LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "trắc nghiệm trực tuyến": http://123doc.vn/document/1051341-trac-nghiem-truc-tuyen.htm
4
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1: Mô hình e-Learning 7
Hình 1.2: Ba cấp độ tổ chức thực hiện e-Learning 9
Hình 2.1 Vai trò các thành phần tham gia sử dụng đặc tả IMSQTI 24
Hình 2.2 Cấu trúc tổ chức bài thi 25
Hình 3.1: Sơ đồ lớp interaction 26
Hình 3.2: Sơ đồ lớp choice 26
Hình 3.3: Câu hỏi choiceInteraction với 1 lựa chọn đúng 27
Hình 3.4: Câu hỏi choiceInteraction với nhiều lựa chọn đúng 27
Hình 3.5: Câu hỏi orderInteraction 28
Hình 3.6 Câu hỏi associateInteraction 28
Hình 3.7: Câu hỏi matchInteraction 29
Hình 3.8: Câu hỏi gapMatchInteraction 29
Hình 3.9: Câu hỏi inlineChoiceInteraction 30
Hình 3.10: Câu hỏi textEntryInteraction 30
Hình 3.11: Câu hỏi extendedTextInteraction 31
Hình 3.12: Câu hỏi hottextInteraction 31
Hình 3.13: Câu hỏi hotspotInteraction 32
Hình 3.14: Câu hỏi selectPointInteraction 33
Hình 3.15: Câu hỏi graphicOrderInteraction 34
Hình 3.16: Câu hỏi graphicAssociateInteraction 35
Hình 3.17 Câu hỏi graphicGapMatchInteraction 36
Hình 3.18: Câu hỏi positionObjectInteraction 37
Hình 3.19: Câu hỏi sliderInteraction 37
Hình 5.1: Mô hình thực thể liên kết 60
Hình 5.2: Trang chủ của chương trình 62
Hình 5.3: Form đăng ký thành viên 64
Hình 5.4: Form trang chủ của học viên 64
5
Hình 5.5: Form lựa chọn môn thi của thí sinh 64
Hình 5.6: Form làm bài của thí sinh 64
Hình 5.7: Form thông báo kết quả 65
Hình 5.8: Form học viên bổ xung câu hỏi vào ngân hàng câu hỏi 65
Hình 5.9: Form soạn thảo câu hỏi bổ sung 66
Hình 5.10: Form xem điểm của học viên 66
Hình 5.11: Form trang chủ của người quản trị 67
Hình 5.12: Form thêm môn học mới 67
Hình 5.13: Form xem điểm các thí sinh theo từng môn học 68
Hình 5.14: Phân công giáo viên phụ trách môn 68
Hình 5.15: Form bổ sung giáo viên 69
Hình 5.16: Form trang chủ của giáo viên 69
Hình 5.17: Thay đổi cấu trúc chương trình của môn học 70
Hình 5.18: Giáo viên tuyển chọn các câu hỏi do học viên đưa ra 70
Hình 5.19: Giáo viên lựa chọn các loại câu hỏi cần bổ sung 71
Hình 5.20: Form sửa đổi nội dung câu hỏi của giáo viên 71
Hình 5.21: Form chỉnh sửa câu hỏi, tạo đề thi 72
6
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về e-Learning
Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức. Vì vậy,
việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn
quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cá
nhân. Hơn nữa, việc học tập không chỉ bó gọn trong việc họ
c phổ thông, học
đại học mà là học suốt đời. e-Learning chính là một giải pháp hữu hiệu giải
quyết vấn đề này.
e-Learning là một thuật ngữ thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất
nhiều người hiện nay. Tuy nhiên, mỗi người hiểu theo một cách khác nhau và
dùng trong các ngữ cảnh khác nhau. Do đó, chúng ta sẽ tìm hiểu các khía
cạnh khác nhau của e-Learning. Điều này sẽ đặc biệt có ích cho những người
mới tham gia tìm hiểu lĩnh vực này.
Nhiều nhà chuyên môn cho rằng e-Learning - phương pháp giáo dục
đào tạo mới được đánh giá là cuộc cách mạng trong giáo dục thế kỉ 21. Theo
ông Keith Holtham, Giám đốc phụ trách các giải pháp cho doanh nghiệp khu
vực châu Á - Thái Bình Dương (Intel), e-Learning căn bản dựa trên công
nghệ mạng ngang hàng (P2P). Đây là giải pháp sử dụng công nghệ cao để hỗ
trợ quá trình học tập, cung cấp các dịch vụ đào tạo, khóa học qua mạng
Internet hoặc Intranet cho người dùng máy tính. Ưu điểm nổ
i trội của e-
Learning so với các phương pháp giáo dục truyền thống là việc tạo ra một
môi trường học tập mở và tính chất tái sử dụng các đơn vị tri thức (learning
object). Với công nghệ này, quá trình dạy và học sẽ hiệu quả và nhanh chóng
hơn, giúp giảm khoảng 60% chi phí, đồng thời giảm thời gian đào tạo 20-40%
so với phương pháp giảng dạy truyền thống. e-Learning chuyển tải nội dung
phong phú, ấn tượng và d
ễ hiểu thông qua trang web, bảo đảm chất lượng đào
tạo qua những phần mềm quản lý. Mô hình này cho phép học viên cũng như
7
nhân viên tại các công ty chọn học những thứ cần thiết chứ không bó buộc
như trước. Bên cạnh đó, học viên có thể học bất cứ lúc nào bằng cách nối
mạng mà không cần phải đến trường.
Trên phạm vi toàn cầu hiện nay có nhiều công ty lớn đầu tư vào e-
Learning. Năm 2000, thị trường này đã đạt doanh số 2,2 tỉ · USD. Ở các nước
công nghiệp phát triển, điển hình là Mĩ, lĩ
nh vực này đang phát triển rất
nhanh. Theo số liệu của tập đoàn dữ liệu quốc tế IDC, năm 2003, thế giới
thiếu khoảng 1,45 triệu chuyên gia mạng, do đó nhu cầu về nguồn nhân lực
này ngày càng lớn cùng với mức độ phức tạp xung quanh việc thiết kế, triển
khai và bảo trì hệ thống mạng máy tính trong nền kinh tế Internet. Chính vì
vậy, e-Learning đang được rất nhiều người họ
c quan tâm và theo học.
1.1.1. Khái niệm e-Learning
e-Learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới. Hiện
nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách
hiểu về e-Learning. Hiểu theo nghĩa rộng, e-Learning là một thuật ngữ dùng
để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông,
đặc biệt là công nghệ thông tin.
Theo quan điểm hiện đại, e-Learning là sự phân phát các nội dung học
sử dụng các công cụ
điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang
Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa
CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và
người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail,
thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…
Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học: giao tiếp đồng
bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồ
ng bộ (Asynchronous). Giao tiếp
đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng
một thời và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội
thảo video, nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực tiếp… Giao
8
tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết
phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các khoá tự học qua
Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn. Đặc trưng của kiểu học này là giảng
viên phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra. Học viên
được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học.
Hình 1.1: Mô hình e-Learning
Ngày nay với sự hội tụ của máy tính và truyền thông e-Learning được
hiểu một cách trực tiếp hơn là Quá trình học thông qua mạng Internet và
công nghệ Web.
e-Learning là hình thức truyền tải nội dung bằng phương tiện điện tử
qua trình duyệt Web, ví dụ như Netscape Navigator hay Internet Explorer
thông qua mạng Internet/Intranet hay qua các hình thức khác như CD-ROM,
DVD broadcast video, nội dung theo yêu cầu (content on demand) hay virtual
classrooms (lớp học ảo). Nói một cách khác, e-Learning là sự kết hợp của
Internet và các công nghệ số tạo ra mô hình đào t
ạo trong đó các thông tin về
giáo dục, đào tạo, các kiến thức và sự lĩnh hội được thực hiện thông qua các
máy tính, Internet, các Website hoặc từ tổ chức mạng.
9
e-Learning không phải là hình thức đào tạo thay thế các hình thức đào
tạo truyền thống mà nó chỉ là một giải pháp để mọi người có thêm cơ hội học
tập với chi phí thấp hơn.
e-Learning gồm 4 yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau: học viên (learner)
đóng vai trò trung tâm, nội dung (content), công nghệ (technology) và sự
hướng dẫn (Instruction).[1]
1.1.2. Một số hình thức e-Learning
Có một số hình thức đào tạo b
ằng e-Learning, cụ thể như sau:
- Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT - Technology-Based Training) là
hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ
thông tin.
- Đào tạo dựa trên máy tính (CBT - Computer-Based Training). Hiểu
theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử
dụng máy tính. Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp
để nói đến các ứng dụng (phầ
n mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài
trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới
bên ngoài. Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based
Training.
- Đào tạo dựa trên Web (WBT - Web-Based Training): là hình thức đào
tạo sử dụng công nghệ web. Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học,
thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ
dàng truy nhập thông qua trình duy
ệt Web. Người học có thể giao tiếp với
nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-
mail thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người
giao tiếp với mình.
- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo
có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa
người học với nhau và với giáo viên
10
- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức
đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí
không cùng một thời điểm. Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội
thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web.[2]
Hình 1.2: Ba cấp độ tổ chức thực hiện e-Learning
1.1.3. Vài nét về lịch sử e-Learning
- Trước năm 1983: Kỉ nguyên giảng viên làm trung tâm
Trước khi máy tính được sử dụng rộng rãi, phương pháp giáo dục “Lấy
giảng viên làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường
học. Học viên chỉ có thể trao đổi tập trung quanh giảng viên và các bạn học.
Đặc điểm của loại hình này là giá thành đào tạo rẻ.
- Giai đ
oạn 1984-1993: Kỉ nguyên đa phương tiện
Hệ điều hành Windows 3.1, Máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn
powerpoint đây là các công nghệ cơ bản trong kỉ nguyên đa phương tiện. Nó
cho phép tạo ra các bài giảng tích hợp hình ảnh và âm thanh học trên máy tính
sử dụng công nghệ CBT phân phối qua đĩa CD-ROM hặc đĩa mềm. vào bất kì
thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và học. Tuy nhiên sự hướng
dẫn của giảng viên là rất h
ạn chế.
- Giai đoạn: 1994-1999: Làn sóng e-Learning thứ nhất
Khi công nghệ Web được phát minh ra, các nhà cung cấp dịch vụ đào
tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiến phương pháp giáo dục bằng công
nghệ này. Người thầy thông thái đã dần lộ rõ thông qua các phương tiện: E-
11
mail, CBT qua Intranet với text và hình ảnh đơn giản, đào tạo bằng công nghệ
WEB với hình ảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển khai trên diện rộng.
- Giai đoạn: 2000-nay: Làn sóng e-Learning thứ hai
Các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP,
công nghệ truy nhập mạng và băng thông Internet được nâng cao, các công
nghệ thiết kế Web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục
đào tạo. Ngày nay thông qua Web giáo viên có thể
kết hợp hướng dẫn trực
tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng
cao hơn chất lượng dịch vụ đào tạo. Ngày qua ngày công nghệ Web đã chứng
tỏ có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa
dạng hoá các môi trường học tập. Tất cả những điều đó tạo ra một cuộc cách
mạng trong đ
ào tạo với giá thành rể, chất lượng và hiệu quả. Đó chính là làn
sóng thứ 2 của e-Learning.
1.1.4. Lợi ích của e-Learning:
- e-Learning giúp bạn không còn phải đi những quãng đường dài để
theo học một cua học dạng truyền thống; bạn hoàn toàn có thể học tập bất cứ
khi nào bạn muốn, ban ngày hay ban đêm, tại bất cứ đâu- tại nhà, tại công sở,
tại thư viện nội bộ. Với r
ất nhiều sinh viên, nó đã mở ra một thế giới học tập
mới, dễ dàng và linh hoạt hơn, mà trước đó họ không hy vọng tới, có thể do
không phù hợp, hay vì lớp học cách nơi họ sống đến nửa vòng trái đất. Theo
một nghĩa khác, e-Learning đã xóa nhòa các ranh giới địa lí, mang giáo dục
đến với mọi người chứ không phải là mọi người đến với giáo dục. Ví dụ nếu
bạn muố
n tham dự một bài giảng tại Đại học Gresham tại Luân Đôn, bạn
chẳng cần phải đến đó, đơn giản chỉ cần theo dõi trực tiếp qua internet hay
nếu không có thời gian bạn có thể theo dõi lại bản ghi hình khi bạn muốn.
- e-Learning khiến cho việc học tập dạng thụ động như trước đây được
giảm bớt. Học viên không cần phải tập trung trong các lớp học với ki
ểu học
12
“đọc và ghi” thông thường, giúp cho việc học tập trở nên rất chủ động. Điều
cốt yếu là tập trung vào sự tương tác, “học đi đôi với hành”.
- e-Learning giúp việc học tập trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn và
thuyết phục hơn. Các môn học khó hoặc nhàm chán có thể trở nên dễ dàng
hơn, thú vị hơn với Giáo dục điện tử. Ví dụ các vở k
ịch của Shakespeare có
thể làm cho bạn chán ngán thì hãy xem chúng bằng phim ảnh với truyền hình
cáp, ngay ở trong lớp học.
- Học tập là một hoạt động xã hội, và e-Learning có thể giúp chúng ta
thu được những kết quả chắc chắn và lâu dài, không chỉ thông qua nội dung
mà đồng thời bằng cả cộng đồng mạng trực tuyến. Tại đây, học viên được
khuyến khích giao tiếp, cộng tác và chia xẻ kiến thức. Theo cách này, e-
Learning có thể hỗ tr
ợ “học tập thông qua nhận xét và thảo luận”.
- e-Learning cho phép học viên tự quản lí được tiến trình học tập của
mình theo cách phù hợp nhất. Chúng ta có nhiều cách học khác nhau như đọc,
xem, khám phá, nghiên cứu, tương tác, thực hành, giao tiếp, thảo luận, chia xẻ
kiến thức. e-Learning đồng nghĩa với việc học viên có thể truy cập tới rất
nhiều nguồn tài nguyên phục vụ cho học tập: cả tư liệu và con người, và theo
cách này mỗi người đều có quyền chọn lựa hình thức học tập phù hợp nhất
với khả năng và điều kiện của mình.
- e-Learning đổng thời giúp cho việc học tập vẫn có thể tiến hành được
đồng thời trong khi làm việc, khi mà các doanh nghiệp đã bắt đầu nhận thấy
học tập không chỉ có thể diễn ra lớp học. Thực tế, 70% của dung lượng học
t
ập diễn ra trong quá trình làm việc, không ở dạng giáo dục và đào tạo chính
thống mà là trong công việc hàng ngày như tìm kiếm thông tin, đọc tài liệu,
và trao đổi với đồng nghiệp. Đó chính là các hình thức học tập không chính
thống được được e-Learning hỗ trợ và khuyến khích trong các tổ chức. Vì nếu
như một nhân viên nào đó muốn tìm lời giải đáp cho một vấn đề khó khăn
một cách nhanh chóng, học không muốn phải đặt chỗ t
ại một khoá học kéo
13
dài trong 3 buổi trong tương lai, cái họ cần là một câu trả lời ngay lập tức. Vì
lẽ đó, các giải pháp đơn giản và nhanh chóng như Hỗ trợ từ xa hay 10 phút
hỏi đáp tỏ ra phù hợp hơn nhiều với các nhu cầu của các tổ chức.
- Giáo dục đã chuyển từ dạng lớp học truyền thống sang máy tính các
nhân và bây giờ là các thiết bị cầm tay. Sự thực là mỗi ngày chúng ta trở nên
nă
ng động hơn; khoảng 50% số công chức dùng tới 50% quỹ thời gian của
mình để làm việc ngoài trụ sở. Chúng ta di chuyển nhiều hơn (trên xe buýt,
tàu điện và phi cơ), khi chúng ta tới làm việc với các cơ quan và văn phòng
khác và xuất hiện nhu cầu tận dụng những khoảng thời gian chết để phục vụ
học tập. Khái niệm học tập di động (m-learning) được sử dụng với nghĩa
chúng ta dùng các thiế
t bị cầm tay và điện thoại di động để học tập. PDA là
các thiết bị rất hữu dụng giúp học viên tải về các nội dung học tập và thuận
tiện để theo dõi. Vì vậy nếu như bạn muốn tìm một ví dụ về cách quan sát và
nghe các đoạn âm thanh từ một tài liệu trình diễn PowerPoint trên máy tính
bỏ túi. Hay nếu bạn muốn tím hiểu về cách các nội dung học tập dạng truyền
thống có thể được truyền tải trên các thiết bị cầm tay như Palm hay Pocket
PC.
- e-Learning đã giúp đỡ cách tổ chức giải quyết những vấn đề chính
yếu nhất. Rất nhiều doanh nghiệp đã thống kê được lượng thời gian mà học
tiết kiệm được khi tiếp cận thị trường, đồng thời giảm thiểu lượng thời gian
dành cho đào tạo nhân viên và đầu tư vào cho phí cơ hộ
i, đồng thời đáp ứng
nhanh hơn và tốt hơn các nhu cầu khách hàng và cả nhân viên của chính
mình. Với các doanh nghiệp, e-Learning đang đóng một vai trò quan trọng
giúp họ luôn vững chắc và cạnh tranh hơn trong thương trường.
Trên đây chỉ là một vài lí do giải thích tại sao e-Learning lại trở nên quan
trọng như vậy. Tuy vậy chắc chắn phải có những khó khăn với e-Learning
chứ? Đúng, bạn cần phải có nhứng trang thiết b
ị kĩ thuật và công nghệ phù
hợp, các học viên phải có trình độ để làm việc với máy tính và mạng Internet,
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét