Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

25 bệnh, triệu chứng bệnh mới, thường gặp


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "25 bệnh, triệu chứng bệnh mới, thường gặp": http://123doc.vn/document/542210-25-benh-trieu-chung-benh-moi-thuong-gap.htm


ngực v.v Không bao giờ được coi nhẹ cơn đau vùng ngực, nhiều khi chủ quan
gây những hậu quả đáng tiếc đến tính mạng người bệnh.
Đau ngực do nhiều nguyên nhân khác nhau, vì vậy khi đau ngực phải
được theo dõi tỷ mỉ các dấu hiệu:
2.1. Đau ngực ở vùng xương ức, vùng trước tim: Đau có tính chất co
thắt, đau nhói, có cảm giác nghẹn thở, có khi ngừng vận động và ngừng thở.
Cũng có khi chỉ có cảm giác đè nặng ở vùng ngực trái. Đau có thể lan xuống
cánh tay trái, ngón cái, đau lan 2 cánh tay, lên vai và cổ, hàm dưới, vã mồ hôi.
Nghĩ đến: Các bệnh tim mạch.
2.1.1. Nếu cơn đau xẩy ra đột ngột như dao đâm hoặc như xé lồng ngực;
đau khắp lồng ngực, cũng có thể đau nhẹ kèm theo khó thở ngột thở. Cơn đau
kéo dài trên 15-20' phút, có khi kéo dài vài giờ, vã mồ hôi, khó thở, mạch nhanh,
buồn nôn. Ngậm Nitroglycerin mà không thấy triệu chúng đau giảm. Nghĩ đến
Nhồi máu cơ tim.
Nhồi máu cơ tim là một hoại tử vùng cơ tim do thiếu máu cục bộ. Nhồi
máu cơ tim cấp là tai biến kịch phát của bệnh tim thiếu máu cục bộ đòi hỏi sự
cấp cứu - hồi sức nội khoa. Nhồi máu cơ tim xẩy ra do nghẽn tắc một động
mạch vành hoặc một nhánh. Nguyên nhân thường do mảng xơ vữa làm hẹp lòng
động mạch, cục máu đông do ngưng kết tiểu cầu kết chặt làm ngừng hoàn toàn
tuần hoàn trong vùng đó, co thắt nặng động mạch vành kéo dài. Nhồi máu cơ
tim cấp cũng có thể xẩy ra do tăng cầu ở cơ tim vì gắng sức thể lực quá mức,
stress tâm lí, cơn nhịp nhanh, cơn tăng huyết áp, các tình trạng tăng chuyển hoá.
Tại vùng bị nhồi máu cơ tim sẽ giải phóng ra nhiều chất, trong đó có các chất
làm cho gây cơn đau ngực dữ dội, các men đặc hiệu của tế bào cơ tim cả khu
vực mất hoạt động điện và mất khả năng tham gia co bóp tống máu.
Khám lâm sàng: Nhịp tim nhanh, cũng có thể chậm 40-50 lần/1 phút, nhịp
tim không đều, tiếng tim mờ, có thể có tiếng ngựa phi.
Huyết áp thấp, giờ đầu có thể không đo được huyết áp, gây truỵ tim mạch
(vã mồ hôi, da lạnh, xanh xám, buồn nôn, muốn ngất xỉu), rất nguy hiểm, đe doạ
tử vong. Những giờ đầu không sốt.
Nếu có điều kiện cần kiểm tra:
+ Điện tim: Sóng T (T vành: âm, cân, nhọn) phản ánh thiếu máu cục bộ
cơ tim. Đoạn ST chênh lên, lồi lên phản ánh tổn thương cơ tim. Sóng Q sâu
phản ánh hoại tử. Vậy hoại tử là dấu chứng quyết định chẩn đoán.
5
+ Xét nghiệm: Men CPK hoặc CK (Creatin-photphokinaza) với men đồng
vị MBCK đặc hiệu cho cơ tim. Men SGOT (Transaminaza cơ tim) đều tăng cao.
Men LDH (Lacticdehydrogennaza) với men đồng vị LDH1 đặc hiệu cho cơ tim
thường xuất hiện chậm vào ngày thứ 4.
Nhồi máu cơ tim trong giờ đầu, ngày đầu diễn biến rất phức tạp. Nhiều
biến chứng đe doạ đến tính mạng bệnh nhân như suy tim cấp, đứt cơ cột giữa
các van tim gây hở van tim, thủng vách liên thất, vỡ tim, rối loạn nhịp tim, rung
thất dễ dẫn đến tử vong v.v
Gặp trường hợp trên:
- Ngay tức khắc tại nhà: Khi có cơn đau ngực trái cho ngậm viên
Nitroglycérin dưới lưỡi, nằm yên tại giường. Sau 20 phút vẫn không cắt được
cơn đau, các triệu chứng trên càng nặng nề thêm, nằm tại giường không được
vận động dù nhỏ cũng làm tim tăng hoạt động, tăng co bóp tim, dễ làm vỡ tim
và xuất hiện các biến chứng.
- Báo ngay cấp cứu 115, nếu không có điều kiện nhất thiết phải mời y
bác sĩ đến để khám, chẩn đoán xác định và có chỉ định càng sớm càng tốt việc
dùng thuốc chống đau ngực, chống truỵ tim mạch, thở ôxy, chống rối loạn nhịp
tim, thuốc làm tiêu huyết khối và quyết định việc điều trị tại chỗ hay đưa đến
bệnh viện bằng phương tiện đảm bảo an toàn nhất.
2.1.2. Nếu có cơn đau ngực vùng ức, trước tim, cơn đau mất đi khi
ngừng vận động, đau lại khi gắng sức v.v Nghĩ đến thiếu máu cơ tim, cơn đau
thắt ngực do thiểu năng vành.
- Cơn đau thắt ngực là một hội chứng lâm sàng biểu hiện bằng những
cơn đau hoặc cảm giác thắt chặt ở sau xương ức hay vùng trước tim, đôi khi
xuyên ra sau lưng và thường lan lên cổ, vai trái, cánh tay. Cơn đau thắt ngực xẩy
ra do mảng vữa xơ làm hẹp lòng động mạch, hạn chế lưu lượng máu đến nuôi
dưỡng một khu vực của cơ tim, làm mất cân bằng khả năng cung cấp máu của
động mạch vành và nhu cầu về máu lẫn ôxy của cơ tim. Khi đó tim phải đập
nhiều hơn, nhanh hơn để cung cấp thêm máu cho các cơ bắp. Để đáp ứng được
nhu cầu đó, các động mạch vành tim phải giãn ra để tăng chứa máu và ôxy vào
thêm cho các tế bào cơ tim. Trong khi đó mạch vành bị xơ vữa, khả năng giãn
mạch vành bị hạn chế, nên khi gắng sức sẽ mất cân bằng, máu và ôxy đến không
đủ, làm cho cả một khu vực của cơ tim bị thiếu máu, tế bào kém nuôi dưỡng nên
bị tổn thương.
6
- Dấu hiệu lâm sàng: Đau vùng ức hoặc ngực trái, đau co thắt ngực hoặc
đau nhói, khi đau ngừng vận động tháy đỡ đau. Cũng có khi chỉ thấy cảm giác
đè nặng ở ngực, có khi đau lan lên bả vai tới cánh tay theo mặt trong cẳng tay tới
ngón tay út, tới cổ, hàm dưới, tới thượng vị, có cảm giác lo lắng. Cơn đau ngắn
từ 30 giây hoặc kéo dài tới vài chục phút, nằm nghỉ đỡ đau.
- Nếu có điều kiện làm điện tâm đồ trong cơn đau có thể thấy hình ảnh
ST chênh xuống phản ảnh thiếu máu cơ tim cục bộ, ngoài cơn đau điện tim
thường trở về bình thường.
- Điều trị: Tốt nhất được chỉ dẫn của thầy thuốc, tạm thời xử trí bước
đầu:
+ Khi có cơn đau phải ngừng ngay hoạt động, nghỉ tại chỗ và ngậm 1 viên
Nitroglycérin dưới lưỡi. Có thể dùng 4-5 lần trong một ngày nếu lại xuất hiện
cơn đau và chịu được thuốc (không được dùng Nitroglycérin khi huyết áp tối đa
xuống dưới 100 mmHg).
+ Dùng các thuốc dán hoặc thuốc mỡ (loại dạng thuốc của Nitroglycérin)
để dán hoặc bôi vào vùng ngực trái, hoặc dùng thuốc uống có tác dụng kéo dài
như Lemitral.
+ Ngoài cơn đau: Dùng các thuốc thuộc nhóm Nitroglycérin nhưng loại
thuốc kéo dài (Peritrat, Nitropenton v.v ), Vastarel, các thuốc chẹn Beta, ức chế
Canxi.
+ Đến bệnh viện khám để được làm các xét nghiệm chẩn đoán, có hướng
điều trị và dự phòng lâu dài. Nếu có chỉ định cần được điều trị cơ bản như nong
động mạch vành hoặc làm cầu nối chủ - vành (Paj-Pass).
2.1.3. Phòng bệnh ở bệnh nhân hay có cơn đau vùng ngực trái, nhồi
máu cơ tim:
- Phải thực hiện tốt hướng dẫn của thầy thuốc sau cơn đau thắt ngực
cũng như sau điều trị nhồi máu cơ tim: Dùng thuốc lâu dài và luyện tập phục hồi
chức năng.
- Tránh các điều kiện thuận lợi cho cơn đau xuất hiện, kiểm soát các yếu
tố làm bệnh nặng, làm khởi phát bệnh, làm tăng ngưỡng gây đau(hút thuốc, cơn
tăng huyết áp, nhanh, béo phì v.v ). Không làm việc gắng sức, tránh căng thẳng
thần kinh, tránh xúc động mạnh (Streess), không để nhiễm lạnh.
- Định kỳ đến kiểm tra tại cơ sở y tế.
7
2.2. Đau ngực đơn thuần kèm theo thở nhanh, sốt nếu phải nằm lâu
sau phẫu thuật: Nghĩ đến có thể bị viêm phổi, ứ tắc huyết phổi do nằm lâu:
nên đến bệnh viện để khám và chụp phổi.
2.3. Đau ngực đột ngột tăng lên khivà khi gập người lại: Nghĩ đến một
số trường hợp sau: Thoát vị cơ hoành, co thắt thực quản. Khi đó cần đến bệnh
viện để được chẩn đoán, vì mỗi bệnh có thái độ điều trị khác nhau.
- Thoát vị cơ hoành: Cần được theo dõi và cần phẫu thuật.
- Đau do co thắt thực quản: Dùng thuốc giảm co thắt như Spasmaverin
40mg hoặc No-spa 40 mg, ngày 2-4 viên và thuốc giảm đau: Nhóm
Paracethamol 500 mg (Efférangan Codein, Panadon 500 v.v ). Sau đó đến ngay
bệnh viện để được khám và điều trị.
2.4. Đau ngực cảm giác ở vùng thượng vị, xiên lên ngực kèm theo khó
tiêu, đau xiên ra sau lưng, liên quan đến ăn uống: Nghĩ đến đau thuộc hệ tiêu
hoá: viêm, loét dạ dầy hành tá tràng (xem phần về đau dạ dầy - đại tràng).
2.5. Đau ngực một bên, sờ vào cảm giác đau rát: Có hai khả năng:
- Đau ngực một vùng, đau theo nhịp thở nghĩ đến: đau dây chằng và đau
sụn sườn do va đập hoặc do thần kinh, do viêm: dùng thuốc giảm đau
(Paracéthamol 500 mg, ngày4viên, nếu đau nhiều có thể dùng thêm Alaxan,
Mobic 7, 5mg/viên v.v ).
+ Chống viêm phù nề tại chỗ bằng các thuốc chống viêm, dầu xoa, dán
băng dính thuốc.
Cần đến bệnh viện khám, chụp XQ để loại trừ tổn thương thực thể và điều
trị.
- Đau một bên, kèm theo trên da dọc xương sườn có những nốt phỏng
rất rát, sau đó những mụn vỡ ra và lan nhanh theo một bên thân thể theo đường
dây thần kinh, nghĩ đến viêm dây thần kinh do virut (zona), bệnh thường diễn
biến ít nhất 2 tuần: Cần đến khám bệnh để được chẩn đoán và điều trị. Nếu
không có điều kiện khám bệnh, tạm điều trị bằng các thuốc giảm đau, an thần;
tại chỗ giữ sạch, không để mụn vỡ lan ra, cần phải chấm khô khi có những mụn
vỡ; thuốc kháng sinh chống nhiễm khuẩn thông thườngvà thuốc chống phù nề
tại chỗ, thuốc giảm đau. Nếu có điều kiện uống kháng sinh chống virut như
Acyclovir 200mg/1 viên hoặc Zovirax 200mg/1 v ngày 4 viên trong 5 ngày đầu,
bôi mỡ Acyclovir trực tiếp vào các nốt mụn hoặc chấm Xanh Methylene.
8
- Có thể dùng thuốc y học dân tộc như: Giã 1 nắm gạo trộn với nước vo
đắp vào vết giời leo. Đậu xanh một nắm giẫ nhỏ trộn với nước bọt cơm đắp lên.
Lá xoan leo một nắm rửa sạch giã nhỏ đắp lên.
III- CHÓNG MẶT:
Chóng mặt là một triệu chứng chủ quan của người bệnh. Người bệnh cảm
thấy mọi vật chung quanh quay hoặc bản thân bị quay như đứng giữa một cơn
lốc, đôi khi có cảm giác bồng bềnh như đứng trên thuyền, hoặc bị hẫng hụt, đi
lại không vững hoặc khi đi như bị kéo lệch về một phía. Có lúc cảm thấy nhà
cửa đu đưa, giường chao đảo, mặt đất bập bềnh. Một số cơn chóng mặt kèm theo
nôn, buồn nôn, vã mồ hôi, tim đập nhanh, hồi hộp sợ hãi. Cơn thường xẩy ra đột
ngột, có thể diễn biến nhanh hoặc kéo dài. Nguyên nhân của chóng mặt rất phức
tạp, cần có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa và tiến hành một số xét nghiệm
cần thiết. Khi thấy có dấu hiệu chóng mặt có thể nghĩ đến:
3.1. Chóng mặt kèm theo yếu chân tay hoặc có cảm giác như kiến bò,
nói khó, mờ mắt:
3.1.1. Nếu những dấu hiệu trên không thường xuyên: Nghĩ đến bệnh do
hẹp mạch máu não.
Hẹp mạch máu não gây cơn thiếu máu thoảng qua, xẩy ra khi sự cung cấp
máu động mạch đến não bị tắc tạm thời do có cục máu đông trong mạch máu,
hoặc do co thắt mạch máu, do hẹp động mạch vì xơ vữa gây ra. Cục máu đông
có thể xuất phát từ mạch máu của van tim. Nếu là do co thắt mạch máu não triệu
chứng sẽ không thường xuyên, mỗi cơn chỉ vài phút đến vài giờ. Nếu do cục
máu đông : bít không hoàn toàn triệu chứng sẽ không thường xuyên, nếu bít tắc
hoàn toàn triệu chứng thường xuyên.
- Triệu chứng của bệnh hẹp mạch máu não: Cơn thường xẩy ra đột ngột,
tuỳ thuộc vào vị trí và thời gian bị tắc nghẽn của dòng máu đến não. Cơn có thể
kéo dài vài phút đến vài giờ. Nếu kéo dài trên 24 giờ phải nghĩ đến đột quỵ (cơn
thiếu máu thoảng qua có thể là dấu hiệu báo trước của đột quỵ). Bệnh nhân thấy
xuất hiện triệu chứng yếu hoặc tê bại một tay hoặc một chân, nói khó, chóng
mặt, nhìn mờ. Sau mỗi cơn có thể bình phục trở lại hoàn toàn.
Khi thấy những dấu hiệu trên: cần nằm nghỉ tại chỗ, đo huyết áp và theo
dõi diễn biến của các triệu chứng, dùng thuốc hạ huyết áp nếu có huyết áp cao,
thuốc dãn mạch. Nếu có huyết áp thay đổi diễn biến kéo dài hoặc nặng hơn cần
được đưa đến cơ sở y tế gần nhất để khám và làm các xét nghiệm chẩn đoán để
xác định bệnh và điều trị.
9
3.1.2. Nếu những dấu hiệu trên xẩy ra thường xuyên: Nghĩ đến tắc mạch
máu não hoặc vỡ mạch máu nhỏ: Cần được bác sĩ khám ngay.
3.2. Chóng mặt - ngất xỉu: do nhiều nguyên nhân như:
- Do hệ thần kinh phó giao cảm tăng cường hoạt động quá mức làm
chậm nhịp tim, giảm huyết áp gây hậu quả giảm lượng tuần hoàn máu lên não.
Ngất xỉu thường có triệu chứng báo trước như vã mồ hôi, buồn nôn hoặc nôn,
chóng mặt, ù tai, sa sầm mặt mày Thường xẩy ra sau cơn Stress, sợ hãi, sốc,
hoặc do thở không khí thiếu oxy.
- Do hạ huyết áp tư thế: Hay gặp ở người đứng yên quá lâu, đứng dậy
đột ngột, uống thuốc hạ huyết áp, dùng các thuốc giãn mạch.
Xử trí: Khi thấy các dấu hiệu nói trên nên ngồi kẹp đầu giữa hai gối, hoặc
nằm kê chân cao, nằm nghỉ 10-15 phút sẽ đỡ. Nếu đang ở ngoài trời nắng, đưa
vào ngay chỗ mát và cho nằm nghỉ.
3.3. Chóng mặt kèm theo luôn cảm thấy có tiếng ồn trong tai hoặc
cảm thấy nghễnh ngãng, nhức đầu: Nghĩ đến hội chứng mê đạo (tai trong)
trong đó bệnh thường gập là hội chứng rối loạn tiền đình (Meniere). Mê đạo là
khoang chứa dịch thuộc tai giữa, có nhiệm vụ giữ thăng bằng cho cơ thể, vì vậy
khi bị tổn thương sẽ có triệu chứng chóng mặt.
- Nguyên nhân: Là bệnh của tai trong, thường chỉ bị một tai. Bệnh do
sũng dịch trong mê đạo (do rối loạn vận mạch, do rối loạn sản xuất và tiêu hao
dịch trong tai, do dị ứng). Hội chứng này có xu hướng tự khỏi do tai trong được
lành bệnh hay bị huỷ diệt, tuy chóng mặt có thể hết song người bệnh vẫn còn ù
tai kéo dài và nghe kém.
- Triệu chứng: Dấu hiệu chủ yếu là cơn chóng mặt xuất hiện đột ngột, có
thể nặng đến mức làm bệnh nhân ngã quỵ. Chóng mặt kèm theo buồn nôn, nôn,
có thể có rung giật nhãn cầu. Bên tai bị bệnh có cảm giác nặng, ù tai, đau trong
tai, khi mở mắt ra nhìn lên trần thấy quay cuồng. Một cơn kéo dài vài phút đến
vài giờ; giữa các cơn vẫn ù tai và nghênh ngãng.
Thường người bệnh lo lắng, sợ hãi nhiều hơn là thực thể có tổn thương.
- Điều trị : Khi gặp trường hợp này, người bệnh có thể điều trị qua 3 giai
đoạn.
- Giai đoạn 1: Điều trị triệu chứng chóng mặt từ 2-3 ngày, giảm và loại
trừ các biểu hiện khó chịu:
10
+ Nằm yên, không cử động nhất là đầu. Nằm nghiêng về phía không gây
chóng mặt, nằm nơi yên tĩnh, ít ánh sáng.
+ Dùng thuốc chống nôn: Một trong các loại thuốc: Tanganil
500mg/1viên, Nautamin 90 mg/1 viên, Primperam 10 mg/1 viên, Sec 8 mg/1
viên, Degalon v.v ngày uống 2 đến 3 lần, mỗi lần 1 viên chia đều trong ngày.
+ An thần: Diazepam (Seduxen 5 mg, Valium 5 mg/viên/ngày).
- Giai đoạn 2: Nâng đỡ cơ thể thường từ 10-15 ngày.
+ Hoạt động nhẹ nhàng.
+ Tiếp tục uống thuốc chống nôn.
- Giai đoạn 3: Luyện tập.
Mục đích của luyện tập là: làm cho tiền đình (bộ phận trong tai có chức
năng cơ bản giữ thăng bằng) chịu đựng các thay đổi tư thế, dần dần hồi phục
chức năng bình thường.
Cách làm: Ngồi trên mép giường, nhắm mắt thư giãn, nghiêng đầu về một
phía cho đến khi đầu nằm song song theo giường. Giữ tư thế 30 giây, trả đầu từ
từ lại tư thế cũ, nhằm mắt, giữ trong 30 giây, sau lại làm về phía đối diện. Lần
đầu chỉ làm 3 lần động tác trên sau đó tăng dần lên trong mỗi buổi tập. Những
ngày sau tăng dần, ngày làm 2 lần (sáng, tối) kéo dài trong 4 - 5 tuần.
- Sau khi đỡ chóng mặt nên đến bệnh viện để được bác sĩ khám, chẩn
đoán xác định bằng khám tai, mũi, họng, chụp X quang xem có bị tổn thương ở
đâu để có thể điều trị một cách cơ bản.
- Khi xuất hiện chóng mặt đột ngột, trước mắt:
* Nằm nghỉ ngay, nhắm mắt lại, hạn chế cử động đầu cũng như toàn thân.
* Dùng các thuốc chống nôn một trong các loại thuốc sau: Tanganil 500
mg/1 viên, Primperam 10 mg/1 viên, Nautamin 90 mg/1 viên, Dégalon, Sec 8
mg/1 viên, ngày uống 2 đến 3 lần mỗi lần 1 viên, chia đều trong ngày.
* UốngVitamin nhóm B.
- Viêm mê đạo còn do vi khuẩn hoặc virut gây ra, gặp khi mắc bệnh cúm,
sởi, quai bị, khi viêm tai giữa được điều trị không tốt, nhất là khi bị viêm tai
xương chũm có Cholesteatom.
+ Điều trị:
- Nếu do virut thường tự khỏi, dùng một trong các thuốc chống nôn sau
(Nautamin 90 mg, Primperam 10 mg, Tanganil 500 mg, Dégalon, Ser 8 mg
11
v.v ), có thể dùng thêm các thuốc kháng histamin (Péritol 5 mg, Clopheniramin
4 mg, Siro Phenergan).
- Nếu do vi khuẩn: Ngoài thuốc chống nôn, cần phải dùng ngay thuốc
kháng sinh.
Nếu bị lâu ngày, chụp X quang xương chũm nếu đã có Cholesteatom thì
phải can thiệp ngoại khoa mổ lấy Cholesteatom và lấy mủ.
3.4. Chóng mặt khi quay đầu ở người cao tuổi: Nghĩ đến tổn thương
đốt sống cổ.
Bệnh hư xương sụn cột sống cổ hay còn gọi là thoái hoá cột sống cổ,
thường gặp ở người trung niên và người cao tuổi.
- Triệu chứng chính: đau và cử động cổ có cảm giác cứng cổ, do áp lực đè
lên các dây thần kinh qua giữa các đốt sống cổ, người bệnh thường đau tay, đau
vai, tê, đau nhức ở bàn tay và nắm lại không chặt. Các triệu chứng trên có thể
tăng lên, song có khi chỉ cảm thấy hơi khó chịu. Khi xoay đầu bị choáng váng,
đứng không vững, nhìn đôi, nhức đầu do mạch máu lên não qua các đốt sống bị
chèn ép.
- Điều trị: Để có chẩn đoán chính xác cần được đến bệnh viện làm các xét
nghiệm. Trước mắt tạm thời điều trị:
+ Nghỉ ngơi ngay khi chóng mặt.
+ Dùng thuốc giảm đau Paracethamol, Alaxan, Viên số 2 v.v và các
thuốc giãn cơ: Coltramyl 4 mg, ngày 2 viên, Myonal 50 mg, ngày 2 viên. Tập
thể dục và vật lý trị liệu. Các thuốc giảm đau thường ảnh hưởng đến dạ dầy nên
cần thận trọng khi sử dụng thuốc.
3.5. Chóng mặt nhức đầu thường xuyên vào buổi sáng, buồn nôn và
nôn kèm theo triệu chứng thần kinh khhu trú hoặc có liệt: Nghĩ đến u não,
xuất huyết dưới màng cứng, cơn cao huyết áp v.v Cần đến bệnh viện khám
bệnh càng sớm càng tốt.
U não là sự tăng khối lượng bất thường trong não. Tất cả các khối u ở não
dù lành tính hay ác tính đều nguy hiểm, vì khối u phát triển dần sẽ làm tăng áp
suất trong não và chèn ép các vùng não kế cận.
U não có thể nguyên phát, có nguồn gốc từ các mô trong hộp sọ hoặc u di
căn (thứ phát của một bệnh ung thư ở cơ quan khác).
U nguyên phát thường không rõ nguyên nhân, khoảng 60% là u tế bào
thần kinh đệm (không ác tính), xuất phát từ nhu mô não. Các u nguyên phát
thường là u màng não, u thần kinh thính giác, u tuyến yên v.v thường lành
tính.
12
U thứ phát hay là u di căn, thường ác tính và gặp u ở nhiều cơ quan.
3.6. Chóng mặt, đau đầu, lú lẫn, choáng váng, có thể bại hoặc liệt nhẹ
một bên trên những người cao huyết áp, có tiền sử bị sang chấn vùng đầu
(ngã, bị vật rơi vào đầu v.v )v.v : Nghĩ đến tụ máu não hoặc xuất huyết dưới
màng cứng, xuất huyết ngoài màng cứng.
Đó là hiện tượng chảy máu não ở khoảng giữa màng cứng (lớp màng
cứng ngoài của vỏ não) và màng nhện (lớp màng não giữa). Máu thoát ra tạo
thành một khối máu tụ lại trong sọ.
Nguyên nhân là do máu chảy chậm hàng tuần, hàng tháng, đến khi tạo
thành cục máu tụ lớn, đủ để gây tăng áp lực sọ não và chèn ép mô não.
Xử trí: Đến ngay bác sĩ để khám bệnh và chẩn đoán. Tuỳ theo tổn thương
có thể: Tiếp tục theo dõi tại bệnh viện. Nếu cần có thể phải mổ như: Khoan sọ
dẫn lưu máu tụ, khâu mạch máu bị rách
IV- BAN SẨN NGỨA:
4.1. Ban sẩn ngứa ở người có tuổi: Sẩn ngứa ở người có tuổi rất đa
dạng. Ngứa có khi chỉ đơn thuần không có những tổn thương và triệu chứng
khác kèm theo, có khi lại do một bệnh của toàn thân.
Da của người có tuổi thường khô do tuyến bã, tuyến mồ hôi giảm bài tiết,
các sợi tạo keo và sợi chun đã bắt đầu thoái hoá làm cho da mỏng, nhăn nheo,
khô ráp. Sức đề kháng của da giảm do chức năng thải độc kém, trong khi đó
gan, thận nếu bị suy sẽ không lọc được các chất độc. Khi đó các chất độc vào
máu và ra ngoài da gây ngứa. Do đó khi bị sẩn ngứa cần đi khám bệnh để tìm
nguyên nhân điều trị cho kết quả.
- Triệu chứng lâm sàng: Một số đám da xẫm mầu, nền hơi cộm, có khi có
những vết xước do ngứa gãi gây nên. Có khi lại là những nốt sần bằng hạt kê,
hạt đậu nhỏ tập trung thành mảng, da dày cộm và hằn cổ trâu. Ngứa thường kéo
dài hàng tháng, hàng năm. Ngứa nhiều về đêm làm cho người bệnh cảm thấy
mệt mỏi. Ngứa có thể khu trú một vùng, cũng có thể toàn thân nhất là hay gập ở
vùng da mỏng.
- Điều trị: Để điều trị khỏi phải tìm nguyên nhân, nên đến cơ sở y tế để
kiểm tra gan, thận, bệnh đái đường, nhiễm ký sinh trùng v.v ). Trước mắt tạm
xử trí:
+ Tránh chà sát, tránh gãi.
13
+ Chống táo bón: Ăn rau các loại, hoa quả, chuối, khoai v.v và không ăn
những chất kích thích (ớt, tiêu, gừng, rượu, bia, cà phê và thuốc lá ).
+ Tắm rửa: hạn chế dùng nước nóng (chỉ dùng nước ấm) vì nước nóng
làm khô da và sà phòng loại có nhiều chất sút. Tắm bằng nước các lá cây (hương
nhu, dầu sả, bưởi v.v ).
+ Khi da nứt khô, ngứa: Dùng thuốc mỡ chống nẻ (Vaselin v.v ) mỡ
Acid salicylic 1-2% ngày bôi 1 - 2 lần.
+ Các thuốc Vitamin C - A - B.
+ Chống ngứa: các thuốc chống dị ứng như Clopheniramin 4mg/v, Péritol
5mg/v.
Đơn thuốc Đông y: “Thanh lương giải độc”: Kim ngân hoa - 10g, Ké đầu
ngựa - 10g, Sài đất - 5g, Bồ công anh - 15 g, Sắc 3 bát lấy 1 bát uống.
4. 2- Ban sẩn ngứa đối xứng và hay ở những nơi như khuỷu tay, đầu
gối, gáy, hai bên cổ, mu bàn tay v.v thường nghĩ tới viêm da thần kinh:
- Nguyên nhân của viêm da thần kinh rất phức tạp. Bệnh có liên quan
nhiều đến rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn về chuyển hoá và liên quan đến
các bệnh đường tiêu hoá như bệnh dạ dầy tá tràng, giun sán, nhiễm độc.
Có hai loại viêm da thần kinh: Viêm da thần kinh khu trú, viêm da thần
kinh lan toả.
- Triệu chứng của viêm da thần kinh: Ngứa là dấu hiệu đặc biệt của viêm
da thần kinh. Do gãi làm cho thâm nhiễm, cộm, xám màu, trên mặt tổn thương
có nhiều sẩn dẹt. Đám thâm nhiễm thành hình tròn hay bầu dục, ranh giới rõ rệt.
Vùng trung tâm dày cộm, xẫm màu, nhiều sẩn dẹt bóng. Vùng giữa có nhiều sẩn
nhỏ đứng sát nhau, da xẫm màu và cộm. Vùng ngoài da nhạt hơn, độ cộm ít hơn.
Thường đối xứng, tiến triển mãn tính. Tiến triển của viêm da thần kinh thường
dai dẳng, có khi gắn với người bệnh suốt cả cuộc đời.
- Điều trị: Vì là bệnh khó điều trị nên đến cơ sở y tế để khám, nếu tìm
được nguyên nhân sẽ điều trị hiệu quả tốt nhất.
+ Trước tiên cần điều trị toàn diện: tránh lo âu, không thức khuya, thể dục
hàng ngày. Hạn chế tắm nước nóng và xà phòng, tránh kỳ cọ chà sát.
+ Ăn nhiều rau và quả tươi, không dùng các chất dễ bị kích thích như
rượu, bia, thuốc lá, cà phê, ớt, hạt tiêu. Uống chè nhân trần, khổ qua, thanh
lương.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét