, bên ngoài đờng tròn.
- Biết khái niệm tam giác.
- Hiểu đợc các khái niệm đỉnh, cạnh,
góc của tam giác.
- Nhận biết đợc các điểm nằm bên
trong, bên ngoài tam giác.
Về kỹ năng:
- Biết dùng com pa để vẽ đờng tròn,
cung tròn. Biết gọi tên và ký hiệu đờng
tròn.
Ví dụ. Học sinh biết dùng com pa để so sánh
hai đoạn thẳng.
Ví dụ. Cho điểm O. Hãy vẽ đờng tròn
Chủ đề Mức độ cần đạt Ghi chú
- Biết vẽ tam giác. Biết gọi tên và
ký hiệu tam giác.
- Biết đo các yếu tố (cạnh, góc) của một
tam giác cho trớc.
(O; 2cm).
Ví dụ. Học sinh biết dùng thớc thẳng, thớc đo
độ dài và com pa để vẽ một tam giác khi biết
độ dài ba cạnh của nó.
lớp 7
Chủ đề Mức độ cần đạt
Ghi chú
I. Số hữu tỉ. Số thực
1. Tập hợp Q các số hữu tỉ.
- Khái niệm số hữu tỉ.
- Biểu diễn số hữu tỉ trên trục số.
- So sánh các số hữu tỉ.
- Các phép tính trong Q: cộng, trừ,
nhân, chia số hữu tỉ. Lũy thừa với
số mũ tự nhiên của một số hữu tỉ.
Về kiến thức:
Biết đợc số hữu tỉ là số viết đợc dới
dạng
b
a
với
0,,
bZba
.
Về kỹ năng:
- Thực hiện thành thạo các phép tính về
số hữu tỉ.
- Biết biểu diễn một số hữu tỉ trên trục
số, biểu diễn một số hữu tỉ bằng nhiều
phân số bằng nhau.
- Biết so sánh hai số hữu tỉ.
- Giải đợc các bài tập vận dụng quy tắc
các phép tính trong Q.
Ví dụ.
a)
1
2
=
1
2
=
2
4
=
2
4
= 0,5.
b) 0,6 =
3
5
=
3
5
=
6
10
.
2. Tỉ lệ thức.
- Tỉ số, tỉ lệ thức.
- Các tính chất của tỉ lệ thức và
tính chất của dãy tỉ số bằng nhau.
Về kỹ năng:
Biết vận dụng các tính chất của tỉ lệ
thức và của dãy tỉ số bằng nhau để giải
các bài toán dạng: tìm hai số biết tổng
(hoặc hiệu) và tỉ số của chúng.
Ví dụ. Tìm hai số x và y biết:
3x = 7y và x - y = -16.
Không yêu cầu học sinh chứng minh các tính
chất của tỉ lệ thức và dãy các tỉ số bằng nhau.
3. Số thập phân hữu hạn. Số thập
phân vô hạn tuần hoàn. Làm tròn
số.
Về kiến thức:
- Nhận biết đợc số thập phân hữu hạn,
số thập phân vô hạn tuần hoàn.
- Biết ý nghĩa của việc làm tròn số.
Về kỹ năng:
Vận dụng thành thạo các quy tắc làm
tròn số.
Không đề cập đến các khái niệm sai số tuyệt
đối, sai số tơng đối, các phép toán về sai số.
4. Tập hợp số thực R.
- Biểu diễn một số hữu tỉ dới dạng
Về kiến thức:
- Biết sự tồn tại của số thập phân vô
Ví dụ. Viết các phân số
5
8
,
3
20
,
4
11
dới dạng
Chủ đề Mức độ cần đạt
Ghi chú
số thập phân hữu hạn hoặc vô hạn
tuần hoàn.
- Số vô tỉ (số thập phân vô hạn
không tuần hoàn). Tập hợp số thực.
So sánh các số thực
- Khái niệm về căn bậc hai của
một số thực không âm.
hạn không tuần hoàn và tên gọi của
chúng là số vô tỉ.
- Nhận biết sự tơng ứng 1 1 giữa tập
hợp R và tập các điểm trên trục số, thứ
tự của các số thực trên trục số.
- Biết khái niệm căn bậc hai của một số
không âm. Sử dụng đúng kí hiệu .
Về kỹ năng:
- Biết cách viết một số hữu tỉ dới dạng
số thập phân hữu hạn hoặc vô hạn tuần
hoàn.
- Biết sử dụng bảng số, máy tính bỏ túi
để tìm giá trị gần đúng của căn bậc hai
của một số thực không âm.
số thập phân hữu hạn hoặc vô hạn tuần hoàn.
- Tập hợp số thực bao gồm tất cả các số hữu tỉ
và vô tỉ.
Ví dụ. Học sinh có thể phát biểu đợc rằng
mỗi số thực đợc biểu diễn bởi một điểm trên
trục số và ngợc lại.
Ví dụ.
2
1,41;
3
1,73.
II. Hàm số và đồ thị
1. Đại lợng tỉ lệ thuận.
- Định nghĩa.
- Tính chất.
- Giải toán về đại lợng tỉ lệ thuận.
Về kiến thức:
- Biết công thức của đại lợng tỉ lệ
thuận: y = ax (a 0).
- Biết tính chất của đại lợng tỉ lệ thuận:
1
1
y
x
=
2
2
y
x
= a;
1
2
y
y
=
1
2
x
x
.
Về kỹ năng:
Giải đợc một số dạng toán đơn giản về
tỉ lệ thuận.
- Học sinh tìm đợc các ví dụ thực tế của đại l-
ợng tỉ lệ thuận.
- Học sinh có thể giải thành thạo bài toán:
Chia một số thành các các phần tỉ lệ với các số
cho trớc.
2. Đại lợng tỉ lệ nghịch.
- Định nghĩa.
- Tính chất.
- Giải toán về đại lợng tỉ lệ
nghịch.
Về kiến thức:
- Biết công thức của đại lợng tỉ lệ
nghịch: y =
a
x
(a 0).
- Biết tính chất của đại lợng tỉ lệ
Học sinh tìm đợc các ví dụ thực tế của đại l-
ợng tỉ lệ nghịch.
Ví dụ. Một ngời chạy từ A đến B hết 20 phút.
Chủ đề Mức độ cần đạt
Ghi chú
nghịch:
x
1
y
1
= x
2
y
2
= a;
1
2
x
x
=
2
1
y
y
.
Về kỹ năng:
- Giải đợc một số dạng toán đơn giản về
tỉ lệ nghịch.
Hỏi ngời đó chạy từ B về A hết bao nhiêu phút
nếu vận tốc chạy về bằng 0,8 lần vận tốc chạy
đi.
Ví dụ. Thùng nớc uống trên tàu thuỷ dự định
để 15 ngời uống trong 42 ngày. Nếu chỉ có 9
ngời trên tàu thì dùng đợc bao lâu ?
3. Khái niệm hàm số và đồ thị.
- Định nghĩa hàm số.
- Mặt phẳng toạ độ.
- Đồ thị của hàm số y = ax (a 0).
- Đồ thị của hàm số y =
a
x
(a
0).
Về kiến thức:
- Biết khái niệm hàm số và biết cách
cho hàm số bằng bảng và công thức.
- Biết khái niệm đồ thị của hàm số.
- Biết dạng của đồ thị hàm số y = ax
(a 0).
- Biết dạng của đồ thị hàm số y =
a
x
(a 0).
Về kỹ năng:
- Biết cách xác định một điểm trên mặt
phẳng toạ độ khi biết toạ độ của nó và
biết xác định toạ độ của một điểm trên
mặt phẳng toạ độ.
- Vẽ thành thạo đồ thị của hàm số y =
ax (a 0).
- Biết tìm trên đồ thị giá trị gần đúng
của hàm số khi cho trớc giá trị của biến
số và ngợc lại.
Không yêu cầu vẽ đồ thị của hàm số y =
a
x
(a
0).
Chủ đề Mức độ cần đạt
Ghi chú
III. Biểu thức đại số
- Khái niệm biểu thức đại số, giá
trị của một biểu thức đại số.
- Khái niệm đơn thức, đơn thức
đồng dạng, các phép toán cộng,
trừ, nhân các đơn thức.
Về kiến thức:
- Biết các khái niệm đơn thức, bậc của
đơn thức một biến.
- Biết các khái niệm đa thức nhiều
biến, đa thức một biến, bậc của một đa
thức một biến.
Ví dụ. Tính giá trị của biểu thức x
2
y
3
+ xy tại
x = 1 và y =
1
2
.
- Khái niệm đa thức nhiều biến.
Cộng và trừ đa thức.
- Đa thức một biến. Cộng và trừ
đa thức một biến.
- Nghiệm của đa thức một biến.
- Biết khái niệm nghiệm của đa thức
một biến.
Về kỹ năng:
- Biết cách tính giá trị của một biểu
thức đại số.
- Biết cách xác định bậc của một đơn
thức, biết nhân hai đơn thức, biết làm
các phép cộng và trừ các đơn thức đồng
dạng.
- Biết cách thu gọn đa thức, xác định
bậc của đa thức.
- Biết tìm nghiệm của đa thức một biến
bậc nhất.
Ví dụ. Tìm nghiệm của các đa thức
f(x) = 2x + 1, g(x) = 1 - 3x.
IV. Thống kê
- Thu thập các số liệu thống kê.
Tần số.
Về kiến thức:
- Biết các khái niệm: Số liệu thống kê,
tần số.
Ví dụ. Hãy thực hiện những việc sau đây:
a) Ghi điểm kiểm tra về toán cuối học kì I
của mỗi học sinh trong lớp.
- Bảng tần số và biểu đồ tần số
(biểu đồ đoạn thẳng hoặc biểu đồ
hình cột).
- Số trung bình cộng; mốt của dấu
hiệu.
Biết bảng tần số, biểu đồ đoạn thẳng
hoặc biểu đồ hình cột tơng ứng.
Về kỹ năng:
- Hiểu và vận dụng đợc các số trung
bình cộng, mốt của dấu hiệu trong các
tình huống thực tế.
- Biết cách thu thập các số liệu thống
kê.
b) Lập bảng tần số và biểu đồ đoạn thẳng
tơng ứng.
c) Nêu nhận xét khi sử dụng bảng (hoặc
biểu đồ) tần số đã lập đợc (số các giá trị của
dấu hiệu; số các giá trị khác nhau; giá trị lớn
nhất, giá trị nhỏ nhất; giá trị có tần số lớn nhất;
các giá trị thuộc khoảng nào là chủ yếu).
d) Tính số trung bình cộng của các số liệu
Chủ đề Mức độ cần đạt
Ghi chú
- Biết cách trình bày các số liệu thống
kê bằng bảng tần số, bằng biểu đồ đoạn
thẳng hoặc biểu đồ hình cột tơng ứng.
thống kê.
Chủ đề Mức độ cần đạt
Ghi chú
V. Đờng thẳng vuông góc. Đờng
thẳng song song.
1. Góc tạo bởi hai đờng thẳng cắt
nhau. Hai góc đối đỉnh. Hai đờng
thẳng vuông góc.
Về kiến thức:
- Biết khái niệm hai góc đối đỉnh.
- Biết các khái niệm góc vuông, góc
nhọn, góc tù.
- Biết khái niệm hai đờng thẳng vuông
góc.
Về kỹ năng:
- Biết dùng êke vẽ đờng thẳng đi qua
một điểm cho trớc và vuông góc với một
đờng thẳng cho trớc.
Ví dụ. Vẽ hai đờng thẳng cắt nhau. Hãy:
a) Đo góc tạo bởi hai đờng thẳng cắt nhau.
b) Chỉ ra hai góc đối đỉnh.
c) Chứng tỏ rằng hai góc đối đỉnh thì bằng
nhau.
2. Góc tạo bởi một đờng thẳng cắt
hai đờng thẳng. Hai đờng
thẳng song song. Tiên đề Ơ-
clít về đờng thẳng song
song. Khái niệm định lí,
chứng minh một định lí.
Về kiến thức:
- Biết tiên đề Ơ-clít.
- Biết các tính chất của hai đờng thẳng
song song.
- Biết thế nào là một định lí và chứng
minh một định lí.
Về kỹ năng:
- Biết và sử dụng đúng tên gọi của các
góc tạo bởi một đờng thẳng cắt hai đờng
thẳng: góc so le trong, góc đồng vị, góc
trong cùng phía, góc ngoài cùng phía.
- Biết dùng êke vẽ đờng thẳng song
song với một đờng thẳng cho trớc đi qua
một điểm cho trớc nằm ngoài đờng
thẳng đó (hai cách).
Ví dụ. Vẽ một đờng thẳng cắt hai đờng thẳng
và chỉ ra các cặp góc so le trong, các cặp góc
đồng vị.
Ví dụ. Dùng êke vẽ hai đờng thẳng cùng
vuông góc với một đờng thẳng thứ ba.
Ví dụ. Dùng êke vẽ hai đờng thẳng cắt một
đờng thẳng tạo thành một cặp góc so le trong
bằng góc nhọn của êke.
Chủ đề Mức độ cần đạt
Ghi chú
VI. Tam giác
1. Tổng ba góc của một tam giác.
Về kiến thức:
- Biết định lí về tổng ba góc của một
tam giác.
- Biết định lí về góc ngoài của một tam
giác.
Về kỹ năng:
Vận dụng các định lí trên vào việc tính
số đo các góc của tam giác.
Ví dụ. Cho tam giác ABC có
,80
0
=
B
0
30
=
C
. Tia phân giác của góc A cắt BC ở D.
Tính ADC và ADB
2. Hai tam giác bằng nhau. Về kiến thức:
- Biết khái niệm hai tam giác bằng
nhau.
- Biết các trờng hợp bằng nhau của tam
giác.
Về kỹ năng:
- Biết cách xét sự bằng nhau của hai
tam giác.
- Biết vận dụng các trờng hợp bằng
nhau của tam giác để chứng minh các
đoạn thẳng bằng nhau, các góc bằng
nhau.
Ví dụ. Cho góc xAy. Lấy điểm B trên tia Ax,
điểm D trên tia Ay sao cho AB = AD. Trên tia
Bx lấy điểm E, trên tia Dy lấy điểm C sao cho
BE = DC. Chứng minh rằng BC = DE.
3. Các dạng tam giác đặc biệt.
- Tam giác cân. Tam giác đều.
- Tam giác vuông. Định lí Py-ta-
go. Hai trờng hợp bằng nhau của
tam giác vuông.
Về kiến thức:
- Biết các khái niệm tam giác cân, tam
giác đều.
- Biết các tính chất của tam giác cân,
tam giác đều.
Ví dụ. Cho tam giác nhọn ABC. Kẻ AH vuông
góc với BC (H BC). Cho biết AB = 13cm,
AH = 12cm, HC = 16cm. Tính các độ dài AC,
BC.
- Biết các trờng hợp bằng nhau của tam
Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014
Lời giải 100 đề tin học và nhà trường
LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Lời giải 100 đề tin học và nhà trường": http://123doc.vn/document/550341-loi-giai-100-de-tin-hoc-va-nha-truong.htm
begin
d:=m[j];
m[j]:=m[i];
m[i]:=d;
end;
end;
var i:byte;
tong:integer;
begin
input;
sapxeptang(d,n);
sapxeptang(v,m);
tong:=0;
for i:=1 to n do tong:=tong+v[n-i+1,1]*d[i,1];
for i:=1 to n do v[i,1]:=d[n-i+1,2];
xapxeptang(v,n);
assign(f,fo);
rewrite(f);
writeln(f,tong);
for i:=1 to n do writeln(f,v[i,2]);
close(f);
end.
Nhận xét: Chương trình trên sẽ chạy chậm nếu chúng ta mở rộng bài toán (chẳng hạn n <= m <=
8000). Sau đây là cách giải khác:
const
Inp = 'P2.INP';
Out = 'P2.OUT';
var
n, m: Integer;
Val, Pos: array[1 2, 1 8000] of Integer;
procedure ReadInput;
var
i: Integer;
hf: Text;
begin
Assign(hf, Inp);
Reset(hf);
Readln(hf, n, m);
for i := 1 to n do Read(hf, Val[1, i]);
Readln(hf);
for i := 1 to m do Read(hf, Val[2, i]);
Close(hf);
for i := 1 to m do
begin
Pos[1, i] := i;
Pos[2, i] := i;
end;
end;
procedure QuickSort(t, l, r: Integer);
var
x, tg, i, j: Integer;
begin
x := Val[t, (l + r) div 2];
i := l; j := r;
repeat
while Val[t, i] < x do Inc(i);
while Val[t, j] > x do Dec(j);
if i <= j then
begin
Tg := Val[t, i]; Val[t, i] := Val[t, j]; Val[t, j] := Tg;
Tg := Pos[t, i]; Pos[t, i] := Pos[t, j]; Pos[t, j] := Tg;
Inc(i); Dec(j);
end;
until i > j;
if i < r then QuickSort(t, i, r);
if j > l then QuickSort(t, l, j);
end;
procedure WriteOutput;
var
i: Integer;
Sum: LongInt;
hf: Text;
begin
Sum := 0;
for i := 1 to n do Inc(Sum, Val[1, n - i + 1] * Val[2, i]);
for i := 1 to n do Val[1, Pos[1, n - i + 1]] := Pos[2, i];
Assign(hf, Out);
Rewrite(hf);
Writeln(hf, Sum);
for i := 1 to n do Writeln(hf, Val[1, i]);
Close(hf);
end;
begin
ReadInput;
QuickSort(1, 1, n);
QuickSort(2, 1, m);
WriteOutput;
end.
Bài 3/1999 - Mạng tế bào
(Dành cho học sinh THPT)
Program Bai3;
uses crt;
const fi = 'P3.inp';
fo = 'P3.out';
type mang=array[0 201,0 201] of byte;
var m,n,t:byte;
s:string;
a:mang;
f:text;
b,c:^mang;
procedure input;
var i,j:byte;
begin
assign(f,fi);
reset(f);
readln(f,m,n,t);
readln(f,s);
for i:=1 to m do
begin
for j:=1 to n do read(f,a[i,j]);
end;
close(f);
new(b);
new(c);
end;
procedure hien;
var i,j:byte;
begin
for i:=1 to m do
for j:=1 to n do
begin
gotoxy(j*2,i);
write(b^[i,j]);
end;
end;
procedure trans(ch:char);
var i,j,d:byte;
begin
fillchar(c^,sizeof(mang),0);
for i:=1 to m do
for j:=1 to n do
begin
d:=b^[i,j];
case a[i,j] of
1:inc(c^[i,j-1],d);
2:inc(c^[i,j+1],d);
3:inc(c^[i-1,j],d);
4:inc(c^[i+1,j],d);
5:begin inc(c^[i-1,j],d);inc(c^[i+1,j],d); end;
6:begin inc(c^[i,j-1],d);inc(c^[i,j+1],d); end;
7:begin inc(c^[i,j-1],d);inc(c^[i-1,j],d); end;
8:begin inc(c^[i,j+1],d);inc(c^[i+1,j],d); end;
end;
end;
if ch<>'X' then b^[1,1]:=ord(ch)-48;
for i:=1 to m do
for j:=1 to n do
if (i<>1) or (j<>1) then b^[i,j]:=byte(c^[i,j]<>0);
hien;
readln;
end;
procedure output;
var i,j:byte;
begin
assign(f,fo);
rewrite(f);
for i:=1 to m do
begin
for j:=1 to n do write(f,' ',b^[i,j]);
writeln(f);
end;
close(f);
end;
var i:byte;
begin
clrscr;
input;
fillchar(b^,sizeof(mang),0);
fillchar(c^,sizeof(mang),0);
for i:=1 to t do trans(s[i]);
output;
end.
Bài 4/1999 - Trò chơi bốc sỏi
(Dành cho học sinh Tiểu học)
Huy sẽ là người thắng cuộc. Thật vậy số sỏi ban đầu là 101 là một số có dạng 5k+1, nghĩa là số
nếu chia 5 sẽ còn dư 1. Hoàng phải bốc trước, do số sỏi của Hoàng phải lấy là từ 1 đến 4 do đó sau
lượt đi đầu tiên, số sỏi còn lại sẽ lớn hơn 96. Huy sẽ bốc tiếp theo sao cho số sỏi còn lại phải là 96,
nghĩa là số dạng 5k+1. Tương tự như vậy, Huy luôn luôn chủ động được để sau lần bốc của mình
số sỏi còn lại là 5k+1. Lần cuối cùng số sỏi còn lại chỉ là 1 và Hoàng bắt buộc phải bốc viên cuối
cùng và thua.
Bài toán tổng quát: có thể cho số viên bi là 5k+1 viên.
Bài 5/1999 - 12 viên bi
(Dành cho học sinh THCS)
Ta sẽ chỉ ra rằng tồn tại 3 lần cân để chỉ ra được viên bi đặc biệt đó.
Gọi các viên bi này lần lượt là 1, 2, , 12. Trong khi mô tả thuật toán ta dùng ký hiệu
để mô tả quả hòn bi thứ n
để mô tả một hòn bi bất kỳ
Mô tả một phép cân.
Ta gọi viên bi có trọng lượng khác là đđ.
I. Lần cân thứ nhất. Lấy ra 8 hòn bi bất kỳ và chia làm 2 phần để cân:
Có 2 trường hợp xảy ra:
1.1. Cân trên cân bằng. Suy ra viên bi đđ (không rõ nặng nhẹ) nằm trong 4 viên bi còn lại (không
mang ra cân)
1.2. Cân trên không cân bằng.
1.2.1. Nếu (1) nhẹ hơn (2) suy ra hoặc đđ là nhẹ nằm trong (1) hoặc đđ là nặng nằm trong (2).
1.2.2. Nếu (1) nặng hơn (2) suy ra hoặc đđ là nặng nằm trong (1) hoặc đđ là nhẹ nằm trong (2).
Dễ thấy các trường hợp 1.2.1. và 1.2.2. là tương tự nhau.
Trong mọi trường hợp ta có kết luận đđ nằm trong số 8 viên hoặc nhẹ trong 4 hoặc nặng trong 4
còn lại.
II. Xét trường hợp 1.1: Tìm được 4 viên bi chứa đđ
Gọi các hòn bi này là 1, 2, 3, 4
Lần cân thứ hai:
Xét các trường hợp sau:
2.1. Cân thăng bằng. Kết luận: viên bi 4 chính là đđ.
2.2. Trường hợp cân trái nhẹ hơn phải (dấu <). Suy ra hoặc 3 là đđ nặng, hoặc 1 hoặc 2 là đđ nhẹ.
2.3. Trường hợp cân trái nặng hơn phải (dấu >). Suy ra hoặc 3 là đđ nhẹ, hoặc 1 hoặc 2 là đđ nặng.
Dễ thấy rằng các trường hợp 2.2. và 2.3. là tương tự nhau.
III. Xét trường hợp 2.1: viên bi 4 chính là đđ
Lần cân thứ ba:
Nếu cân nghiêng < thì 4 là đđ nhẹ, nếu cân nghiêng > thì 4 là đđ nặng.
IV. Xét trường hợp 2.2. Hoặc 3 là đđ nặng, hoặc 1 hoặc 2 là đđ nhẹ.
Lần cân thứ ba:
Nếu cân thăng bằng thì ta có 1 là hòn bi đđ nhẹ.
Nếu cân nghiêng > thì ta có 3 là hòn bi đđ nặng.
Nếu cân nghiêng < thì ta có 2 là hòn bi nhẹ.
V. Xét trường hợp 2.3. Hoặc 3 là đđ nhẹ, hoặc 1 hoặc 2 là đđ nặng.
Cách làm tương tự trường hợp 2.2 mô tả trong mục IV ở trên.
VI. Xét trường hợp 1.2.1.
Hoặc đđ là nhẹ trong 1, 2, 3, 4 hoặc đđ là nặng trong 5, 6, 7, 8.
Lần cân thứ hai:
6.1. Trường hợp cân thăng bằng. Suy ra đđ sẽ phải nằm trong 4, 7, 8, và do đó theo giả thiết của
trường hợp này ta có hoặc đđ là 4 nhẹ, hoặc đđ là nặng trong 7, 8. Dễ nhận thấy trường hợp này
hoàn toàn tương tự như 2.2. Bước tiếp theo làm tương tự như mô tả trong IV.
6.2. Trường hợp cân nghiêng <, suy ra hoặc đđ là nhẹ rơi vào 1, 2 hoặc đđ là 6 nặng. Trường hợp
này cũng hoàn toàn tương tự như 2.2. Bước tiếp theo làm tương tự như mô tả trong IV.
6.3. Trường hợp cân nghiêng >, suy ra hoặc đđ là 5 nặng, hoặc đđ là nhẹ 3.
VII. Xét trường hợp 6.3.
Hoặc đđ là 5 nặng, hoặc đđ là 3 nhẹ.
Lần cân thứ ba:
Nếu cân thăng bằng, suy ra 5 là đđ nặng.
Nếu cân nghiêng < suy ra 3 là đđ nhẹ.
Tất cả các trường hợp của bài toán đã được xem xét.
Sau đây là chương trình chi tiết.
Program bai5;
Uses crt;
Const
st1=' nang hon.';
st2=' nhe hon.';
Var i, kq1: integer;
kq2: string;
ch: char;
(* Thủ tục Kq *)
Procedure kq(a: integer; b: string);
Begin
kq1:=a;
kq2:=b;
End;
(* Thủ tục Cân *)
Procedure can(lan: integer; t1, t2, t3, t4, p1, p2, p3, p4: string);
Begin
Writeln('Lần cân thứ', lan, ' :');
Writeln;
Writeln(' ', t1, ' ', t2, ' ', t3, ' ', t4, ' ', p1, ' ', p2, ' ', p3, ' ', p4);
Writeln;
Write(' Bên nào nặng hơn? Trái(t)/Phải(p)/ Hay cân bằng(c)');
Repeat
ch:=readkey;
ch:=upcase(ch);
Until (ch in ['P', 'T', 'C']);
Writeln(ch);
Writeln(*==========================================*);
End;
(* Thủ tục Play *)
Procedure play;
Begin
Writeln('Có 12 quả cân: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12');
Writeln('Cho phép bạn chọn ra một quả cân nặng hơn hay nhẹ hơn những quả khác.');
can(1, '1', '2', '3', '4', '5', '6', '7', '8');
If (ch='T') then {T}
Begin
can(2, '1', '2', '5', ' ', '3', '4', '6', ' ');
If (ch='T') then {TT}
Begin
can(3, '1', '6', ' ', ' ', '7', '8', ' ', ' ');
If ch='T' then kq(1, st1); {TTT}
If ch='P' then kq(6, st2); {TTP}
If ch='C' then kq(2, st1); {TTC}
End
Else If (ch='P') then {TP}
Begin
can(3, '3', '5', ' ', ' ', '7', '8', ' ', ' ');
If ch='T' then kq(3, st1); {TPT}
If ch='P' then kq(5, st2); {TPP}
If ch='C' then kq(4, st1); {TPC}
End
Else If (ch='C') then {TC}
Begin
can(3, '7', ' ', ' ', ' ', ' ', '8', ' ', ' ');
If ch='T' then kq(8, st2); {TCT}
If ch='P' then kq(7, st2); {TCP}
If ch='C' then
Begin
Writeln('Trả lời sai!'); kq2:=st2;
End;
End;
End
Else If (ch='P') then {P}
Begin
can(2, '5', '6', '1', ' ', '7', '8', '2', ' ');
If (ch='T') then {PT}
Begin
can(3, '5', '2', ' ', ' ', '3', '4', ' ', ' ');
If ch='T' then kq(5, st1);
If ch='P' then kq(2, st2);
If ch='C' then kq(6, st1);
End
Else If (ch='P') then {PP}
Begin
can(3, '7', '1', ' ', ' ', '3', '4', ' ', ' ');
If ch='T' then kq(7, st1);
If ch='P' then kq(1, st2);
If ch='C' then kq(8, st1);
End
Else If (ch='C') then {PC}
Begin
can(3, '3', ' ', ' ', ' ', ' ', '4', ' ', '');
If ch='T' then kq(4, st2);
If ch='P' then kq(3, st2);
If ch='C' then
Begin
Writeln('Trả lời sai !'); kq2:=st2;
End;
End;
End
Else If (ch='C') then {C}
Begin
can(2, '9', '10', '11', ' ', '1', '2', '3', ' ');
If (ch='T') then
{CT}
Begin
can(3, '9', ' ', ' ', ' ', '10', ' ', ' ', ' ');
If (ch='T') then kq(9, st1);
If (ch='P') then kq(10, st1);
If (ch='C') then kq(11, st1);
End
Else If (ch='P') then {CP}
Begin
can(3, '9', ' ', ' ', ' ', '10', ' ', ' ', ' ');
If (ch='T') then kq(10, st2);
If (ch='P') then kq(9, st2);
If (ch='C') then kq(11, st2); End
Else If (ch='C') then {CC}
Begin
can(3, '12', ' ', ' ', ' ', '1', ' ', ' ', ' ');
If (ch='T') then kq(12, st1);
If (ch='P') then kq(12, st2);
If (ch='C') then Writeln('Trả lời sai!');
kq1:=12;
End;
End;
End;
(* Chương trình chính*)
Begin
Clrscr;
play;
Writeln(' Quả thứ', kq1, kq2);
Writeln(' Nhấn Enter kết thúc ');
Readln;
End.
Bài 6/1999 - Giao điểm các đường thẳng
(Dành cho học sinh THPT)
Program Bai6;
(* Tinh so giao diem cua n duong thang 0 trung nhau *)
Uses Crt;
Const
fn = 'P6.INP';
fg = 'P6.OUT';
max = 100;
exp = 0.0001;
Var
a ,b ,c : array[1 max] of real;
n : integer;
sgd : integer;
Procedure Nhap;
Var
f: text;
i: integer;
Begin
Assign( f ,fn ); Reset( f );
Readln( f ,n );
For i := 1 to n do
Readln( f ,a[i] ,b[i] ,c[i] ); { ax + by = c }
Close( f );
End;
(* *)
Procedure Chuanbi;
Begin
sgd := 0;
End;
(* *)
Function Giaodiem( i ,j : integer;Var x ,y : real ) : boolean;
Var
d ,dx ,
dy : real;
Begin
d := a[i] * b[j] - a[j] * b[i];
dx := c[i] * b[j] - c[j] * b[i];
dy := a[i] * c[j] - a[j] * c[i];
If d <> 0 then
begin
x := dx / d;
y := dy / d;
end;
giaodiem := d <> 0;
End;
(* *)
Function Giatri( i : integer;x ,y : real ) : real;
Begin
Giatri := a[i] * x + b[i] * y - c[i];
End;
(* *)
Function bang( a ,b : real ) : boolean;
Begin
bang := abs( a - b ) <= exp;
End;
(* *)
Function Thoaman( i ,j : integer;x ,y : real ) : boolean;
Var
ii: integer;
Begin
Thoaman := false;
For ii := 1 to i - 1 do
If (ii <> j) and bang( giatri( ii ,x ,y ) ,0 ) then
exit;
Thoaman := true;
End;
(* *)
Function Catrieng( i : integer ) : integer;
Var
ii , gt:integer;
x, y : real;
Begin
gt := 0;
For ii := 1 to i do
If giaodiem( i ,ii ,x ,y ) then
If thoaman( i ,ii ,x ,y ) then Inc( gt );
catrieng := gt;
End;
(* *)
Procedure Tinhsl;
Var
i : integer;
Begin
For i := 1 to n do
Inc( sgd ,catrieng( i ) );
End;
(* *)
Biển - đại dương
LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Biển - đại dương": http://123doc.vn/document/551601-bien-dai-duong.htm
4
4
-5# !"%"+/+)66
-5# !"%"+/+)66
7,894 :;"
7,894 :;"
<=,>"#,#!
<=,>"#,#!
4*?#*%, @A#B+)*
4*?#*%, @A#B+)*
C.#*D+)*EF+%
C.#*D+)*EF+%
%G#B*+,HI@*).
%G#B*+,HI@*).
2HAI* JH%'AI
2HAI* JH%'AI
2. Đới biển nơng
4-
4-
66+/666
66+/666
7,894 A"+K?#
7,894 A"+K?#
4/*L@#/M*
4/*L@#/M*
N O N :,# P,#:,# #/ - & 1
N O N :,# P,#:,# #/ - & 1
K#9#$#E:D+#Q#$
K#9#$#E:D+#Q#$
#$)D*+,
#$)D*+,
3. Đới biển sâu
4. Đới biển thẳm
R ;666
R ;666
41K#'% .#/%%S' ;+,+T
41K#'% .#/%%S' ;+,+T
2K D +@ T 9 #,#
2K D +@ T 9 #,#
1K#F%S' ;
1K#F%S' ;
4/*F+ "L#K'+K?#
4/*F+ "L#K'+K?#
/+1+
/+1+
4 1S#+K?#0+U ;+,+T2K
4 1S#+K?#0+U ;+,+T2K
D# +) " #*@' M #,# TV #$
D# +) " #*@' M #,# TV #$
MD#&##
MD#&##
Thành phần, tính chất và
Thành phần, tính chất và
chuyển động của nước biển
chuyển động của nước biển
4%1$'U#
4%1$'U#
4S#"*W
4S#"*W
R*
R*
P+)
P+)
1
1
.
.
Thành phần hóa
Thành phần hóa
học của nước biển
học của nước biển
XK# #5' Y ; D@ ; D
K?Z[
P,#AS K#\
]
^:
]
P^
]
_P^
`
]
P^
`
2.
2.
Tính chất vật lý của nước biển
Tính chất vật lý của nước biển
Nhiệt độ\FVa+)#'@b+)K#
Ecd
6
P@Va+)"%b+)+T
6
6
P@#'"#$+/6
6
Pe2K"%b
+)K+DJ+O
Tỷ trọng:F6
6
P+)9EK@f U
K#6g[#
)9NEf U
N
Áp suất:A:D@,%"#'N
;e+)666,%"#$+/6
Y
h'
pH:Yig
3. Sinh vật biển
3. Sinh vật biển
R * F #$ jk U A F 3# +O'
R * F #$ jk U A F 3# +O'
K# 9 #f #$ d ) * #$ 66666
K# 9 #f #$ d ) * #$ 66666
D@.#*d666#/B
D@.#*d666#/B
4. Chuyển động của nước biển
R$\2$l$/%:G#9K#@2.#
',,%.#A+!T '.#/%/
#K##+)2T$
XK##+)2\$@.'+JAS
,%@.#G9 @9 N@+)+"@Gm'@
.#;b##'f U@+)9b+)
R$#$#,#/D+f$@+,$@#!
2 #' $ <@ ; +) $ _@ ' #1
/+$+cn<
Sóng nước sâu
Sóng nước nông
Sóng ở bờ
Sóng thường
Sóng vỗ bờ
Sóng bạc đầu
Tiểu phẩm hài của Dave Barry
LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tiểu phẩm hài của Dave Barry": http://123doc.vn/document/552773-tieu-pham-hai-cua-dave-barry.htm
Ngồi giữa gian bếp nhà mới, quanh tôi là hàng trăm hộp các tông đủ loại kích cỡ khác nhau, trên từng
chiếc hộp đều dán nhãn rõ ràng "BETH". Vợ tôi, Beth, đang cẩn thận mở một chiếc hộp. Cô ấy cắt lần
lượt nhiều lớp băng keo, mở nắp hộp và lôi ra một vật được gói kín trong 2000 mét vuông giấy báo. Cô
ấy mở gói giấy ra, hết lớp này đến lớp khác, và đây là cái thứ đã được gói ghém cẩn thận đến như thế:
một tách cà phê.
Trong ấy vẫn còn một ít cà phê.
Nếu quí vị thắc mắc là tại sao chúng tôi lại đi gói tách cà phê cùng với cà phê trong đó, xin được thưa
rằng: chúng tôi không ngớ ngẩn như vậy. Chúng tôi NGỚ NGẨN HƠN THẾ NHIỀU. Ðiều mà chúng tôi
đã làm LÀ TRẢ TIỀN THUÊ NGƯỜI KHÁC để gói tách cà phê ấy lại.
Ở đây tôi muốn nói đến những thợ chuyển nhà chuyên nghiệp. Họ học thành nghề ở những trường đào tạo
đặc biệt. Ðây là ví dụ trong một bài ở kì thi tốt nghiệp:
Khi bạn đang gói ghém đồ đạc cho khách hàng thì đột nhiên bạn phát hiện một thi thể mình đầy thương
tích trong nhà. Bạn phải làm gì trong tình huống ấy:
a. Gọi xe cứu thương
b. Báo cảnh sát
c. Gói ghém cẩn thận trong giấy báo và xếp vào hộp các tông.
Tất nhiên câu trả lời đúng là câu (c) - một thợ chuyển nhà chuyên nghiệp phải có trách nhiệm gói ghém
cẩn thận BẤT KÌ THỨ GÌ. Nếu như hồi chiến tranh vùng vịnh năm 1990, tổng thống George Bush cử
một đoàn thợ chuyển nhà chuyên nghiệp sang Kuwait thì chắc chắn hôm nay toàn bộ quân lực Iraq đã
được đóng gói cẩn thận trong hàng triệu chiếc hộp để ngoài sa mạc và được dán một loại nhãn giống
nhau: "IRAQ" (hoặc là "BETH" cũng vậy). Và ngài Saddam Husein phải mất vài thập kỉ mới khôi phục
được quân đội: " Thử mở hộp này xem trong đó là gì nhỉ Úi chà! Lại hạ sĩ! Không biết bọn binh nhì của
mình được xếp vào hộp nào kia chứ!"
Ðấy chính là tình huống của chúng tôi hôm nay, đầy nhà những hộp là hộp.
Hôm nay vợ chồng tôi phải chuyển nhà vì ngôi nhà cũ đã bị hư hỏng sau vụ núi lửa Andrew. Mới đầu
chúng tôi tưởng có thể sửa lại được, nhưng đến khi xem lại bản dự toán của tay chủ xây dựng thì:
Chủ xây dựng: Ðấy, hai ông bà thấy chỗ kia chứ?
Chúng tôi: Chỗ nào nhỉ?
Chủ xây dựng: Chỗ cái cây đổ trên dầm cái ấy.
Chúng tôi: Cái ấy gọi là "dầm cái "à?
Chủ xây dựng (nói với tay giúp việc): Quay ra xe lấy bản dự toán lại đây. Tớ phải điền thêm mấy con số
không vào mới được.
Vậy là phải đại tu căn nhà cũ. Mà quí vị biết đấy, để đưa căn nhà trở về nguyên trạng ban đầu, vợ chồng
tôi phải qua ba bước như sau:
Bước 1: Chúng tôi chuyển ra khỏi nhà.
Bước 2: Chúng tôi dọn đến tạm ở một nơi trung gian.
Bước 3: Chúng tôi chết già ở đấy.
Lí do của bước số 3 là thời gian để đại tu một căn nhà - không tin, quí vị thử hỏi ai đó đã từng đại tu nhà
mà xem - là không thể kết thúc trong thời gian sống của quí vị được.
Cuối cùng sau khi nhượng lai căn nhà cũ cho một người tên là Frank, chúng tôi cũng dọn đến nhà mới.
Một căn nhà hoàn toàn mới, ở đó mọi thứ như bồn nước, máy giặt đều hoạt động, tường và sàn nhà đều
trát kín và sạch sẽ, hơn nữa đằng sau nhà không bốc ra cái mùi ẩm thấp và hôi hám. Tóm lại là hoàn toàn
khác ngôi nhà cũ (xin lỗi Frank, hi vọng cậu sẽ sớm quen thôi!) Và sau lần đầu tiên trong đời chúng tôi
được bước vào nhà mới của chính mình, thì một cảm giác lâng lâng khoan khoái dễ chịu tràn ngập trong
khoảnh khắc 10 giây, đó là thời gian đủ để chú chó thứ hai của chúng tôi, Zippy, tìm được một chỗ đệm
trắng và làm bậy một bãi (chuyện thật, không bịa một tí nào). Nhưng vợ chồng tôi không hề phạt nó, vì
biết rằng trong đầu nó đang diễn ra phép tư duy logic tam đoạn luận của loài chó:
1. Không được đi bậy trong nhà mình
2. Ðây không phải là nhà mình
3. Vậy, có thể đi bậy.
Tất nhiên chúng tôi nhanh chóng quên đi lỗi lầm của Zippy vì còn có nhiều việc khác phải làm cho ngôi
nhà mới. Chẳng hạn tạo vài đường rạch trên thảm cũng như hàng đống vết tay trên tường. Và chúng tôi
bắt đầu làm ngay, với mong muốn tràn trề là sẽ được đón nhận nhiều năm tháng hạnh phúc ở căn nhà mới
này. Trong thời gian chờ đợi ấy, chúng tôi hi vọng sẽ may mắn xác định được cái hộp đựng thằng cu Rob,
con trai tôi.
ĐÀN ÔNG SAO NGẦN NGẠI HỨA HÔN
Hôm nay tôi xin phép tiếp tục sêri bài viết LỐI NGHĨ ĐÀN ÔNG với đề tài nhức nhối "tại sao đàn ông
không chịu tiến đến hôn nhân?"
Vấn đề là ở chỗ: Tại sao một anh chàng lại vẫn có thể nói được rằng anh ta chưa sẵn sàng để chính thức
đi đến cuộc sống gia đình với một cô gái hiển nhiên tương hợp với anh ta; cô gái mà anh ta đã gần gũi âu
yếm trong nhiều năm; cô gái đã có lần phải lấy ô tô của mình đưa con chó của anh ta đến bác sĩ thú y vì
nó bắt đầu nôn mửa dữ dội sau khi chén sạch chiếc bánh ga tô sinh nhật (kèm theo cả nến) mà cô ấy đã
tốn bao công sức làm nên từ khâu ủ bột đánh kem cho anh ấy. Kết quả là trong năm năm trời chiếc ô tô
mới mua của cô ấy luôn bị ám cái mùi không khác gì mùi vệ sinh ngoài sân vận động; để rồi sau tất cả
những thứ đó anh chàng vẫn còn nói được rằng anh ta CHƯA SẴN SÀNG? Và tại sao chính cái anh
chàng ấy, thậm chí từ khi lên bảy, lại có thể đăng kí suốt đời một cách nhiệt tình nhất, tạo dựng mối quan
hệ sống còn thân thiết nhất với một câu lạc bộ tầm phào nhất, mà ở đó chẳng bao giờ có ai bỏ chút thời
gian gửi cho anh một tấm bưu thiếp?
Lí do tôi muốn đề cập đến chủ đề nhức nhối này hôm nay là vì tôi vừa nhận được bức thư của cô gái tên
là Suzanne. Cô ấy yêu một anh chàng tên là Gary. Sau khi hai năm đi lại với nhau, Gary nói với Suzanne
rằng anh ấy cảm thấy - đây là cách tư duy cổ điển truyền thống của cánh đàn ông - rằng họ đã đến lúc
phải quyết định, hoặc là chia tay hoặc là đi đến hôn nhân. Tất nhiên, với lí do "chưa sẵn sàng" nên Gary
thôi không đến gặp Suzanne nữa. Vì thế nên bây giờ Suzanne - như cô ấy bầy tỏ trong thư - rất đau khổ,
đến mức "tấn công tất cả những thanh sôcôla trong vòng bán kính 8 mét".
"Thưa ông Dave," Suzanne viết, "tôi thật không hiểu tại sao lại có loại con trai quan tâm thăm viếng cái
máy thanh toán tiền tự động (ATM) hơn cả người yêu của mình. Gary vẫn hay đọc trang Tiểu Phẩm Hài
thường kì của ông, vậy xin ông hãy viết một bài nào đó rằng tại sao con trai lại nhất quyết không chịu từ
bỏ cuộc sống tự do, hoặc giả tại sao con trai lại không nhận thức được thế nào là một người vợ hiền khi
cô ấy đập lên đầu anh ta bằng cơ hoành của mình."
Suzanne cũng yêu cầu tôi hãy "tàng ẩn một thông điệp tiềm thức trong bài viết này" để khuyến khích
Gary nhanh chóng đến với hôn nhân. Tất nhiên, với trình độ một nhà văn chuyên nghiệp, tôi đâu cần phải
viện đến những xảo thuật tâm lí ấy (Gary! Hãy cưới Suzanne đi!) Nhưng trước tiên tôi thiết nghĩ là chúng
ta hãy xem xét đôi chút về những vướng mắc của cánh đàn ông khi hứa hôn. Vướng mắc này thường làm
phụ nữ đưa ra một kết luận vội vã rằng tất cả giới đàn ông dẫu có sự gắn bó say đắm nhất thì cũng chỉ
bằng lũ chuột đồng. Ðiều ấy không đúng. Một chú chuột đồng hoàn toàn có thể quan hệ lâu dài và vững
chắc với một cô gái, nhất là nếu cô ấy nhử cho nó những viên thức ăn. Còn với đàn ông thì khác, anh ta sẽ
chén dần những viên tình cảm của cô gái ban cho và chạy quanh trong bánh xe ham muốn; nhưng ngay
khi anh ta nhận ra rằng cánh cửa hứa hôn sắp sửa sập xuống để vĩnh viễn nhốt anh ta trong cái lồng sắt
gia đình, anh ta sẽ quay ngoắt, vội vàng chạy trốn qua cánh cửa chưa kết hôn của nhà bếp và chui xuống
ẩn mình dưới tủ lạnh chưa sẵn sàng.
Hành xử như thế rất thông thường (Hãy trao tặng cô ấy nhẫn cưới đi, Gary!) Ðàn ông vốn được sinh ra
với một tâm thái cơ bản, mang tính di truyền mà môn Tâm Lí Học gọi là: nỗi sợ hãi rằng một khi anh ta
cưới vợ, thì có những đàn ông độc thân khác, sống ở đâu đó, sẽ có nhiều vui thú hơn anh ta. Cánh đàn
ông có vợ vốn vẫn cho rằng đàn ông độc thân sống một cuộc sống tràn đầy những hoạt động sôi nổi kiểu
như đi xem trình diễn hoa hậu thời trang, nhưng trên thực tế những buổi tối kịch tính nhất của cánh đàn
ông độc thân thường chỉ là dán mắt vào Những Vụ Án Li Kì Nhất Nước Mĩ trên màn hình ti vi trong khi
bốc bim bim ăn. Tình trạng của cánh đàn ông có vợ cũng giống hệt như thế, nhưng thống kê cho biết rằng
ở đây thường người ta phải dùng thìa.
Ðàn ông độc thân còn lâu mới có được lối sống ấm cúng như vậy, chính vì thế mà họ rất bất hạnh. Tôi kết
luận như vậy dựa trên tình cảnh anh bạn chưa vợ Randall. Hồi xưa chúng tôi cùng cảnh độc thân, sống
với nhau trong căn hộ được bài trí bằng hàng đống quần áo chưa giặt và một con thỏ uống bia. Rốt cuộc
tôi đã hiểu ra và đi lấy vợ, còn Randall thì vẫn ở mãi như vậy. Thế là tôi gọi điện thăm Randall để kiểm
chứng rằng hiện nay anh ta đang phải chịu đựng một nỗi trống trải đau khổ trong đời.
"Randall", tôi nói, "Chắc chắn bạn đang phải chịu đựng nỗi trống trải đau khổ trong đời chỉ vì bạn không
chịu đi đến hôn nhân."
"Không, đâu có chuyện đó", Randall nói.
(Gary, đừng tin lời nói ấy!)
Tất nhiên Randall nói thế chẳng qua chỉ để che dấu nỗi dằn vặt sâu thẳm trong lòng mà thôi.
"Randall", tôi nói tiếp, "Bạn đâu cần phải che giấu nỗi dằn vặt sâu thẳm trong lòng như thế."
"Hả?"
(Ðàn ông vốn dĩ vẫn cưới vợ trong hàng triệu năm. Gary! Chớ có làm đứt chuỗi xích ấy!)
Randall với ảo tưởng đáng cảm động trên đây là một ví dụ điển hình về đàn ông không chịu lập gia đình.
(Raymond L. Womberto ở Toledo, bang Ohio làm đứt xích, và hôm sau anh ta bị xe trộn ximăng cán
chết!) Chúng ta chỉ có thể hi vọng rằng, khi đàn ông dần dần hiểu được tâm tư tình cảm của chính mình,
họ sẽ vượt qua những e ngại như trên và nhận ra những lợi ích của một gia đình hạnh phúc. Về phần tôi,
tôi đã có vợ trong 2368 năm, và tôi có thể tuyên bố không chút do dự rằng qua mỗi ngày, cuộc sống gia
đình chúng tôi lại càng thú vị và lãng mạn hơn. (Vợ tôi đang đứng bên cạnh)
CẦN TUYỂN: NÔNG NÔ
Mỗi người chúng ta nên chọn cho mình một nghề nghiệp. Một công việc ổn định sẽ đem đến cho quí vị
tiền bạc để tiêu, và một cái gì đó để làm từ Thứ Hai đến Thứ Sáu hàng tuần, khi mà chương trình ti vi
chẳng có gì thú vị.
Có một thực tế: mặc dù nhiều bạn trẻ rất muốn, nhưng tìm cho được một việc làm tốt để mở đầu cho sự
nghiệp tiến thân lâu dài, là một trong những khó khăn bậc nhất hiện nay. Hãy tin tôi, dẫu thế nào đi nữa,
hoàn cảnh bây giờ vẫn còn tốt hơn rất nhiều so với những năm trước đây. Thí dụ thời Trung Cổ chẳng
hạn, chỉ có hai việc làm tốt, đó là làm vua và quí tộc. Hơn nữa, hầu như không có cơ may nào cho quí vị
thi tuyển vào những chức vụ này. Vì vậy người ta hầu hết đành chọn vào làm nông nô hoặc chiến binh.
Mục "Tìm Việc" ở một tạp chí thời Trung Cổ thường có nội dung kiểu như sau:
CẦN TUYỂN NÔNG NÔ - Yêu cầu thành thạo chăn dắt và ăn ngủ với cừu; biết làm đất và gieo hạt bằng
que. Phải tự trang bị que. Cừu sẽ được giao khi nhận việc.
CẦN TUYỂN CHIẾN BINH - Yêu cầu thành thạo đâm chém và cướp bóc. Có thói quen sống tập thể và
ở ngoài trời.
Những việc làm như vậy nói chung không hứa hẹn tiến thân là mấy. Cứ cho là quí vị làm xuất sắc công
việc của một nông nô đi nữa, thì cùng lắm là quí vị dành dụm được ít tiền và trở thành nông dân. Còn nếu
quí vị là một chiến binh tận tuỵ? May mắn là sau hai mươi năm chinh chiến, tiểu đội trưởng sẽ tặng quí vị
một chiếc đồng hồ vàng, và rồi sẽ giết quí vị để đoạt lại.
Tình hình bây giờ đã khá hơn nhiều. Nhưng quí vị vẫn phải hết sức thận trọng khi lựa chọn công ăn việc
làm, bởi vì rất dễ bị thông tin đánh lừa. Chẳng hạn nếu quí vị xem quảng cáo trên ti vi để tìm việc, quí vị
sẽ được thuyết phục rằng nếu gia nhập quân đội, thì khi giải ngũ quí vị đã tiếp thu được rất nhiều kĩ năng
nghề nghiệp. Chắc quí vị hiểu tôi muốn nói cái quảng cáo nào rồi chứ: họ chiếu những người lính đang
sửa chữa xe tăng hoặc đang nhảy dù ở trên ti vi. Tôi không định nói rằng những kĩ năng nghề nghiệp ấy là
không hữu ích. Tôi chỉ muốn nói rằng những nhân vật tầm cỡ ngoài xã hội, ví dụ như tổng giám đốc điều
hành IBM, hầu như không bao giờ có nhu cầu phải sửa xe tăng hay nhảy dù gì cả. Những doanh nhân
thực sự thành đạt bao giờ cũng đợi hạ cánh an toàn rồi mới bước ra khỏi máy bay.
Một nguồn thông tin sai lệch nữa là trường học. Thầy giáo ở cổng trường luôn dạy học sinh, nếu muốn
thành công trong sự nghiệp, thì học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều kiến thức, ví dụ thủ đô của Bolivia
tên là gì. Quí vị có thực sự tin rằng một người thành đạt có thể nói được tên thủ đô của Bolivia? Tất nhiên
là không. Chỉ có mỗi một người có thể nhớ được tên thủ đô của Bolivia: đó chính là thầy giáo. Liệu quí vị
có muốn trở thành giáo viên hay không? Liệu quí vị có muốn dành trọn thời gian còn lại của cuộc đời
mình để đứng trên bục và giảng dạy cho một lũ trẻ thò lò mũi xanh rằng chúng phải nhớ tên thủ đô của
Bolivia là gì hay không? Tất nhiên là không. Ðiều quí vị muốn là làm thế nào kiếm được nhiều tiền, được
ngồi trong một văn phòng sang trọng, tiện nghi đầy đủ, có nhiều nút ấn và chỉ cần ấn một nút là có ngay
một tách cà phê. Kết luận: quí vị nên ghi nhớ càng ít càng tốt những kiến thức vô bổ ở học đường và sau
khi tốt nghiệp hãy kiếm ngay một công việc trong chính phủ.
Chính phủ là nới có rất nhiều công việc hấp dẫn. Ví dụ nếu quí vị được làm cựu tổng thống Hoa Kì chẳng
hạn. Ðây là công việc rất hời, quí vị được trả lương hậu hĩ và hầu như không phải làm gì cả. Việc duy
nhất quí vị phải làm là viết hồi kí, và thực ra hồi kí ấy cũng sẽ chẳng có ai đọc. Nếu được làm cựu tổng
thống, quí vị chỉ cần giở một trang ở tập bốn bộ Bách Khoa Toàn Thư Liên Hiệp Anh và chép ra, rồi
tuyên bố đó là hồi kí của quí vị.
Quí vị cũng nên thử vào làm chánh án toà án tối cao quốc gia. Lương cũng cực kì hấp dẫn và quí vị hầu
như sẽ không bao giờ bị đuổi việc, trừ khi quí vị bị phóng viên đưa lên báo là đang ở trần truồng ngoài
đường hoặc một cái gì đó tương tự. Quí vị cũng sẽ không nhất thiết phải hiểu biết gì về Pháp luật. Nếu bị
ai hỏi, một chánh án toà án tối cao chỉ cần nói: "Tôi chưa thể kết luận được. Hãy để tôi tham khảo ý kiến
hai bên và ý kiến các luật sư khác." Sau đó quí vị chỉ cần bỏ phiếu theo số đông là xong. Công việc thực
sự duy nhất mà quí vị phải làm là mặc bộ đồ váy của chánh án.
Nếu không thể kiếm được việc làm trong Chính phủ, quí vị có thể thử sang làm việc bên các hãng tư nhân
và cổ phần. Tất nhiên, công việc ở đây không được hời lắm như công việc trong Chính phủ, bởi vì đa số
các hãng đều đòi hỏi quí vị phải thực sự làm việc. Hiển nhiên công việc tốt nhất là làm Tổng Giám đốc
Điều hành, mặc dù chức vụ này cũng tiềm tàng nhiều cạm bẫy. Chẳng hạn khi Lee Iaccocca được làm
tổng giám đốc điều hành hãng Chrysler, ông ấy cứ tưởng rằng sẽ được ngồi yên suốt ngày trong văn
phòng, ăn vận và chi tiêu những thứ đắt tiền, thỉnh thoảng mới phải kí vào các giấy tờ do thư kí đưa lên.
Nhưng thay vào đó, thỉnh thoảng ông lại phải xuất hiện trước công chúng, trước những phóng viên truyền
hình, rồi phải bị bẽ mặt trước hàng loạt câu hỏi, và cuối cùng phải tuyên bố rằng nếu ai mua ôtô của ông,
ÔNG SẼ TRẢ TIỀN cho người ấy.
Có lẽ công việc tốt nhất trong lãnh vực công ti tư nhân và cổ phẩn, là làm công nhân xây dựng. Thoạt
nghe thì đó có vẻ là một công việc nặng nhọc, suốt ngày bưng bê các đồ vật nặng để xây nhà cao ốc.
Nhưng quí vị thử quan sát thật kĩ những công nhân xây dựng xem, họ có làm gì đâu. Họ chỉ đi đi lại lại,
uống cà phê và hò hét với nhau. Chứ tôi có thấy họ xây dựng toà cao ốc nào đâu. Tôi cũng thật sự không
biết ai xây dựng những toà nhà ấy. Phải chăng chúng được xây vào đêm. Có lẽ là do những bàn tay của
nông nô.
NGHỀ ĐI HỌP
Muốn thăng quan tiến chức chóng vánh trên con đường sự nghiệp? - Ðiều kiện tiên quyết là nắm vững
công việc của mình, tất nhiên rồi. Chẳng hạn quí vị cần nắm được mình phải làm những gì ở văn phòng
công sở. Như vậy, việc đầu tiên là hãy hỏi những đồng nghiệp chung quanh: "Tên công việc của tôi là
gì?" Nếu câu trả lời là: "Giám đốc Kế hoạch" hoặc là "Chánh Văn phòng" thì quí vị có thể yên tâm ngồi
đọc tiểu phẩm hài cũng như chơi bài Solitaire cho đến ngày nghỉ hưu. Tuy nhiên hầu hết các vị trí khác
không có được cái may mắn ấy bởi vì quí vị phải thực sự làm việc.
Tại các hãng và các công ti ngày nay, có hai loại việc chính như sau:
1. Nhận phone cho những vị đang bận họp.
2. Ði họp.
Chiến lược then chốt ở đây là làm thế nào để nhanh chân lọt vào vị trí mà thời gian dành cho loại việc số
hai là chính, bởi vì chỉ có những vị trí ấy mới là những vị trí uy tín và chất lượng.
Kể ra thì việc nhận thông điệp qua phone cũng thú vị đấy, nhưng liệu có được hay chăng cái uy quyền to
lớn là chỉ cần tặc lưỡi ẩu một cái là hàng nghìn người phải liêu xiêu xẹo vẹo? Ðiều đó chứng minh rằng
chỉ có Nghề-Đi-Họp mới thực sự đem lại sức mạnh cho quí vị mà thôi.
Cuộc họp đầu tiên diễn ra vào thời đại đồ đá. Câu chuyện như thế này: Vào thời đồ đá, nhiệm vụ của đàn
ông là bắt thú vật và đem chúng về cho đàn bà. Nhiệm vụ của đàn bà là tìm cách chế biến thịt những con
thú ấy. Khó khăn là ở chỗ đàn ông thì chậm chạp, trần như nhộng và lạnh lẽo; còn thú vật thì rất ấm áp và
nhiều lông như những con sơn dương. (Thực ra chính là những con sơn dương, nhưng mãi sau này người
ta mới phát minh ra điều ấy).
Cuối cùng một ông nói, "Tại sao chúng ta không ngồi với nhau để suy nghĩ và tìm ra một cách săn bắt thú
vật tốt hơn nhỉ?" Tất cả diễn ra rất tốt đẹp, hơn nữa ngồi thành vòng tròn sẽ cảm thấy ấm áp, sảng khoái
hơn nhiều so với việc chạy rông ngoài rừng. Thế là họ lại hẹn tổ chức họp lại vào hôm sau, và hôm sau
nữa, hôm sau nữa, vân vân
Nhưng đàn bà nhanh chóng nhận ra rằng với cung cách này, đàn ông chẳng kiếm chác được gì và thế là
loài người lâm vào cảnh đói ăn. Ðàn ông cũng đồng ý rằng vấn đề này rất nghiêm trọng và đánh dấu điều
đó ngay lên đầu "Lịch họp tuần tới"(!). Và thế là đàn bà đành phải tự giải quyết bằng cách chuyển sang ăn
rau quả và ngũ cốc. Nông nghiệp đã ra đời như vậy đấy. Một bước chuyển lịch sử vô vàn quan trọng từ
chế độ săn bắt sang chế độ trồng trọt mà nếu không nhờ cơ chế họp hành thì có lẽ đã không xảy ra.
Họp hành trong xã hội loài người đã thay đổi nhiều về hình thức. Nhưng bản chất vẫn giữ nguyên như cũ.
Ngày nay có hai loại họp chính:
1. Họp theo thói quen. Ví dụ hiện nay có rất nhiều cán bộ thích họp vào Thứ Hai hàng tuần, đơn giản chỉ
vì đó là Thứ Hai hàng tuần. Lâu rồi thành quen. Quí vị rồi cũng quen thôi, bởi vì có tất cả 83,2% những
cuộc họp hiện nay thuộc vào loại này - dựa trên những con số thống kê của tôi (theo phương pháp nghiên
cứu là: tôi viết ngẫu nhiên một con số nào đó đến khi thu được một con số trông giống như thật).
Loại họp này tiến hành tương tự lối "Ðứng Lên Phát Biểu" như trong giờ học "Em Tập Làm Y Tá" tại
trường phổ thông, ở đó mỗi người phải lần lượt đứng lên phát biểu một cái gì đó. Khác nhau ở chỗ mỗi
em học sinh đều có ý kiến mới mẻ, còn trong cuộc họp thì mỗi vị, khi đến lượt mình, liền đứng lên phát
biểu rằng mình vẫn đang tiến hành công việc mà mình cần phải làm. Ðiều này rất chi là ngớ ngẩn, bởi vì
hiển nhiên quí vị phải vẫn đang làm cái việc mà quí vị cần phải làm. Vả lại dẫu quí vị có thật sự đang
không làm cái việc ấy đi nữa thì quí vị vẫn cứ phải tuyên bố là quí vị đang làm cái việc mà quí vị cần phải
làm. Nói chung sẽ đỡ tốn thời gian hơn rất nhiều nếu cán bộ chủ trì cuộc họp đứng lên yêu cầu: "Ai vẫn
đang làm cái việc mà mình cần phải làm, đề nghị hãy giơ tay lên!" và cuộc họp chắc chắn sẽ diễn ra
không quá năm phút, kể cả thời gian tán gẫu. Ðáng tiếc là chính phủ Hoa Kì đã cấm cách làm này.
2. Họp nhắm vào một mục đích nào đó. Vấn đề ở đây rất tế nhị bởi vì còn tuỳ vào mục đích họp là gì.
Nhiều khi mục đích họp hoàn toàn vô hại, ví dụ ai đó muốn mở cuộc họp để chiếu lên bảng một số hình
đồ thị hình tròn hay dẹt rồi cuối cùng phát cho mỗi người một tập báo cáo dầy cộp. Nhiệm vụ của quí vị
là ngồi yên ở ghế, thỉnh thoảng tỏ ra là đang quan tâm đến chủ đề, cuối giờ mang tập báo cáo về phòng
rồi cho vào sọt rác, trừ phi nếu quí vị là phó Tổng Giám đốc thì quí vị cần ghi tên ai đó vào góc trên bên
phải tập tài liệu, ví dụ "Norm", sau đó đưa cho thư kí chuyển cho Norm và quí vị quên tập tài liệu đó đi.
Nhưng cũng có những cuộc họp mà ở đó quí vị phải "đưa ra" một số thông tin và nhận định nào đấy. Vấn
đề khi này rất nghiêm trọng, bởi vì điều đó có nghĩa là mọi người muốn được thấy rằng hễ sau này có sự
cố sơ sảy gì thì quí vị sẽ phải gánh chịu đâu đó vài phần trách nhiệm. Vì thế quí vị phải nhanh chóng tìm
cách chuồn trước khi mọi người đinh đặt câu hỏi. Cách tốt nhất là để cà phê rớt ra quần. Nếu không thể
làm như vậy thì quí vị hãy nói rằng quí vị cần phải nhận một cú phone từ một nhân vật đặc biệt quan
trọng, ví dụ Tổng Giám đốc, hoặc Tổng thống, hoặc người hành tinh khác.
Quí vị cũng cần phải học cách ghi chép trong cuộc họp. Hãy mua một quyển sổ đẹp bìa đỏ chữ vàng. Tại
dòng trên cùng trang giấy, quí vị hãy ghi ngày tháng thật rõ ràng, sau đó gạch đít hai lần bằng bút đỏ. Bây
giờ đến lúc ngồi đợi nhân vật quan trọng nhất lên phát biểu, ví dụ như sếp của quí vị. Khi đó quí vị phải
chăm chú lắng nghe, tỏ ra là mình đang nuốt từng lời của sếp dường như đó là những lời vàng ngọc được
thốt ra từ một cái miệng minh triết như thể là để mở toang cánh cửa kì diệu dẫn đến một thế giới thiên
đường kì vĩ. Quí vị ghi lại tóm tắt, gạch đầu dòng những lời vàng ngọc ấy, sau đó cẩn thận đóng khung
nổi bật và phệt bút phớt nhớ dòng màu đỏ thật rõ ràng.
Nếu bài thuyết của sếp kéo dài quá mà ai đó nhỡ ngủ mất và mấy vị khác bỏ ra về, thì quí vị hãy chạy ra
phố đón ngay một tốp người qua đường xa lạ nhất ngồi vào thay thế.
Cũng đừng quên yêu cầu họ vỗ tay khi bài thuyết kết thúc.
VỪA KÍCH THƯỚC
Tôi thật lòng tin tưởng rằng phụ nữ hành xử hợp lí hơn nam giới.
Thí dụ: nếu quí vị trông thấy ai đó chịu chi trả một số tiền lớn, cốt chỉ để đứng hàng giờ đồng hồ tại một
sân vận động ngoài trời tuyết lạnh vào trung tuần tháng Mười Hai trong khi miệng không ngừng gào thét
và mình trần như nhộng, thì tôi tin chắc rằng người đó là đàn ông.
Không có đàn ông, tất nhiên sẽ không có môn "đua xe xén cỏ chuyên nghiệp" mà quí vị vẫn thấy chiếu
trên ti vi ở chương trình "Nghiêng 23,5 độ".
Và cũng sẽ giảm 100% số lượng tử vong hàng năm do lấy chai đập vào đầu khi say rượu.
Cũng sẽ không có những từ kiểu như "Ð.M." trong vốn từ vựng.
Còn nếu phụ nữ lãnh đạo thế giới thì tôi thành thực tin tưởng rằng điều sau đây sẽ xảy ra: sẽ không có các
đụng độ vũ trang giữa các quốc gia nhiều như ngày nay. Ngay cả trong các vụ đụng độ lớn nhất, các
thông điệp trao đổi giữa lãnh đạo cấp cao các quốc gia sẽ phải được viết trên những tấm thiếp ướp hương
thơm phức và ở mặt trước có in hình lẵng hoa các kiểu. Tất nhiên sau đó sẽ là cuộc gặp mặt đàm phán hoà
giải tại nhà hàng sang trọng kèm theo Tiệc Nhẹ Hữu Hảo loại bữa trưa dùng salad, khách dự ăn vận kiểu
quí tộc thể kỉ mười bảy.
Chính vì thế mà tôi thật lòng tin rằng phụ nữ sáng suốt hơn nam giới, chỉ trừ trong một lĩnh vực, một lĩnh
vực quan trọng nhất: "kích cỡ quần áo". Tại lĩnh vực này thì phụ nữ hết sức phi lí.
Khi nam giới đến tiệm, chẳng hạn để mua một chiếc quần, thì mục tiêu của anh ta đơn giản là mua một
chiếc quần vừa vặn với thân hình của anh ta. Anh ta thử một chiếc này, nếu chưa vừa vì bé quá thì anh ta
thử một chiếc khác to hơn. Nếu vừa rồi thì mua. Nói chung đàn ông không tốn phí thời gian đắn đo lắm
về kích thước quần áo. Nhiều người mặc chiếc quần Jean với cái số đo trung thực gắn ngay ở phía đằng
sau, vì thế nếu quí vị có dịp xếp hàng phía sau anh ấy trong siêu thị, quí vị sẽ biết ngay kích cỡ của anh ta
là bao nhiêu. Chẳng hạn khi con số đó nói rằng anh ta có vòng bụng 52 inch, vòng đùi 30 inch, thì có
nghĩa là anh ta hoàn toàn tự tin vào kích thước cơ thể của mình: "Ðấy! Thấy chưa! Có thua gì phần đuôi
xe tải hãng Federal Express đâu!"
Với phụ nữ thì khác hẳn. Nếu một quí cô đến tiệm quần áo, thì mục đích của cô ta KHÔNG PHẢI LÀ
MUA BỘ ĐỒ VẬN VỪA VỚI CƠ THỂ của cô ấy. Tất nhiên cô ta cũng thầm mong mua được thứ đó,
nhưng mục đích chính không phải là như thế. Mục đích chính là mua một cái gì đó với số đo bằng cái số
đo hợp với cô ấy từ hồi 19 tuổi. Thường là một số nào đó từ "8" đến "10". Xin đừng hỏi tôi 8 hay 10 cái
gì. Các nhà khoa học cũng không trả lời nổi quí vị đơn vị của nó là gì đâu! Chẳng hạn nếu một quí cô có
số đo là "8" hồi 19 tuổi, cô ta sẽ đòi thử mua đồ cỡ số 8, vâng, ngay bây giờ! Nếu cô ta thử một bộ số 8
mà không vừa, liệu cô ấy có chuyển sang thử cỡ số khác không? KHÔNG, không thể! TÔI SỐ 8 CƠ MÀ!
Và thế là cô ta lại thử một bộ số 8 khác. Cứ thế cứ thế đến khi cô ấy hoàn toàn thất vọng. Nói chung,
cô ấy sẽ chuyển cái thất vọng ấy sang ông chồng, người đang phải đợi hàng giờ đồng hồ ngoài cổng, có lẽ
đang mải ngắm gian hàng máy ảnh và tần ngần suy nghĩ là có nên chăng mua thêm một chiếc đèn nhại và
ống tele để cải thiện chất lượng hình chụp.
"Em này!" ông chồng hỏi khi tìm thấy vợ ở gian hàng quần áo. "Em biết không, nhiều khi bị mất điện
ngay lúc đêm và "
"Em có béo quá không?" cô vợ ngắt lời.
Ông chồng chẳng còn biết phải trả lời thế nào nữa. Tình hình thật tồi tệ, bởi vì nếu trả lời là "có" thì bà vợ
tất nhiên sẽ cáu, còn nếu trả lời là "không" thì cô vợ lại càng cáu tợn bởi vì thừa biết rằng đó là lời nói dối
quá ư là trắng trợn, KHI MÀ CHẲNG CÒN BỘ SỐ 8 NÀO VỪA VỚI CÔ ẤY CẢ! Nên chăng các ông
chồng trước khi gặp vợ phải cẩn thận ghé mắt coi xem cô ấy đã chọn được bộ nào ưng ý chưa. Nếu chưa,
thì có lẽ chẳng cần phải giải thích mà cứ lẳng lặng chuồn luôn về nhà, hoặc sang hành tinh khác.
Hôm rồi vợ tôi, Michelle, đã tỏ ra rất khoái, quí vị biết tại sao không? Bởi vì cô ấy mua được một bộ váy
mặc vừa xinh mà chỉ có cỡ số 6. Cô ấy rất thoả mãn và nói (tôi xin dẫn nguyên văn): "Kể cả cái váy to
bằng ngần này này (nàng giang rộng hai tay) em cũng vẫn mua miễn nó mang cỡ số 6."
Ðây là một gợi ý làm giàu cho quí vị. Hãy mở của hiệu quần áo tên là CỬA HÀNG CỠ SỐ 2 mà ở đó
mọi quần áo, từ đồ lót đến đồng phục nhà hàng, đều mang cỡ số 2. Ðảm bảo sẽ bán chạy như bay và quí
vị sẽ giàu sụ chóng vánh. Khi ấy quí vị có thể yên tâm nghỉ hưu để hưởng thụ cuộc đời. Thí dụ, hãy tham
gia câu lạc bộ "đua xe xén cỏ chuyên nghiệp".
TRỌNG TRƯỜNG TRÁI ĐẤT
Cuối cùng tôi xin trân trọng thông báo rằng chúng tôi đã có được lí giải khoa học cho vấn đề tại sao trọng
lượng của chúng ta lại cứ tăng dần lên như vây; ít ra đó cũng là điều đang xảy ra với tôi, mà tôi hoàn toàn
không có lỗi. Chẳng dám giấu quí vị, tôi ăn uống cũng không kiêng khem gì lắm đâu. Thỉnh thoảng khi ở
nhà hàng tôi vẫn gọi món ăn thuộc loại xào và có hàm lượng mỡ cao ("Hey, cho mấy món ăn thuộc loại
xào và có hàm lượng mỡ cao! Lẹ lên!" tôi vẫn gọi đồ ăn như vậy). Nhưng tôi luôn luôn bù lại khi tuân thủ
một chế độ thể dục nghiêm ngặt bằng cách lắc và đổ thật mạnh chai nước sốt - "không làm, không ăn" là
phương châm của tôi với các lọ nước sốt đông cứng tại nhà hàng.
Nhưng dù thế nào đi nữa, trọng lượng của tôi vẫn tăng đều. Quí vị hẳn cũng thế thôi, và vì vậy quí vị chắc
chắn sẽ vui lòng cho phép tôi đưa ra lời giải thích ở đây. Lỗi không phải ở quí vị và tôi. Lỗi ở vũ trụ. Tôi
biết được điều này qua bức thư của một độc giả 14 tuổi ở Massachusetts tên là Tim Wing. Tim thông báo
rằng khi đọc cuốn "Những hiện tượng lạ trên thế giới" đã phát hiện ra là: mỗi ngày, kể cả ngày nghỉ, có
25 tấn hoặc hơn nữa các chất bụi vũ trụ rơi xuống trái đất. Ðiều đó có nghĩa là trái đất ngày càng nặng
lên, mỗi ngày thêm 25 tấn, và lực hấp dẫn của nó tăng lên - một loại lực đặc biệt gồm các tia không nhìn
thấy do Isaac Newton sáng tạo ra để các vật thể vật lí trong vũ trụ hút nhau mạnh hơn.
Kết luận, như Tim Wing đã chỉ ra, "chúng ta chẳng cần phải tăng khối lượng đến một gam, thế nhưng mọi
người trên trái đất vẫn ngày càng nặng thêm lên."
Tồi tệ hơn nữa là đồng thời với việc trái đất tăng trọng trường thì toàn vũ trụ lại không ngừng nở ra, trừ
những chiếc quần. Chúng vẫn giữ nguyên kích thước cũ. Ðó chính là kết luận của thí nghiệm do bác phó
may thực hiện cùng với tôi: "phải dùng một chiếc quần vòng bụng 33 inch hôm nay để vừa cho cái thân
hình vẫn dùng chiếc quần vòng bụng 31 inch trước kia." Thực ra Albert Einstein đã tiên liệu chính xác
điều này vào năm 1923 khi ông đưa ra Thuyết Quần Tương Ðối.
Nhưng nguy cơ lớn hơn nữa là trong khi trọng trường trái đất tăng lên thì an toàn xã hội có nguy cơ giảm
đi. Tôi muốn nói đến một tai nạn xảy ra gần đây ở Ford Lauderable, Florida đã được đăng trên báo Miami
Herald - tôi không bịa đâu nhé - "một con rùa từ trên trời rơi xuống đã rớt trúng một người đi đường."
Mặc dù không có tổn thương gì nghiêm trọng lắm, nhưng điều tôi muốn nói ở đây là hiển nhiên con rùa
kia đã rơi từ một con chim mòng biển nào đó. Tại sao con mòng biển - một loài chim lớn chuyên săn bát
trên biển - lại nhỡ miệng làm rơi con rùa kia chứ? Lí do hiển nhiên là: do trọng lượng con rùa đã tăng lên,
như mọi thứ khác trên quả đất này.
Vậy nếu như bụi vũ trụ cứ tiếp tục rơi xuống, thì mọi thứ sẽ ngày càng tồi tệ hơn. Theo những tính toán
của tôi, thì thật rùng mình khi thấy rằng vào năm 2038 một quả bóng đánh golf sẽ nặng cỡ chục kí hôm
nay. Chính vì vậy chúng ta sẽ phải kêu gọi toàn thể các nhà khoa học trên thế giới hãy dừng tất cả các
nghiên cứu, hãy thôi không đưa ra những cảnh báo này nọ, mà lập tức tìm cách giải quyết bài toán trọng
trường trái đất.
(ba mươi phút im lặng)
Ðấy, quí vị thấy chưa, các nhà khoa học lại một lần nữa làm chúng ta thất vọng, họ để mặc chúng ta,
những công dân luôn phải đóng thuế đầy đủ, phải tự giải quyết bài toán cấp bách này. Nhưng không sao,
tôi đã nghĩ ra một cách giải quyết rất thực dụng: kế hoạch giảm khối lượng trái đất. Ðây là lí luận của tôi:
trục trặc ở chỗ trái đất hàng ngày nhận 25 tấn bụi vũ trụ, đúng chưa? Vậy chỉ cần nạp 25 tấn gì đó vào tên
lửa mỗi ngày và phóng ra vũ trụ là xong.
Quí vị tất nhiên sẽ thắc mắc: "Vậy thì kiếm đâu ra cái thứ nặng đến 25 tấn mỗi ngày, mà hoàn toàn vô
dụng, và nếu quăng ra ngoài vũ trụ sẽ không ai kêu ca và không ảnh hưởng gì đến cuộc sống nhân loại?"
Tôi xin giải đáp mắc mớ trên bằng 3 chữ: "THƯ HẠNG 4". Hàng ngày có đến hơn 25 tấn thư loại này
được vất vả lưu chuyển trên toàn đất Mĩ và được người nhận đưa ngay vào sọt rác mà không cần đọc lướt
đến một chữ. Các chuyên gia xử lí chất thải đánh giá hàng ngày có 78% rác là các bức thư không mở do
Ed McMahon gửi đi với thông điệp rằng mỗi người quí vị đều có cơ hội chắc chắn trúng giải 14 triệu
đôla. Vậy tại sao bưu điện lại cứ phải vất vả chuyển thư? Thay vào đó, chúng ta chỉ cần tống loại thư ấy
vào hoả tiễn và đưa ra ngoài vũ trụ. Nếu chúng ta có nhỡ cho đi hơi quá 25 tấn mỗi ngày chăng nữa, thì
trái đất sẽ giảm trọng lượng và như vậy cũng tốt thôi. Tôi tính toán rằng mỗi công dân trên quả đất sẽ
giảm trọng lượng tương đương với 6 gam, nếu gửi béng cả Ed McMahon ra ngoài vũ trụ.
Kết luận, chúng ta phải bắn mỗi ngày vào vũ trụ một hoả tiễn nặng 25 tấn thư hạng tư, và chúng ta phải
bắt đầu ngay, chứ nếu để đến lúc chúng ta nặng quá phải bò trên mặt đất, trong khi rùa từ trên trời rớt
xuống như mưa thì có lẽ sẽ quá muộn. Nếu quí vị đồng ý với phương pháp này, xin hãy viết ngay một
bức thư đệ trình Quốc Hội, nhớ nhấn mạnh tính khẩn cấp của vấn đề, nhớ nhấn mạnh đến trách nhiệm của
Quốc Hội đối với toàn dân chúng, và xin nhớ yêu cầu dành một chỗ trên hoả tiễn cho Ed McMahon.
HÀNH TRANG KHOA HỌC CỦA QUÍ VỊ
Có thể quí vị chưa nhận ra, nhưng hiện nay chúng ta từng ngày từng giờ đang được thừa hưởng những lợi
ích lớn lao do khoa học đem lại. Ví dụ, khi bật đài quí vị có thể yên tâm là sẽ được nghe âm nhạc phát ra
từ đó; nhưng đã bao giờ quí vị tự ngẫm nghĩ rằng liệu điều kì diệu ấy có xảy ra được không nếu thiếu
vắng đóng góp của các nhà khoa học?
Ðúng thế: bên trong đài chắc chắn phải có các nhà khoa học tí hon đang chơi nhạc!
Vâng, khoa học đóng vai trò sống còn trong cuộc sống của chúng ta: nhưng khi động đến vấn đề hành
trang khoa học thì rất cỏ thể quí vị còn hiểu biết quá ít. Tôi viết như vậy dựa trên một nghiên cứu gần đây
của Tổ chức Khoa học Quốc gia, cho biết hầu hết dân Mĩ không nắm được những định luật cơ bản của
khoa học.
Ðể minh chứng kết luận trên với chính bản thân mình, quí vị hãy thử sức với ba câu hỏi sau đây, trích từ
các câu hỏi của Tổ chức Khoa học Quốc gia:
1. Ðúng hay sai: con người đầu tiên đã từng sống cùng thời với khủng long?
2. Cái gì chuyển động nhanh hơn: ánh sáng hay âm thanh?
3. Hãy cho biết ADN là gì?
***
Quí vị đã xong chưa? Nào, chúng ta thử xem đáp án.
1. SAI. Thực tế là tất cả các con khủng long đã bị diệt chủng khoảng hơn một tuần trước khi xuất hiện
con người đầu tiên, có lẽ dưới dạng như Bob Dole. Ấy thế mà hầu hết dân Mĩ lại lầm tưởng rằng loài
người và khủng long đã từng chung sống. Hiểu biết sai lầm này bắt nguồn từ những thông tin đại chúng
hết sức lệch lạc, điển hình là một sêri phim hoạt hình hàng ngày "Gia đình Flintstones", trong đó có một
gia đình hoang dã Flintstones nuôi một chú khủng long tên là Dino.
Nhưng trái lại, theo các nhà khảo cổ học, những người đã nghiên cứu rất kĩ các hoá thạch với độ chính
xác rất cao bằng một phương pháp gọi là "bán rã đồng vị carbon", thì Dino thực ra chỉ là một nhân vật do
diễn viên đóng giả thôi. "Tôi cho rằng đó là Barney", một nhà khảo cổ học gần đây vừa tuyên bố.
2. Ðể trả lời câu hỏi này, chúng ta cần quan sát một cơn bão ập đến và khi một tia sét đánh xuống. Ðầu
tiên quí vị sẽ nhìn thấy tia chớp; rồi sau đó nghe thấy tiếng sấm; tiếp đó là tiếng người thét lên, nếu tia sét
đánh trúng ai đó; cuối cùng là các tiếng kêu, tiếng la hét của những người đứng gần đó và chứng kiến
cảnh này. Từ hiện tượng này chúng ta rút ra kết luận là ánh sáng đi nhanh hơn âm thanh, bởi vì ánh sáng
xuất phát từ trên trời và lập tức bị lực hấp dẫn hút xuống, còn âm thanh thì chuyển động lan toả và bị
chuyển động tự quay của quả đất kéo đi.
3. ADN là viết tắt của một thuật ngữ di truyền học "deoxy ribonucleic antidisestablisment arianis - m",
một chuỗi kí tự rất phức tạp được tìm thấy bên trong cơ thể con người dưới dạng những gen rất nhỏ được
gọi là "chromosomes". Thông tin chứa trong chuỗi ADN quyết định các đặc tính sinh học của mỗi chúng
ta như giới tính, màu mắt, tuổi tác, và số chứng minh thư. Các nhà di truyền học cũng có một khám phá kì
diệu là các gen này rất giống với các gen của những loài động vật khác.
Phát minh trên đã đưa đến một hướng nghiên cứu mới phục vụ nhân loại bằng cách thay đổi gen, điển
hình là các thí nghiệm với ruồi giấm để tách ra được gen gây bệnh hói đầu. Các nhà sinh vật học sở dĩ
chọn ruồi giấm để nghiên cứu vì họ nhận thấy hầu hết ruồi giấm đều không có tóc. Chương trình này đã
kéo dài chín năm và tiêu tốn 31 triệu đô la, nhưng kết quả thì thật hoàn mĩ: khi đối chiếu một nhóm các
ruồi giấm đã đổi gen với các ruồi giấm không đổi gen, người ta đều thấy đó là các chấm đen, bởi vì cách
duy nhất mà nhà sinh vật học bắt ruồi giấm đứng im để quan sát dưới kính hiển vi là đập bẹt chúng một
cái bằng cuốn tạp chí Khoa Học Hoa Kì Hôm Nay.
***
Nếu câu trả lời của quí vị không đạt theo đáp án thì cũng xin đừng quá lo lắng. Quí vị không đơn độc, vì
theo kết quả của Tổ chức Khoa học Quốc gia, có 25%, tức là cứ 6 người thì mới có một người, trả lời
đúng những câu hỏi trên.
Và nếu quí vị cho rằng đó là một nhận xét đáng buồn, thì có lẽ quí vị nên xem những bức thư độc giả sẽ
gửi cho tôi, trong đó có bài viết này gửi kèm với đoạn "25%" và "6 người thì có một" được khoanh tròn
trong mực đỏ với hàng đống nhận xét rằng con số ấy không đúng.
NHỮNG BƯỚC NGOẶT KHÓ QUÊN TRÊN TÌNH TRƯỜNG
Tình ái lắm khi làm cho người ta có những hành động đến là kì quặc, ví dụ như lần tôi tè vào bộ áo
choàng của mình. Ðấy là hồi học lớp 6, khi tôi thật sự yêu lần đầu. Kể ra thì trước đó tôi cũng đã từng
phải lòng cô bạn Michelle học cùng lớp 2 - Michelle là bạn gái duy nhất ở lớp nhớ được cần phải cất
những chiếc bút phớt Crayola vào hộp theo thứ tự nào: đỏ, cam, vàng, xanh lá cây, xanh nước biển, tím,
nâu và đen. Nhưng rồi Michelle không tỏ ra có năng khiếu gì hơn nữa, và hoàn cảnh cũng chia lìa hai đứa
chúng tôi.
Một thời gian dài sau đó không có ai làm tôi để ý lắm, mãi cho đến năm lớp 6, khi Susan chuyển đến học
cùng trường. Cô bé hội tụ đủ những gì tôi thích ở bọn con gái: thấp. Chỉ có mỗi một khiếm khuyết là cô
bé thích ngựa quá. Cô ấy thậm chí còn mơ tưởng đến một chú ngựa nào đó tên là Frosty . Tôi vẽ chữ Sue
và vở của mình, lồng trong hình trái tim. Còn trong vở của Susan tôi thấy hình chữ Frosty . Bây giờ nghĩ
lại tôi thấy là chúng tôi kết đôi thế nào được kia chứ.
Nhưng biết đâu đấy, tôi vẫn thử. Tôi đã mời Susan tham dự Dạ hội Hallowen. Ðấy là một việc làm phải
nói là phi thường : một học sinh lớp 6 nói chung sẽ không mời bạn gái đi hội Hallowen. Những gì cu cậu
làm vào đêm hội là lấy trộm xà phòng cạo râu của bố, sau đó gia nhập cùng đám con trai khác đi xịt xà
phòng vào ô tô hay hộp thư ngoài đường, rồi chạy nhống lên như vừa cướp nhà băng. Khi ló mặt đến Hội
Hallowen năm ấy do mẹ tôi chủ xướng, tôi đã trở thành một điều gì đó thật bất thường vì trong đám bạn
cùng lứa tôi là đứa con trai duy nhất xuất hiện cùng con gái, hay nói một cách chính xác hơn là đứng
trong vòng 3 mét với một đứa con gái. Thế là chốc chốc lại có mấy cu cậu nào đó chạy ra, xịt xà phòng về
phía tôi rồi biến dạng sau quầy. Quãng thời gian giữa những lần bị tấn công ấy, tôi và Susan tâm sự với
nhau về chuyện ngựa và nhảy theo điệu bài "Mack the knife".
Rốt cuộc thì tôi cũng có nhu cầu cần phải vào nhà vệ sinh. Nhưng tôi đâu dám vào đấy vì nhà vệ sinh lúc
bấy giờ là "căn cứ trung tâm toàn cầu của đội xà phòng cạo râu". Thế là tôi đành phải ra ngoài chỗ tối.
Tôi xin viết rõ một chút rằng lúc ấy tôi bận một chiếc áo choàng nhung đen. Mục đích làm sao cho giống
anh chàng Zorro phong tình bảnh bao trên màn bạc, nhưng kì tình tôi trông không khác gì một con dơi
đeo kính. Tôi đâu có quen xả hơi ngoài chỗ tối mà lại mặc áo choàng như vậy. Kết quả là chiếc áo chùng
xuống và ướt hết cả. Tất nhiên đó là thời điểm thảm hại nhất trong đời, mà mãi cho đến hôm nay tôi vẫn
không hiểu được là tại sao tôi đã không nhận ra điều ấy và rút súng tự sát quách cho xong. Thay vào đó
tôi đã quay lại đám hội, mang theo cả cái mùi không khác gì căn phòng Gentlemen ở nhà ga xe lửa.
Chuyện với Susan thế là đi tong.
Gần đây tôi có dịp gặp lại Susan tại cuộc gặp mặt tựu trường sau 15 năm. Cô ấy không đả động gì đến vụ
Hallowen năm nọ. Chắc là cô ấy muốn tỏ ra tử tế thế thôi, chứ thực tình cô ấy hẳn vẫn luôn nghĩ về
chuyện đó và thỉnh thoảng phá ra cười khi đứng xếp hàng trả tiền ngoài siêu thị.
Bước chuyển biến tiếp theo là vấn đề bộ ngực. Bọn con gái nghỉ hè hết lớp 6 còn chưa có, và bước vào
lớp 7 với đầy đủ cả. Cứ như thể tất cả vừa qua một khoá tập huấn thể hình vậy. Bọn con trai chúng tôi từ
trước đến giờ, đành rằng vẫn phải công nhận một điều là chúng tôi luôn để ý đến con gái, nhưng vẫn chưa
biết rõ là mình muốn gì, thì nay đột nhiên lại hiểu ra chính xác là mình muốn gì ở bọn con gái: muốn nhìn
thấy con gái ở trần. Bọn con trai chúng tôi dành hầu hết thời gian đi dạo để tưởng tượng và luận đàm xem
bộ ngực con gái thật sự trông nó ra sao. Tất nhiên hồi bấy giờ đâu đã có các thông tin đáng tin cậy về đề
tài này.
Trong suốt thời gian lớp 7 và 8, tôi theo đuổi Barbara. Nàng đeo đầy cổ vòng kim loại các loại, có lẽ đủ
để nạp đạn cho mấy khẩu súng máy. Nhưng bù lại nàng không ưa gì lũ ngựa và có những đồn đại rằng
một lúc nào đó sẽ được nàng cho phép hôn. Nhà nàng cách nhà tôi 7 dặm. Có một ngày thứ Bảy nọ, bất
chấp trời đông tháng giá tôi vẫn tha thẩn lang thang quanh nhà nàng đến những hai giờ đồng hồ, với một
tia hi vọng trong đầu rằng liệu có một lúc nào đó nàng chợt mở cửa, chạy ra khỏi nhà, ôm choàng và hôn
tôi. Tất nhiên điều ấy không xảy ra, rất có thể đó chẳng qua là vì đôi môi của tôi lúc bấy giờ đã lạnh cóng
và biết đâu sẽ đóng thành băng mất khi chạm đến những chiếc vòng cổ của nàng.
Cuối cùng thì tôi cũng hẹn gặp nàng. Tôi thu xếp cuộc hẹn qua một tay trung gian - đấy là cách người ta
vẫn thường tiến hành hầu hết các hoạt động xã hội thời bấy giờ. Người trung gian là Pat, bạn thân của
nàng. Với sự giới thiệu của Jeff, tôi và Jeff đã gặp Pat, đề nghị rằng tôi muốn rủ Barbara đi xem phim. Pat
đã chuyển đề nghị này đến Barbara, để rồi sau một vài thảo luận, chúng tôi đi đến quyết định là cả bốn
đứa sẽ cùng đi xem phim.
Ðến ngày hẹn, tôi và Jeff dành mất cả tiếng đồng hồ để chuẩn bị cho thật chu đáo, trong đó phải kể đến
khoản súc miệng nhiều lần bằng "hương liệu mạnh" Listerine, rồi sau đó hai đứa kiểm tra hơi thở của
nhau. Bộ phim mang tiêu đề "Bắc tiến Alaska" - đấy là tất cả những gì tôi còn nhớ được về bộ phim vì
trong suốt hai tiếng đồng hồ tôi phải luôn luôn chăm chút điều chỉnh vị trí cánh tay trái sao cho nó quàng
qua chỗ ngồi của nàng, dịch dần đến bờ vai của nàng với một khoảng cách là một phần tỉ milimét, nhưng
không một lần chạm vào thân hình nàng. Thỉnh thoảng tay tôi lại nhói lên đau điếng và tôi không khỏi hồi
hợp thở mạnh ra toàn mùi Listerine. Nhưng tôi chỉ dừng lại ở đó bởi vì, lạy Chúa, tôi đang thực sự được
quàng tay qua vai người tôi hằng yêu dấu, và tất cả những thứ đó có lẽ cũng đã đủ làm tôi phát điên lên
mất, nhất là khi mơ tưởng đến lúc chào tạm biệt nàng bằng một nụ hôn.
Vâng, chúng tôi đã chia tay đúng như vậy. Thật là một buổi tối hoàn hảo, chỉ trừ có đoạn cuối là Jeff
không biết đã chui từ chỗ nấp ra lúc nào, miệng phát thành tiếng và tay khua lên mấy động tác bắt chước
làm cho Barbara phải bật cười khúc khích. Nhưng đấy chỉ là chuyện vặt. Quan trọng là nàng đã hôn tôi,
và tâm hồn tôi đắm say ngây ngất trong tình yêu mãi cho đến ngày hôm sau, khi Jeff thông báo là nàng đã
thực sự quan tâm đến một anh chàng Wayne nào đó. Vậy là hết. Barbara và Wayne trở thành một cặp
nghiêm túc, và tôi tin rằng họ đã cưới nhau.
Tất nhiên, bây giờ tôi đã trưởng thành hơn nhiều so với hồi cắp sách đến trường, và tôi cũng đã học được
nhiều điều về cuộc sống ái tình. Nhưng đến hôm nay tôi vẫn thường nhớ đến Barbara như một kỉ niệm
ngọt ngào, và vẫn thường tự hỏi không biết bây giờ nàng sống ra sao? Nàng còn nhớ đến tôi? Nàng có
hạnh phúc không? Nàng đã từ bỏ những chiếc vòng năm xưa chưa? Nàng có nhận ra rằng Wayne chỉ là
một gã tẻ nhạt không? Tất nhiên điều đó chẳng liên quan nhiều đến tôi.
MÁY TÍNH ĐÃ THAY ĐỔI ĐỜI TÔI
Máy tính không còn là một thiết bị cồng kềnh, phức tạp, đắt tiền mà nhiều hãng lớn phải kêu trời mỗi khi
đặt hàng. Nhờ có những thành tựu của điện-điện tử, máy tính hôm nay là một thiết bị gọn gàng, đơn giản,
rẻ tiền mà quí vị có thể dùng tại nhà.
Nếu quí vị đọc những tạp chí về các xu hướng phát triển hiện nay trên thế giới như Time hay Newsweek,
quí vị sẽ thấy trong những năm gần đây hầu như mỗi công dân, đàn ông, đàn bà, trẻ em, đều đã có một
chiếc máy tính cá nhân tại nhà. Quí vị cũng gặp rất nhiều bài nói về những người bình thường như quí vị
đã tìm thấy ở máy tính sự trợ giúp đắc lực cho công việc tại nhà ra sao.
Bob và Dorris Pullet ở Full House, Texas, đã sử dụng máy tính cá nhân vào nhiều việc gia đình khác
nhau. Chẳng hạn quản lí các món trong phòng ăn. "Máy tính thực sự rất tiện dụng," Dorris nói, "Trước
đây chúng tôi phải chạy ra mở cửa phòng ăn và đếm xem còn các đồ ăn nào, ví dụ còn bao nhiêu súp
mướp gà. Bây giờ rất đơn giản, tôi chỉ cần bật máy lên, gõ mật khẩu, đưa vào một vài câu lệnh và nhận
được câu trả lời, ví dụ GAMUOP 2;87;74, nghĩa là tôi còn 2 nồi súp mướp gà, trị giá 84 xu một nồi. 74
xu là giá ước định theo lạm phát. Bob đang thiết kế một chương trình quản lí các loại đĩa ăn còn tốt trong
nhà."
Sau khi đọc khoảng ba chục bài như vậy, tôi quyết mua một chiếc máy tính cá nhân. Ban đầu tôi muốn
dùng để quản lí các số liệu. Tôi đã gặp rất nhiều khó khăn trong quản lí số liệu của mình. Ðại thể thế này:
Tôi nhận được một bức thư từ bưu điện giải thích rằng, "để nhân viên luôn trong môi trường làm việc
năng động họ sẽ tính cước hai tuần một lần." Tôi cho thư đó vào cặp tài liệu, nhãn Bưu điện sau đó cho
vào tủ giấy tờ. Nay tôi có tất cả 300 cặp tài liệu, trong đó khoảng 200 chiếc mang nhãn Bưu điện . Kết
quả là tôi không còn có thể tìm được cái gì nữa. Vì thế tôi đã nghĩ đến máy tính.
Tay bán hàng nói rằng máy tính không chỉ giúp tôi theo dõi tài liệu mà còn làm được rất nhiều hơn thế, ví
dụ quản lí các khoản thu nhập và tính thuế. Tôi rất ngỡ ngàng vì chính tôi đã rất đau đầu trong lần tính
thuế năm ngoái. Không ngần ngừ thêm một giây tôi mua ngay một chiếc với khoản tiền dư cho một
chuyến sang Hawaii dài ngày.
Về nhà, tôi nhận ra mình đã mua phải một chiếc máy rất đần độn. Tôi cứ hay bị hố như thế. Mấy năm
trước tôi có mua con Shawna, loại chó chăn cừu nòi Ðức, giống chó thông minh chuyên phát hiện trộm và
phản ứng bằng những cú cắn nhanh gọn. Nhưng là một đột-biến-trong-xác-suất-một-phần-triệu, con
Shawna nhà tôi chỉ biết tấn công mỗi cái túi sữa. Giá như có tên trộm nào lẻn vào nhà tôi mà đeo bên
mình một cái túi sữa, Shawna sẽ hoàn thành mĩ mãn nhiệm vụ trông nhà của mình.
Nhưng đứng cạnh máy tính mới, Shawna vẫn còn thông minh như Albert Einstein. Sau khi bật, máy tính
chẳng chịu quản lí các thư từ bưu điện mà lại hỏi một loạt các câu hỏi ngớ ngẩn, ví dụ hôm nay là ngày
bao nhiêu. Tôi gõ phím trả lời:
"Khỏi bận tâm hôm nay ngày mấy. Hãy quản lí các thư từ thật gọn ghẽ. Hãy đưa ra bảng kê rành rọt các
khoản thu chi và tính thuế. Tôi muốn đóng thuế ít nhất mà không bị đưa ra trước vành móng ngựa."
Và máy tính trả lời:
"Sai cú pháp"
Quí vị có tin nổi không? Cái máy của nợ không biết đến cả hôm nay là ngày nào lại dám bảo tôi, một nhà
văn chuyên nghiệp, đã viết sai cú pháp. Tôi lập tức lộn lại cửa hàng. Tay bán hàng bảo là, nếu tôi muốn
máy tính quản lí số liệu thì phải mua thêm phần mềm nào đó giá đến mấy trăm đô la. Vì trót tiêu sạch tiền
mua máy rồi nên tôi đành bằng lòng mua phần mềm "Ðội phòng thủ", giá chỉ có 15 đô la. "Ðội phòng
thủ" không giúp tôi quản lí số liệu nhưng lại cho phép tôi dùng một khẩu laser nguyên tử chống lại những
người bé nhỏ hành tinh khác bay đến lấy trộm những ô năng lượng, hòng để phi thuyền mẹ đến tiêu diệt
tôi bằng chất thải hoá học.
Chiếc máy cá nhân có vẻ rất ưa "Ðội phòng thủ". Nó chẳng thèm hỏi ngày giờ gì cả, vào một cái là bắt
đầu chơi ngay. Ngay đêm hôm ấy, tay hàng xóm sang chơi vì biết tôi định mua máy tính để quản lí số
liệu, và chúng tôi đã chơi một mạch 6 tiếng liền chống lại người ngoài trái đất, uống sạch một két bia.
Công bằng mà nói, máy tính đã giúp tôi tăng hiệu quả hoạt động rất nhiều. Ban đầu tôi chỉ được khoảng
4000 điểm. Bọn ngoài trái đất chỉ cần hạ cánh giòn giã và dễ dàng lấy đi những ô năng lượng. Nhưng nay
tôi chơi hiệu quả gấp năm lần với khoảng 20000 điểm. Bọn ngoài trái đất cũng tỏ ra nể nang khẩu laser
của tôi hơn. Không có máy tính, tôi không thể tiến bộ nhanh đến như vậy. Biết đâu tôi có thể dùng một
khẩu laser nguyên tử để diệt tuốt các kho thư từ báo cáo, thậm chí luôn cả bưu điện.
LÀM CHỦ WINDOWS NHƯ THẾ NÀO
Quí vị độc giả đôi lúc nói với tôi rằng "Dave, là một nhà báo chuyên nghiệp, công việc của anh đòi hỏi
phải xử lí một lượng thông tin khá lớn và đều đặn hàng tuần. Vậy tại sao anh không cắt lấy một kiểu tóc
cho ra hồn."
Ðiều mà độc giả thật sự muốn hỏi, tất nhiên, là: Làm thế nào để tôi có được bài viết với độ chính xác cao
như vậy, ngày này qua ngày khác, 54 tuần mỗi năm?
Câu trả lời là: Tôi dùng máy vi tính. Máy tính cho phép tôi làm việc năng suất hơn. Chẳng hạn tôi cần
phải viết BOOGER BOOGER BOOGER BOOGER BOOGER. Ðể hoàn thành công việc này vào cái thời
chưa có máy tính, tôi phải gõ chữ BOOGER năm lần bằng tay. Nhưng ngày nay với sự trợ giúp của máy
Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014
Phân tích lợi thế cạnh tranh hàng gốm mỹ nghệ Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản
LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Phân tích lợi thế cạnh tranh hàng gốm mỹ nghệ Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản": http://123doc.vn/document/1036689-phan-tich-loi-the-canh-tranh-hang-gom-my-nghe-viet-nam-xuat-khau-sang-thi-truong-nhat-ban.htm
t
Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 5
Phần I:Khái quát tình hình xuất khẩu hàng gốm mỹ nghệ
của Việt Nam qua các nước
A. Khái quát về gốm mỹ nghệ Việt Nam
1. Giới thiệu đôi nét vế gốm sứ
Đồ gốm xuất hiện trên thế giới cách đây khoảng một vạn năm. Thời điểm xuất hiện đồ gốm ở
mỗi dân tộc có thể sớm muộn khác nhau nhưng việc phát minh ra đồ gốm là công trình lao
động sáng tạo của rất nhiều dân tộc trên thế giới. Trung Quốc là nước xuất hiện đồ gốm sớm
nhất ở Châu Á; từ thời nhà Thương (1766 – 1123 TCN). Tiếp đó là Ai Cập, Irắc đã làm được đồ
sứ từ thời Fatimites (640- 1171). Ở Mexico người ta đã tìm được những hiện vật gốm từ thời
nền văn minh Maya. Ở Châu Âu cũng có những trung tâm gốm nổi tiếng là ở Tây Ban Nha, Ý,
lưu vực sông Đông (Nga), sông Ranh (Đức)…
Đồ gốm sứ là dùng để chỉ những sản phẩm mà nguyên liệu để sản xuất chúng gồm một phần
hoặc tất cả là gốm hoặc cao lanh như đò đất nung, gạch ngói, chum vại… Đồ gốm là sản phẩm
được làm chủ yếu từ đất và nung qua lửa. Với sự phát triển không ngừng của xã hội, của kỹ
thuật đã tạo điều kiện cho sản phẩm gốm ngày càng đa dạng và tinh xảo. Ngày nay từ “Đồ
gốm” đã trở thành tên gọi chung của 5 loại sản phẩm sau:
- Gốm đất nâu: làm bằng đất sét thường, nung ở nhiệt
độ 6000 C đến 9000 C, màu đỏ, xốp, ngấm nước…
- Gốm sành nâu: làm bằng đất sét thường, nung ở
nhiệt độ 11000 C đến 12000 C, xương đất chảy, có
thấu quang.
- Gốm sành xốp: làm bằng đất sét trắng, nung ở nhiệt
độ 12000 C đến 12500 C, màu vàng ngà, xương đất
xốp, hơi thấm nước.
- Gốm sành trắng: làm bằng đất sét trắng, cao lanh,
nung ở nhiệt độ 12500 C đến 12800 C, xương đất
sớm cháy, không thấm nước.
- Đồ sứ: làm bằng đất sét trắng, cao lanh, và các loại đá trường thạch, thạch anh, nung ở nhiệt
độ từ 12800 C đến 13200 C, xương đất chảy, có thấu quang…
Ngoài ra, nếu xét theo công dụng, ta có thể chia sản phẩm gốm làm thành 3 nhóm chính:
Qun tr kinh doanh quc
t
Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 6
- Gốm gia dụng: gốm đồ đun nâu, đồ chứa đựng, đồ dùng để ăn hoặc uống…
- Gốm nghệ thuật: gốm tượng gốm, phù điêu gốm, tranh ghép gốm, tranh vẽ trên gạch gốm, đĩa
treo tường…
- Gốm kỹ thuật: gồm gốm cách điện, gốm chịu nhiệt, gốm chịu axit, gốm trong công cụ sản
xuất, gốm trong máy móc…
Nếu xét theo tính thẩm mỹ ta có thể chia gốm làm các loại sau:
- Gốm mỹ nghệ: đưa yêu cầu thẩm mỹ lên hàng đầu, nhóm này bao gồm gốm nghệ thuật, gốm
gia dụng đẹp, cao cấp, gốm kiến trúc cao cấp…
- Gốm gia dụng thông thường.
- Gốm công nghiệp / Gốm kỹ thuật.
2. Gốm mỹ nghệ Việt Nam
Gốm là một mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam với hàng trăm năm lịch sử
phát triển. Các mẫu hàng gốm của Việt Nam mang tính đa dạng, được hoàn thiện từ chính nhu
cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Các loại men của Việt Nam cũng rất độc đáo và mang
tính chất truyền thống. Mỗi cơ sở sản xuất đều có cách pha men riêng với những chi tiết rất tinh
tế và kĩ thuật pha chế luôn được cải tiến. Sự phong phú về kĩ thuật pha men đã tạo nên nét độc
đáo về sản phẩm của từng địa phương. Các mẫu mã hàng gốm vô cùng phong phú về loại hình,
công dụng, kích cỡ, hình dáng và chỉ cần thay đổi đôi chút ít về đường nét uốn lượn, hay tiết
hoạ là đã có thể cho ra đời một sản phẩm mới. Chính vì vậy các loại hình sản phẩm gốm liên
tiếp được bổ sung trên thị trường. Tính chất mỹ thuật của loại sản phẩm này được tạo nên bởi
hình dáng sản phẩm và những đường nét tiết hoạ trên mặt sản phẩm. Người tiêu dùng chọn sản
phẩm theo công dụng, kích cỡ, chất men và hình thức cũng như dáng dấp nhái cổ của sản phẩm.
Gốm Việt Nam là một nghề thủ công cổ truyền đặc sắc và rất độc đáo của dân tộc, từ lâu đã
phát triển khắp mọi miền của đất nước. Các sản phẩm gốm của ta có hình thức đẹp, chất lượng
tốt, được mọi người tiêu dùng ưa chuộng. Không ít đồ gốm ở nước ta đã được làm ở một trình
độ kỹ thuật tương đối cao và đã trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới.
Gốm mỹ nghệ Việt Nam là tập hợp các sản phẩm được sản xuất bằng phương pháp thủ công có
tính mỹ thuật cao và thường gắn với các làng nghề truyền thống, mang đậm bản sắc văn hoá
của dân tộc và quốc gia. Các sản phẩm gốm mỹ nghệ bao gồm những mặt hàng chính sau: lọ
hoa, chậu cảnh, lọ bình giả cổ, bát hương, tượng Chúa, tượng Phật, con vật, bình đựng rượu,
bình ấm chén trà, bát đĩa, tranh và đồ lưu niệm Các sản phẩm trên được làm với các kích cỡ
khác nhau và trên đó là các nét hoạ tiết về phong cảnh và điển tích (thường là Tứ Bình Xuân,
Hạ, Thu, Đông, tranh đồng quê nhàn tản, tranh phong cảnh và tranh điển tích ).
Trong suốt nhiều thế kỷ, nước ta đã xuất khẩu đồ gốm sang các nước không chỉ trong khu vực
Châu Á, Châu Đại Dương mà cả Châu Âu.
Qun tr kinh doanh quc
t
Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 7
Gốm Việt Nam đã có từ thời kỳ văn hoá Bắc Sơn và
ngày càng trở nên tinh xảo hơn. Lịch sử phát triển
ngành gốm của Việt Nam đã trải qua các thời kỳ: thời
nguyên thuỷ, thời các vua Hùng, gốm men qua các thời
Lý - Trần – Lê. Gốm Việt Nam là một nghề có truyền
thống lâu đời, có một lịch sử vàng son rực rỡ. Đây
chính là một lợi thế đặc biệt, một tài sản vô giá được tổ
tiên để lại, giúp chúng ta đẩy mạnh xuất khẩu. Trên
khắp đất nước Việt Nam, từ Móng Cái cho đến mũi Cà
Mau, tỉnh nào cũng có cơ sở sản xuất gốm. Đặc biệt ở
đồng bằng sông Hồng hầu như ở huyện nào cũng có lò
gạch, lò gốm. Tuy trải rộng khắp đất nước nhưng
những nơi làm ra gốm thật sự có hiệu quả, những nơi
làm ra gốm có giá trị thương mại, đặc biệt có giá trị
xuất khẩu thì chỉ tập trung chủ yếu ở ba vùng : Bát Tràng, miền Đông Nam Bộ (Bình Dương,
Đồng Nai) và Vĩnh Long. Tổng kim ngạch xuất khẩu gốm mỹ nghệ của các địa phương này
chiếm khoảng 90% kim ngạch xuất khẩu gốm mỹ nghệ của cả nước.
B. Tình hình xuất khẩu gốm mỹ nghệ Việt Nam trong thời gian qua
1. Thực trạng xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam trong thời gian qua
Cho đến nay gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt ở hơn 120 thị trường phân bố trên các châu
lục như sau:
- Thị trường Châu Âu: chiếm khoảng 20 30%kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ mỹnghệ
của Việt Nam.
- Thị trường Châu Mỹ: chiếm khoảng 12%.
- Thị trường Châu Á: chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
- Thị trường Châu Đaị Dương (Úc và New Zealand) khoảng 17%.
Qun tr kinh doanh quc
t
Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 8
Bảng 1: thống kê kim ngạch xuất khẩu gốm sứ Việt Nam theo châu lục (2007-2011) -
ĐVT: Triệu USD
Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam
Hiện nay, khoảng 50% gốm sứ mỹ nghệ của Việt Nam được tiêu thụ bằng con đường xuất
khẩu, đóng góp một phần đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Kim ngạch xuất khẩu
gốm sứ mỹ nghệ của nước ta giai đoạn 1999-2009 được thể hiện trên hình 2.1
Theo như hình 2.1 ta thấy, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ của nước ta đã liên tục tăng.
Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ của nước ta chỉ đạt 22 triệu USD thì đến năm
2004 đã đạt 100,8 triệu USD, gần gấp 5 lần kim ngạch năm
1999, tốc độ tăng trưởng bình quân của giai đoạn này đạt gần 80%. Năm 2006 kim ngạch xuất
khẩu gốm sứ đạt 123,5 triệu USD và đặc biệt đến năm 2009, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ
nghệ đã có sự tăng trưởng nhảy vọt, đạt 174 triệu USD.
2. Kim ngạch xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng
Năm
2007
2008
2009
2010
2011
Đối tác
(Châu
lục)
Giá
trị(triệu
USD)
Tỷ
trọng(
%)
Giá
trị(triệu
USD)
Tỷ
trọng(
%)
Giá
trị(triệu
USD)
Tỷ
trọng(
%)
Giá
trị(triệu
USD)
Tỷ
trọng(
%)
Giá
trị(triệu
USD)
Tỷ
trọng(%
)
Châu Á 130.37 38.93 130.913 38.02 104.520 39.12 136.423 43.04 186.060 51.88
Châu Âu 113.368 33.86 124.536 36.17 79.315 29.69 76.682 24.19 68.835 19.19
Châu Mỹ 44.596 13.32 45.298 13.16 32.578 12.19 43.038 13.58 40.006 11.16
Khác 46.522 13.89 43.576 12.65 50.770 31.07 60.850 19.19 63.725 17.77
Tổng kim
ngạch
334.856 100% 344.323 100% 267.183 100% 316.993 100% 358.626 100%
Qun tr kinh doanh quc
t
L
i th
c
nh tranh c
a g
m s
Vi
t Nam khi xu
t sang th
tr
ng Nh
t B
n
9
- Về xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam vào thị trường Nhật Bản trong thời gian qua
Từ năm 2006 đến năm 2011 kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ của Việt Nam vào
Nhật Bản đều tăng với tốc độ cao qua các năm. Nếu năm 2006 kim ngạch xuất khẩu hàng gốm
sứ mỹ nghệ chỉ là 30 triệu USD thì năm 2007 đạt 35 triệu USD, năm 2008 đạt 42 triệu USD và
năm 2009 đạt 33 triệu USD.năm 2011 đạt 52%
Hình 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ của Việt Nam vào Nhật Bản (ĐVT:
triệu USD) Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam
Đồ gốm sứ mỹ nghệ là mặt hàng có tiềm năng phát triển rất lớn ở Nhật Bản, nhập khẩu hàng
gốm sứ mỹ nghệ đã tăng nhanh trong những năm gần đây. Thuế nhập khẩu hàng gốm sứ thấp (
0-3%) tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu của Việt Nam. Đồ gốm sứ mỹ nghệ của Việt Nam đã có
mặt tại thị trường Nhật Bản nhưng có kim ngạch còn khá khiêm tốn
- Về tỷ trọng xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ so với hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam
vào thị trường Nhật Bản trong thời gian qua
Tỷ trọng xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ so với hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vào thị
trường Nhật Bản có xu hướng tăng lên qua các năm. Nếu như năm 1998 chỉ là 11,08% thì năm
2000 tăng lên 20,03% và luôn giữ ở mức trên dưới 15% trong các năm tiếp theo.
Tuy nhiên, xuất khẩu các mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ của Việt Nam vào thị trường Nhật Bản lại
có dấu hiệu chững lại, nguyên nhân chủ yếu là do hàng của Việt Nam còn kém về mẫu mã,
0
10
20
30
40
50
60
2006
2007
2008
2009
2010
2011
Kim ngạch xuất khẩu gốm sứ qua
Nhật Bản ( Triệu USD)
Qun tr kinh doanh quc
t
L
i th
c
nh tranh c
a g
m s
Vi
t Nam khi xu
t sang th
tr
ng Nh
t B
n
10
chủng loại so với các nước khác như Trung Quốc và Thái Lan. Các sản phẩm truyền thống của
Việt Nam hầu như đã bão hoà tại thị trường này, bên cạnh đó thì nhu cầu của người Nhật về
hàng gốm sứ mỹ nghệ rất đa dạng, yêu cầu các mặt hàng phải thay đổi nhanh sao cho phù hợp
với các mùa trong năm.
Hình 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và hàng gốm sứ mỹ nghệ của Việt
Nam vào Nhật Bản( triệu USD)
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam và www.vnemart.com
Thị trường Nhật Bản là một thị trường rất khó tính, đối với mỗi một sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ,
người tiêu dùng Nhật Bản luôn quan tâm đến 3 yếu tố: nguyên liệu sản xuất, phương pháp tạo
ra sản phẩm và yếu tố truyền thống thể hiện trong từng sản phẩm. Trong đó, yếu tố truyền
0
50
100
150
200
250
300
350
400
450
2006
2007
2008
2009
2010
2011
267.5
360.3
345.8
320.5
347.9
402.6
30.6
36.4
41.7
34
37.9
52.9
Kim ng
ạ
ch hàng th
ủ
công m
ỹ
ngh
ệ
Kim ng
ạ
ch hàng g
ố
m sú m
ỹ
ngh
ệ
Qun tr kinh doanh quc
t
L
i th
c
nh tranh c
a g
m s
Vi
t Nam khi xu
t sang th
tr
ng Nh
t B
n
11
thống được người Nhật đặc biệt quan tâm, bởi họ luôn đòi hỏi khi làm ra sản phẩm người thợ
phải “thổi được cái hồn của mình” vào trong từng sản phẩm, mỗi sản phẩm phải có nét độc đáo
riêng. Do vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tập trung sản xuất những sản phẩm đảm
bảo chất lượng, đúng với sở thích của người Nhật và phải có giá trị sử dụng cao trong cuộc
sống hàng ngày. Hàng hoá sản xuất ra nên phát triển theo hướng đa dạng hoá chủng loại, giảm
về số lượng thành phẩm để đáp ứng nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng.
- Về tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ của Việt Nam vào Nhật Bản trong
tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam:
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng gốm sứ mỹ nghệ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn
ngành gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam có xu hướng tăng đều qua các năm. Nếu như năm 2006 chỉ là
9.31% thì năm 007 là 10.87%, năm 200812.11 là % và năm 2011 là 14.7%.
Hình 3: Kim ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ của Việt Nam vào Nhật Bản so với kim
ngạch xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ của cả nước (triệu USD)
(Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam)
Thị trường Nhật Bản nổi tiếng là một thị trường khó tính, đặc biệt đối với các sản phẩm gốm sứ
vì Nhật Bản có nền sản xuất gốm sứ mỹ nghệ từ rất lâu đời và nổi tiếng trên thế giới về chất
lượng và độ tinh xảo… tuy nhiên với kim ngạch nhập khẩu năm 2005 tăng lên đột biến cho ta
thấy sự tăng trưởng vững chắc của các sản phẩm gốm sứ các loại nhập khẩu tại thị trường này.
Nguyên nhân của việc gia tăng nhập khẩu có nhiều nguyên nhân: sự tăng giá của đồng Yên, thu
nhập của đại bộ phận dân Nhật Tăng khiến nhu cầu về các loại sản phẩm cũng tăng theo, đặc
0
50
100
150
200
250
300
350
400
2006
2007
2008
2009
2010
2011
30.06
36.4
41.7
34
37.9
52.9
322.65
334.856
344.323
309.4
316.993
358.626
Kim ng
ạ
ch xu
ấ
t kh
ẩ
u g
ố
m s
ứ
sang
Nhật Bản
T
ổ
ng kim ng
ạ
ch xu
ấ
t kh
ẩ
u g
ố
m s
ứ
Qun tr kinh doanh quc
t
Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 12
biệt còn có xu hướng đẩy mạnh nhập khẩu từ các nước Châu Á như Trung Quốc, Thái Lan và
Việt Nam trong những năm gần đây.
- Về thương hiệu gốm thủ công mỹ nghệ
Việc tạo ra sản phẩm độc đáo trên thị trường Nhât Bản là một yếu tố quyết đinh sự thành công
của doanh nghiệp. Thực tế là tại thị trường Nhật Bản, hàng hóa rất nhiều và rất đa chủng loại.
Người Nhật có quyền lựa chọn trong vô số những chủng loại hàng hóa đó. Đặc biệt qua nghiên
cứu và khảo sát, Người Nhật rất thích những sản phẩm mang tính độc đáo lạ mắt. Để có được
tính độc đáo của sản phẩm, doanh nghiệp cũng cần đầu tư cho khâu quảng cáo, tiếp thị, nâng
cao trình độ công nghệ, nghiên cứu và phát triển. điều chủ yếu là phải tạo sự khác biệt giữa
công ty mình và các đối thủ cạnh tranh, bí quyết ở đây chính là sự sáng tạo.
Theo đánh giá của Cục Xúc tiến Thương mại, thiết kế mẫu mã, chất lượng các sản phẩm gốm
mỹ nghệ của ta còn yếu, kém sức cạnh tranh, nhất là so với hàng của Trung Quốc. Các cơ sở
sản xuất, xuất khẩu chưa thực sự nhạy bén với thị trường, cả trong việc nắm bắt xu hướng tiêu
dùng và phương thức kinh doanh hiện đại cũng như việc thu thập và xử lý thông tin, nhất là các
doanh nghiệp ở vùng nông thôn.
Sản phẩm gốm mỹ nghệ của làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) giờ đây đã có mặt không chỉ ở
thị trường nội địa mà cả nước ngoài. Rất nhiều doanh nghiệp của các nghệ nhân trong làng
được thành lập nhưng sản phẩm của họ thì không ai biết đến tên, biểu tượng, còn mẫu mã
mới thì không thể giữ để sản xuất riêng.
Đây cũng là tình trạng chung đối với rất nhiều sản phẩm gốm mỹ nghệ xuất khẩu. Hàng gốm
mỹ nghệ của nước ta đang dần khẳng định được vị trí của mình ở các thị trường lớn như Đức,
Mỹ, Nhật Tuy nhiên, đa số hàng gốm mỹ nghệ không có thương hiệu riêng, do vậy cơ sở này
có thể "ăn cắp" mẫu mã của cơ sở khác cho dù không có sự đồng ý của người chủ để in
catalogue chào hàng.
Một thực tế khác là hiện có khá nhiều doanh nghiệp sản xuất hàng gốm mỹ nghệ đã tạo được
trang web để giới thiệu sản phẩm ra thị trường thế giới. Việc cập nhật mẫu mã mới thường
xuyên đồng nghĩa với việc tạo điều kiện để người khác có thể bắt chước một cách dễ dàng mẫu
đó. Điều này sẽ gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp bởi tính độc đáo của sản phẩm không
còn và khả năng cạnh tranh không lành mạnh rất dễ xảy ra.
Các chủ doanh nghiệp nhận thức được những vấn đề trên, tuy nhiên việc đăng ký thương hiệu
cho sản phẩm gốm mỹ nghệ không hề dễ dàng. Tuy nhiên, đăng ký một nhãn hiệu chung cho cả
lô thì rất dễ bị làm nhái, còn đăng ký kiểu dáng cho từng sản phẩm thì doanh nghiệp không thể
theo kịp hoặc kham đủ chi phí vì hàng gốm mỹ nghệ phải thường xuyên thay đổi mẫu mã.
Theo ông Trần Việt Hùng, Phó cục trưởng Cục Sở hữu Công nghiệp, cũng cho rằng vấn đề này
rất khó giải quyết. Hiện chỉ có một vài doanh nghiệp gốm mỹ nghệ TP HCM đăng ký nhãn
hiệu, kiểu dáng cho những mặt hàng có truyền thống lâu năm để xuất khẩu. "Thực tế, việc bảo
hộ mẫu mã cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ chưa có biện pháp hữu hiệu, vì việc xét duyệt đăng
ký kiểu dáng này chưa xong, cơ sở đã cho ra kiểu mới"
Qun tr kinh doanh quc
t
Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 13
- Về chất lượng và giá cả hàng gốm mỹ nghệ xuất khẩu
+Chất lượng sản phẩm gốm mỹ nghệ Việt Nam: trong những năm gần đây đã có những tiến bộ
rất nhiều do đầu tư trang bị thêm lò nung gaz và lò tuy-nen, đồng thời công nghệ chế biến đất
đã có bước cải thiện nhờ một số công ty, cơ sở lớn đầu tư các dây chuyền chế biến đất đẩ đáp
ứng cho cơ sở của mình đồng thời cung cấp cho các cơ sở khác…nhờ đó mà chất lượng đất có
phần ổn định tương đối.
Người tiêu dùng và người sử dụng Nhật Bản thường đòi hỏi cao về chất lượng và tiêu chuẩn.
Đặc biệt là người Nhật không bao giờ bỏ qua về mặt chất lượng và độ an toàn của sản phẩm đối
với con người
Vì vậy, để có thể chiếm lĩnh lại thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tập
trung sản xuất những sản phẩm đảm bảo chất lượng, đúng với sở thích của người Nhật và phải
có giá trị sử dụng cao trong cuộc sống hàng ngày. Hàng hoá sản xuất ra nên phát triển theo
hướng đa dạng hoá chủng loại, giảm về số lượng thành phẩm để đáp ứng nhu cầu của đông đảo
người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phải đảm bảo sự cân bằng giữa chất lượng và giá thành sản
phẩm. Người tiêu dùng Nhật Bản sẵn sàng trả giá cao cho những sản phẩm chất lượng tốt.
+Giá cả sản phẩm gốm mỹ nghệ Việt Nam: việc xác định giá cả của hàng gốm mỹ nghệ Việt
Nam xuất khẩu sang Nhật Bản rất phức tạp - Cục Xúc tiến Thương mại cho biết như vậy. Theo
cơ quan này vì hàng gốm mỹ nghệ bao gồm nhiều chủng loại sản phẩm khác nhau và mỗi loại
sản phẩm có giá cả khác nhau.
Giá của hàng gốm mỹ nghệ xuất khẩu sang Nhật Bản thường được tính theo hai dạng: một là
khách hàng đặt trước mẫu mã, chất lượng và giá, để các DN Việt Nam lựa chọn; hai là DN Việt
Nam chào hàng, chào giá. Tuy nhiên, cả hai phương thức này đều không giải quyết được vấn đề
giá so với hàng Trung Quốc.
Điều này có thể giải thích vì các DN Việt Nam làm hàng gốm mỹ nghệ hầu hết là
nghề truyền thống, quy mô nhỏ, nên ít quan tâm tới công tác tổ chức lao động, từ đó không tiết
kiệm được chi phí, nên giá thành sản phẩm cao.
Một yếu tố nữa, do chủ yếu là nghề truyền thống, nên không thể sản xuất đại trà khối lượng lớn.
Do lượng sản phẩm sản xuất ra ít ỏi nên tất cả các khoản chi phí tính trên sản phẩm sẽ cao. Kể
cả chi phí vận chuyển, chi phí thủ tục, các sản phẩm phải chia nhau gánh vác vào giá.
Tuy nhiên, lợi thế của hàng gốm mỹ nghệ Việt Nam so với các nước khác trong khu vực Đông
Nam Á là có khả năng cạnh tranh về giá cả, do được sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu sẵn có
trong nước, cơ sở sản xuất được bố trí gần nguồn nguyên liệu. Một lợi thế nữa là nguồn lao
động sản xuất dồi dào với chi phí lao động thấp và vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh nhìn
chung không lớn. Theo như kết quả khảo sát ta thấy lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp sản
Qun tr kinh doanh quc
t
Li th cnh tranh ca gm s Vit Nam khi xut sang th trng Nht Bn 14
xuất gốm mỹ nghệ của Việt Nam nhờ có chất lượng và giá cả thấp là 21,81%, nhờ mẫu mã là
20%.
Bảng 2 : Lợi thế cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
Yếu tố Số lượng DN Tỷ trọng (%)
Chất lượng cao 13 23,64
Chất lượng cao và giá cả thấp 12 21,81
Mẫu mã 11 20,00
Tính cạnh tranh khác 20 36,36
Giá cả thấp 12 21,81
Khả năng cung ứng lớn 6 10,09
Phương thức phân phối tốt 9 16,36
DN không có ý kiến 0 0
Tổng cộng 55 100
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)