Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường thpt tại quận 12 – tp. hồ chí minh


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường thpt tại quận 12 – tp. hồ chí minh": http://123doc.vn/document/1050881-thuc-trang-quan-ly-hoat-dong-giao-duc-ngoai-gio-len-lop-o-cac-truong-thpt-tai-quan-12-tp-ho-chi-minh.htm


0T2.2 Đặc điểm các trường THPT quận 12 năm học 2009 – 20100T 46
0T2.2.1 Tình hình học sinh0T 46
0T2.2.2 Số lượng trường lớp0T 46
0T2.2.3 Đội ngũ giáo viên, Cán bộ quản lý (CBQL)0T 47
0T2.2.4 Kết quả học tập của học sinh0T 47
0T2.3 Thực trạng HĐGD NGLL ở các trường THPT tại quận 12 TP.Hồ Chí Minh0T 47
0T2.3.1 Nhận thức của Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về HĐGD NGLL0T 48
0T2.3.2 Chương trình và nội dung HĐGD NGLL theo chương trình của Bộ được học sinh
yêu thích
0T 54
0T2.3.3 Hình thức và phương pháp tổ chức các HĐGD NGLL0T 55
0T2.3.4 Điều kiện, phương tiện tổ chức HĐGD NGLL0T 60
0T2.3.5 Kiểm tra, đánh giá HĐGD NGLL0T 61
0T2.4 Thực trạng quản lý HĐGD NGLL ở các trường THPT tại quận 12 TP.Hồ Chí
Minh
0T 62
0T2.4.1 Thực hiện các chức năng quản lý HĐGD NGLL0T 62
0T2.4.2 Các hình thức áp dụng để tiết HĐGD NGLL đạt kết quả cao0T 68
0T2.4.3 Thực trạng phân cấp trong quản lý HĐGD NGLL0T 69
0T2.4.4 Thực trạng quản lý cán bộ giáo viên với việc tổ chức HĐGD NGLL0T 69
0T2.4.5 Thực trạng quản lý học sinh với các HĐGD NGLL0T 71
0T2.4.6 Thực trạng quản lý các điều kiện, phương tiện tổ chức HĐGD NGLL0T 72
0T2.4.7 Thực trạng quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả HĐGD NGLL0T 72
0T2.4.8 Thực trạng quản lý sự phối hợp tổ chức HĐGD NGLL0T 74
0T2.5 Đánh giá thực trạng0T 75
0T2.5.1 Thuận lợi0T 78
0T2.5.2 Khó khăn0T 78
0T2.6 Nguyên nhân của thực trạng0T 79
0T2.6.1 Nguyên nhân khách quan:0T 80
0T2.6.2 Nguyên nhân chủ quan:0T 81
0TCHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG
TÁC QUẢN LÝ HĐGD NGLL Ở CÁC TRƯỜNG THPT TẠI QUẬN 12 –
TP.HỒ CHÍ MINH
0T 82
0T3.1. Cơ sở lý luận của các biện pháp0T 82
0T3.2. Cơ sở pháp lý của các biện pháp0T 83
0T3.3. Cơ sở thực tiễn của các biện pháp0T 85
0T3.4. Các biện pháp0T 85
0T3.4.1 Nâng cao nhận thức của CBQL, giáo viên và học sinh về vai trò, ý nghĩa của
HĐGD NGLL
0T 85
0T3.4.2 Đổi mới nội dung tổ chức HĐGD NGLL0T 88
0T3.4.3 Đổi mới phương pháp tổ chức HĐGD NGLL0T 90
0T3.4.4 Đổi mới hình thức tổ chức HĐGD NGLL0T 92
0T3.4.5 Nâng cao năng lực tổ chức HĐGD NGLL cho giáo viên và học sinh0T 93
0T3.4.6 Đổi mới công tác quản lý HĐGD NGLL0T 95
0T3.4.7 Phát triển các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho
HĐGD NGLL
0T 96
0T3.4.8 Tăng cường phối hợp các lực lượng giáo dục: Nhà trường – Gia đình – Xã hội0T 98
0T3.4.9 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm hàng tháng0T 99
0T3.4.10 Có biện pháp động viên và khen thưởng kịp thời0T 101
0T3.5 Kết quả trưng cầu ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề
xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý HĐGD NGLL
0T 102
0T3.5.1 Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp0T 102
0T3.5.2 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện các biện pháp0T 105
0TKẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ0T 107
0T1. KẾT LUẬN0T 107
0T2. KIẾN NGHỊ0T 109
0TDANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO0T 111

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN


CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CBQL : Cán bộ quản lý
CSVC : Cơ sở vật chất
GD – ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
GV : Giáo viên
PHHS : Phụ huynh học sinh
HĐGD NGLL : Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
HS : Học sinh
TDTT : Thể dục thể thao
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TLTN : Trợ lý thanh niên
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
XH : Xã hội
MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2009 – 2020 về mục tiêu có
nêu rõ: “ Trong vòng 20 năm tới, phấn đấu xây dựng một nền giáo dục Việt Nam hiện đại,
khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền
vững đất nước, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới
một xã hội học tập, có khả năng hội nhập quốc tế; nền giáo dục này phải đào tạo được
những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả năng thích ứng,
hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có thể lực tốt,
có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và tinh thần trách nhiệm công dân, gắn bó với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Để thực hiện được mục tiêu trên, mặt bằng dân
trí phải được nâng cao nhằm cung cấp những nguồn nhân lực có đầy đủ về đạo đức và năng
lực nghề nghiệp. Những giá trị về đạo đức và năng lực nghề nghiệp của các nguồn nhân lực
được hình thành không chỉ ở những giờ học trên lớp mà còn phải được rèn luyện, củng cố
và phát triển thông qua các hoạt động giáo dục, trong đó không thể thiếu hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp.
- Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGD NGLL) là một bộ phận của quá trình
giáo dục ở nhà trường phổ thông. Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học
các môn văn hóa ở trên lớp. HĐGD NGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là
con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành
động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin ở học sinh. HĐGD NGLL là con đường
phát triển toàn diện nhân cách của thế hệ trẻ.
- HĐGD NGLL tạo điều kiện cho học sinh phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ
động của các em trong quá trình học tập, rèn luyện toàn diện. Nó vừa củng cố kiến
thức đã học, vừa mở rộng kiến thức mới và phát triển những kỹ năng cơ bản của học
sinh theo mục tiêu giáo dục ở bậc THPT.
- Đa số học sinh các trường THPT ở quận 12 thuộc gia đình làm nông, buôn bán nhỏ,
điều kiện rất khó khăn. Vì cuộc sống mưu sinh nên rất nhiều phụ huynh chưa quan tâm
đến việc học tập của con em mình. Mặc khác, quận 12 còn nhiều tệ nạn xã hội sẽ lôi
kéo các em vào con đường bỏ học, hư hỏng …Do vậy, việc tổ chức tốt HĐGD NGLL
là một trong những biện pháp bảo đảm một sân chơi lành mạnh cho các em, duy trì
phong trào thi đua học tập, hạn chế tình trạng bỏ học.
- Năm 2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho triển khai chương trình HĐGD NGLL vào
nhà trường trung học phổ thông. Năm đầu tiên chỉ áp dụng cho học sinh khối 10 và tới
năm 2008 áp dụng được cả ba khối 10, 11, và 12, tới ngày nay đã thực hiện được 4
năm, chúng ta đã thu được kết quả rất khả quan từ công tác giáo dục này, tuy nhiên
bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế đòi hỏi chúng ta phải có sự tổng kết, kiểm tra, rút
kinh nghiệm để thực hiện tốt hơn cho những năm kế tiếp.
- Vẫn còn một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh chưa nhận thức đúng về
vai trò, vị trí và ý nghĩa của HĐGD NGLL, nên nhiều ý kiến còn coi nhẹ tác dụng của
HĐGD NGLL.
- Trong công tác tổ chức, quản lý, chỉ đạo còn lỏng lẻo, thiếu kỷ luật, nề nếp, thiếu kế
hoạch cụ thể, việc kiểm tra, đánh giá chưa chặt chẽ công bằng, công tác tổng kết đúc
rút kinh nghiệm chưa được quan tâm đúng mức.

Từ những tầm quan trọng đó tôi chọn đề tài “ Thực trạng quản lý HĐGD NGLL ở các
trường THPT tại quận 12 – TP.HCM.” để nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý HĐGD NGLL ở
các trường THPT tại quận 12 – TPHCM, phân tích nguyên nhân và đề xuất các biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.

3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động sư phạm ở trường THPT quận 12-TP.HCM.

3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý HĐGD NGLL ở các trường THPT tại quận 12 – TP.HCM.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

- HĐGD NGLL ở các trường THPT tại quận 12 TP. Hồ Chí Minh đã được quan
tâm nhưng vẫn còn có một số hạn chế nhất định. Nên việc tổ chức HĐGD NGLL
còn gò bó, mang tính hình thức, nội dung, hình thức tổ chức còn nghèo nàn, đơn
điệu, không lôi cuốn, hấp dẫn học sinh tham gia.
- HĐGD NGLL là hoạt động nối tiếp của hoạt động dạy học trên lớp. Nếu đánh giá
thực trạng đúng, xây dựng được các biện pháp quản lý HĐGD NGLL một cách
khoa học, hợp lý sẽ tạo môi trường tích cực cho việc rèn luyện, phát triển năng
lực và hoàn thiện nhân cách của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
toàn diện ở các trường THPT.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về HĐGD NGLL và quản lý HĐGD NGLL.
 Khảo sát thực trạng HĐGD NGLL và công tác quản lý HĐGD NGLL ở các
trường THPT tại quận 12 - Thành phố Hồ Chí Minh.
 Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGD NGLL ở các trường THPT quận 12 –
TP.HCM.
6. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Cơ sở phương pháp luận
6.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc:
Trong trường THPT, quản lý là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố có
mối quan hệ mật thiết với nhau như quản lý công tác giảng dạy, quản lý cơ
sở vật chất, quản lý nhân sự, quản lý HĐGD NGLL… trong đó quản lý
HĐGD NGLL có mối quan hệ mật thiết và có tác động qua lại với các yếu tố
khác. Vì vậy, các biện pháp quản lý HĐGD NGLL phải được xem trong một
hệ thống các tác động quản lý của Hiệu trưởng đến các lĩnh vực quản lý
nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra. Ngoài ra, người nghiên cứu còn xem
thực trạng quản lý HĐGD NGLL gồm những yếu tố như: mục tiêu quản lý,
nội dung quản lý, chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, kết quả quản lý.
6.1.2 Quan điểm thực tiễn
Xuất phát từ thực trạng công tác quản lý HĐGD NGLL ở các trường
THPT quận 12 TP.HCM còn nhiều tồn tại, khó khăn trên cơ sở đó đề ra những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả HĐGD NGLL ở các trường trung học phổ
thông.

6.1.3 Quan điểm lịch sử
Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của HĐGD NGLL trên Thế
giới cũng như ở Việt Nam. Thực trạng HĐGD NGLL ở các trường THPT quận
12 TPHCM trong những năm qua để khắc phục những khó khăn và phát huy
những thành tựu đã làm được .

6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phân tích, tổng hợp, hệ thống các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên
cứu.

6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: dùng cho học sinh (404 học
sinh), giáo viên (181 giáo viên) và cán bộ quản lý giáo dục (32 người)
cấp trung học phổ thông.
6.2.2.2 Phương pháp quan sát.
6.2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: phỏng vấn trực tiếp 15 người gồm
CBQL, giáo viên và học sinh.

6.2.3 Phương pháp toán thống kê
7. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ tập trung khảo sát thực trạng công tác quản lý
HĐGD NGLL theo chương trình phân ban mới ở các trường THPT công lập: Võ
Trường Toản, Thạnh Lộc, Trường Chinh, quận 12 trong những năm gần đây, đặc biệt
năm học 2009 – 2010.
8. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
A. Mở đầu.
B. Nội dung.
Chương 1: Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trang công tác quản lý HĐGD NGLL ở các trường THPT tại quận
12 – TP.Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý HĐGD
NGLL ở các trường THPT tại quận 12 – TP.Hồ Chí Minh.
C. Kết luận và kiến nghị.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở một số nước trên thế giới
Trong quá trình nghiên cứu lịch sử phát triển giáo dục thế giới, hoạt động dạy – học
được nghiên cứu một cách có hệ thống từ thời Nguyên thủy cho đến nay chúng ta nhận thấy
có rất nhiều nhà giáo dục đã đưa ra các phương pháp giáo dục mà đến ngày hôm nay chúng
ta thấy vẫn còn giá trị và các phương pháp này có liên quan đến các HĐGD NGLL như:
Trong thời kỳ văn hóa Phục hưng đã xuất hiện hàng loạt các nhà giáo dục Phục hưng
– đó chính là những nhà giáo dục đã lý giải các vấn đề giáo dục một cách mới mẻ theo
khuynh hướng khoa học, không ràng buộc lễ giáo phong kiến và triết lý nhà thờ, tư tưởng
của họ đã đặt tiền đề cho thời kỳ giáo dục mới: giáo dục cận đại. Tiêu biểu cho các nhà giáo
dục Phục hưng là Thomas More (1478 – 1535), Ông đề cao: “ phương pháp quan sát, thí
nghiệm, thực hành trong dạy học và giáo dục, theo Ông lao động là nghĩa vụ của mọi
người, song mỗi ngày chỉ làm việc 6 giờ, thời gian còn lại để học văn hóa và sinh hoạt xã
hội, giáo dục nhằm phát triển nhiều mặt ở trẻ em: về thề chất, đạo đức, trí tuệ và kỹ năng
lao động” [33, trang 80]. Đây chính là tiếng nói tiến bộ của loài người về lĩnh vực giáo dục
trong thời kỳ văn hóa Phục hưng, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa nhân văn mà Thomas
More đề xuất lý luận và có ý định thực thi một chế độ giáo dục mới tiến bộ để thay cho trật
tự đương thời của phong kiến về giáo dục.
Thế kỷ XIX, có ông Pétxtalôdi (1746 – 1827) là một trong những nhà giáo dục thời
kỳ Tư bản chủ nghĩa, ý đồ kết hợp giáo dục với lao động sản xuất là một trong những luận
điểm quan trọng nhất trong lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục của ông, theo ông trong
trường học cần có đất đại để trồng trọt, chăn nuôi và trẻ em được học một nghề thủ công.
Ông đánh giá rất cao vai trò của lao động trong việc hình thành nhân cách trẻ em, ông muốn
rằng qua lao động để: “….sưởi ấm trái tim và phát triển khối óc của trẻ em”, học sinh được
đi tham quan các trại, xưởng thủ công mỹ nghệ để học tập [33, trang 121]. Điều này cho
chúng ta thấy việc giáo dục trong nhà trường không đủ, ta cần phải mở rộng giáo dục ngoài
trường, ngoài giờ lên lớp để học sinh vừa lĩnh hội được tri thức trên lớp, vừa có thời gian
thực hành để củng cố kiến thức.
Vào những năm 90 của thế kỷ XIX, người có ảnh hưởng lớn đến triết học thực dụng
ở Âu – Mỹ, và không chỉ là triết gia lý thuyết mà còn là triết gia thực hiện trên mọi lĩnh vực
giáo dục là John Dewey (1859 – 1952), ông là giáo sư trường Đại học Côlômbia (New
York), ông đề ra khẩu hiệu “Giáo dục bằng việc làm” là phương thức của thực hiện nhà
trường tiến bộ, điều đó có nghĩa là thay cho việc tiếp thu những tri thức của nhân loại bằng
việc nắm vững những thói quen thực tiễn với các hình thức đa dạng của cuộc sống và được
tiến hành ở mọi nơi như ở vườn trường, xưởng trường, dưới nhà bếp, ngoài công xưởng và
được trang bị bằng những công cụ lao động với các phương tiện hiện đại [33, trang 140].
Qua đó ông khẳng định rằng học phải đi đôi với hành để rèn luyện kỹ năng cho học sinh.
Đến thế kỷ XX, A.S Makarenco (1888 – 1939) – Vừa là nhà văn, vừa là nhà giáo dục
Xô Viết lỗi lạc đã nói về tầm quan trọng của công tác giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp:
“Tôi kiên trì nói rằng các vấn đề giáo dục, phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong
các vấn đề giáo dục, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp
học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta…Nghĩa là trong bất kỳ
hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành
trong lớp. Công tác giáo dục chỉ đạo toàn bộ cuộc sống của trẻ” [19, trang 63].
Vào năm 1952, Trung Quốc bắt đầu học tập Liên Xô một cách đâi quy mô, giáo dục
đi ở phía trước, Trung Quốc học tập mô hình giáo dục Liên Xô – từ chế độ đến phương
pháp, từ nội dung đến hình thức cải tạo giáo dục. Trung Quốc đã áp dụng biện pháp cải cách
giáo dục quan trọng như: đưa giờ lao động vào khóa trình chính khóa, giáo viên và học sinh
tham gia lao động sản xuất, nhà trường mở công xưởng, nông trường; công xưởng, hợp tác
xã nông nghiệp mở nhà trường vừa học vừa làm. Thực hiện chế độ giáo dục vừa học vừa lao
động công nghiệp, vừa học vừa lao động công nghiệp, với biện pháp này nhằm kết hợp biên
pháp giáo dục trên lớp và giáo dục ngoài giờ lên lớp để rèn luyện và đào tạo con người “vừa
hồng vừa chuyên” [28, trang 74].
Trong tác phẩm Tư bản, Mác khẳng định: “Học tập kết hợp với lao động sản xuất là
phương pháp tổng quát của sản xuất xã hội và là phương pháp duy nhất để hình thành con
người toàn diện. Lao động tạo ra nhân cách con người. Nhà trường phải giáo dục, đào tạo
ra những con người lao động chân chính và có nhân cách tốt. Mục tiêu tổng quát của giáo
dục là phải phát triển con người toàn diện; đối với xã hội, phát triển con người toàn diện để
phát triển kinh tế xã hội, đối với từng người – để có năng lực nghề nghiệp, để sống và đóng
góp cho gia đình, cho cộng đồng…”[36, trang 38].

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét