LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hệ thống các chính sách và biện pháp hỗ trợ để thực hiện định hướng phát triển xuất nhập khẩu 2001-2010": http://123doc.vn/document/1054177-he-thong-cac-chinh-sach-va-bien-phap-ho-tro-de-thuc-hien-dinh-huong-phat-trien-xuat-nhap-khau-2001-2010.htm
Định hớng phát triển xuất - nhập khẩu
thời kỳ 2001-2010
I. Tình hình trong nớc, thế giới và những thuận lợi, khó
khăn đặt ra cho hoạt động xuất nhập khẩu
Bớc vào thời kỳ 2001-2010, thế và lực của Việt Nam đã khác hẳn so với
10 năm trớc đây. Đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng
và năng lực sản xuất đợc cải thiện đáng kể, thị trờng đợc mở rộng. Tuy nhiên,
trình độ phát triển kinh tế của nớc ta còn thấp, GDP bình quân đầu ngời năm
2000 mới đạt gần 400 USD. Cơ cấu kinh tế và trình độ công nghệ nhìn chung
còn lạc hậu. Khả năng cạnh tranh còn thấp ở cả cấp độ quốc gia, doanh nghiệp
lẫn sản phẩm.
Trên bình diện quốc tế, khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ và
đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, đa thế giới vào thời kỳ phát triển
mới: thời kỳ kinh tế tri thức và xã hội thông tin. Các ngành dịch vụ và các
ngành kinh tế giàu hàm lợng chất xám phát triển mạnh. Khái niệm thơng mại
đợc mở rộng, bao gồm cả các sản phẩm hữu hình của nền sản xuất truyền
thống lẫn các sản phẩm "mềm" của nền sản xuất dựa vào tri thức. Mức độ phổ
cập của mạng Internet khiến tỷ trọng của thơng mại điện tử tăng nhanh, qua
đó thay đổi hẳn phơng thức kinh doanh. Theo số liệu của UNCTAD thì nếu
trong năm 1995, giá trị thơng mại điện tử mới đạt 100 triệu USD thì đến năm
1999 đã là 180 tỷ USD và năm 2002 dự kiến sẽ lên tới khoảng 1. 234 tỷ USD.
Xu hớng toàn cầu hóa, khu vực hóa sẽ tiếp tục diễn biến với các mặt tích
cực và tiêu cực của nó. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng vừa qua cho thấy kinh tế
thế giới và khu vực còn ẩn chứa nhiều nhân tố bất trắc. Không loại trừ khả
năng sẽ còn xảy ra các cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính mới.
Trong nền kinh tế thế giới, các nớc công nghiệp phát triển vẫn giữ vị trí
áp đảo. Mỹ sẽ tiếp tục là siêu cờng hàng đầu, vừa cạnh tranh gay gắt, vừa tìm
cách dung hòa lợi ích với Tây Âu, Nhật, Nga, Trung Quốc, và ở một chừng
mực nào đó là ấn Độ, sẽ chiếm vị trí ngày càng lớn trong nền kinh tế và thơng
mại thế giới. Khu vực châu á - Thái Bình Dơng đang hồi phục nhanh chóng
sau khủng hoảng, sẽ tiếp tục là một thị trờng tiêu thụ rộng lớn và cùng châu
Âu hình thành không gian kinh tế á - Âu (Eurasia).
Nhìn chung lại, vào thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, hoạt động xuất nhập
khẩu của Việt Nam có những thuận lợi và khó khăn chủ yếu sau:
1. Về thuận lợi:
Nh trên đã nói, "thế" và "lực" của nớc ta đã khác trớc. Các nguồn lực nh
lao động, đất đai, tài nguyên còn khá dồi dào. Cơ sở hạ tầng đợc cải thiện
hơn đã tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và đẩy mạnh xuất khẩu. Với
thế giới, ta đã có quan hệ kinh tế - thơng mại với nhiều nớc và nhiều tổ chức
kinh tế, tài chính quốc tế. Hàng hóa Việt Nam đã có mặt tại tất cả các nớc lớn
và các trung tâm kinh tế lớn. Quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới sẽ tạo
cơ hội cho Việt Nam mở rộng thị trờng để phát triển kinh tế và tăng cờng quan
hệ thơng mại.
- 5 -
2. Về khó khăn, thách thức:
Chúng ta vẫn đang gặp phải những thách thức lớn, trực tiếp cản trở quá
trình hội nhập:
- Nớc ta vẫn là một nớc nghèo và kém phát triển. Dự kiến 10 năm tới,
GDP chỉ có thể tăng lên gấp đôi mức hiện nay. Cơ cấu sản xuất sẽ tiếp tục
chuyển dịch theo hớng tiến bộ hơn song nhìn chung còn lạc hậu so với chiều
hớng phát triển của thế giới.
- Năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm còn thấp
trong khi nớc ta lại phải nhập cuộc đua tranh ngày càng gay gắt trên thị trờng
khu vực và thế giới, đặc biệt là khi chúng ta phải thực hiện các cam kết mở
cửa thị trờng của AFTA. Trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác xuất nhập
khẩu và công tác tham mu về chiến lợc, chính sách còn bất cập.
- Kinh tế thế giới và khu vực còn chứa đựng nhiều nhân tố không ổn
định, khó dự báo, có thể tác động tiêu cực tới nền kinh tế và hoạt động kinh
doanh xuất - nhập khẩu của nớc ta.
Nhìn toàn cục, nớc ta đang có nhiều thuận lợi hơn so với khi bớc vào thập
kỷ 90. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể xem thờng các thách thức, khó
khăn trên, mà phải từng bớc khắc phục để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất
nhập khẩu trong tơng lai.
II. Mục tiêu và quan điểm phát triển xuất - nhập khẩu
Hoạt động xuất - nhập khẩu trong 10 năm tới cần phục vụ trực tiếp cho
mục tiêu chung đã đợc thông qua tại Đại hội lần thứ IX của Đảng với nội dung
cơ bản là: nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh
công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc, tạo công ăn việc làm, thu
ngoại tệ, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hớng nâng cao giá trị gia tăng, gia
tăng tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có
hàm lợng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ, về nhập
khẩu u tiên nhập khẩu các trang thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất,
nhất là công nghệ tiên tiến, bảo đảm cán cân thơng mại ở mức hợp lý, tiến tới
cân bằng kim ngạch xuất - nhập khẩu, mở rộng và đa dạng hóa thị trờng và
phơng thức kinh doanh, hội nhập hơn nữa vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Để hoàn chỉnh và triển khai Chiến lợc phát triển xuất - nhập khẩu hàng
hóa và dịch vụ thời kỳ 2001-2010 và đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian tới,
Thủ tớng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ơng và các doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh xuất,
nhập khẩu quán triệt những nội dung cơ bản và xúc tiến thực hiện những công
việc dới đây:
1. Chiến lợc phát triển xuất - nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 2001
- 2010, nhất là xuất khẩu, phải là Chiến lợc tăng tốc toàn diện trên nhiều lĩnh
vực, phải có những khâu đột phá với bớc đi vững chắc. Mục tiêu hành động
của thời kỳ này là tiếp tục chủ trơng dành u tiên cao nhất cho xuất khẩu; tạo
nguồn hàng có chất lợng, có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao để xuất
khẩu; góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc; nhanh chóng rút ngắn
khoảng cách phát triển kinh tế giữa nớc ta và các nớc trong khu vực.
2. Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001 - 2010 phải đạt mức tăng
trởng bình quân từ 15%/năm trở lên và phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
- 6 -
a) Cơ cấu xuất khẩu phải đợc chuyển dịch mạnh theo hớng gia tăng các
sản phẩm chế biến, chế tạo, chú trọng các sản phẩm có hàm lợng công nghệ
và chất xám cao; bên cạnh đó, phải quan tâm khai thác các mặt hàng chủ yếu
sử dụng nguyên, vật liệu tại chỗ, sử dụng nhiều lao động mà thị trờng trong,
cũng nh ngoài nớc có nhu cầu; đồng thời, phải khai thác mọi nguồn hàng có
khả năng xuất khẩu; phấn đấu cân bằng cán cân thơng mại vào những năm
2009-2010 và xuất siêu vào thời kỳ sau năm 2010.
b) Chú trọng nâng cao giá trị gia công và chất lợng từng sản phẩm xuất
khẩu; giảm xuất khẩu hàng chế biến thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến sâu bằng
công nghệ mới; giảm gia công, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu sử dụng
nguyên, vật liệu chất lợng cao trong nớc với công nghệ mới; cải thiện hệ thống
hạ tầng cơ sở nuôi, trồng, sử dụng các loại giống cây, con có sản lợng, chất l-
ợng cao và công nghệ chế biến thích hợp đi đôi với các biện pháp bảo vệ môi
trờng; phải có quy hoạch vùng nguyên liệu cho từng nhóm sản phẩm; quy
trình quản lý sản xuất phải đợc tổ chức lại một cách khoa học và tiết kiệm
nhất; từng bớc xây dựng tiêu chuẩn chất lợng quốc gia cho các loại hàng hóa
xuất khấu với nhãn hiệu "sản xuất tại Việt Nam".
c) Sản phẩm xuất khẩu phải đáp ứng đợc những yêu cầu đa dạng của thị
trờng thế giới, đặc biệt là yêu cầu về chất lợng, mẫu mã hàng hoá. Mỗi loại
hàng hóa phải hình thành đợc các thị trờng chính, chủ lực và tập trung khả
năng mở rộng các thị trờng này, đồng thời chủ động mở rộng sang các thị tr-
ờng khác theo hớng đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ buôn bán; phải có đối
sách cụ thể với từng thị trờng và từng bớc giảm dần việc xuất khẩu qua các thị
trờng trung gian. Định hớng chung là tận dụng mọi khả năng để duy trì tỷ
trọng xuất khẩu hợp lý vào các thị trờng đã có ở Châu á, đặc biệt là thị trờng
Nhật, đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu trực tiếp vào các thị trờng có sức mua lớn
nh Mỹ, Tây Âu, thâm nhập, tăng dần tỷ trọng xuất khẩu vào các thị trờng
Đông Âu, Nga, SNG và khu vực châu Mỹ, châu Phi.
Công tác thị trờng, xúc tiến thơng mại có ý nghĩa rất quan trọng, phải đ-
ợc triển khai mạnh mẽ nhằm tạo môi trờng quốc tế thuận lợi cho xuất khẩu.
Các chơng trình xúc tiến thơng mại, mở rộng thị trờng cần đợc cụ thể hóa và
gắn với hoạt động đối ngoại, tranh thủ ngoại giao hỗ trợ việc ký kết các Hiệp
định khung, các thoả thuận và các Hợp đồng dài hạn có giá trị lớn với các
quốc gia, các Tổ chức quốc tế, các thị trờng lớn để tạo đầu ra ổn định và từ đó
có cơ sở cho đầu t đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị nội địa hóa, giá trị gia
tăng hàng xuất khẩu.
Theo chức năng của mình, các Bộ, ngành, các cơ quan đại diện của Việt
Nam ở nớc ngoài phải đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, tăng cờng hợp tác quốc
tế để mở rộng thị trờng xuất khẩu. Các Hiệp hội ngành hàng phải có vai trò
tích cực trong việc phối hợp nỗ lực của các doanh nghiệp và hỗ trợ các doanh
nghiệp tăng cờng công tác tìm kiếm thị trờng, khách hàng; xây dựng và thỏa
thuận các chơng trình hành động nhằm bảo vệ, nâng cao uy tín cũng nh quyền
lợi chung của Hiệp hội, của mỗi thành viên và của quốc gia trong cạnh tranh
trên thị trờng quốc tế.
3. Nhập khẩu phải đợc định hớng chặt chẽ; tăng trởng bình quân nhập
khẩu cả thời kỳ 2001 - 2010 đợc duy trì ở mức 14%/năm; chú trọng nhập khẩu
công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu của các ngành chế biến nông, lâm, thuỷ hải
sản và sản xuất hàng công nghiệp nhẹ; đồng thời, phải gắn với việc phát triển,
sử dụng các công nghệ, giống cây con và vật liệu mới đợc sản xuất trong nớc.
Hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm trong nớc đã sản xuất đợc và sản
xuất có chất lợng, đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế; tăng cờng tiếp cận các thị
- 7 -
trờng cung ứng công nghệ nguồn và có khả năng đầu t hiệu quả nh Tây Âu,
Mỹ, Nhật Bản.
Các chính sách, cơ chế điều hành nhập khẩu trong giai đoạn này phải đợc
xem xét phù hợp với tiến trình thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế của
Chính phủ ta với các Tổ chức quốc tế, khu vực và các cam kết đa phơng, song
phơng khác.
4. Hiện nay, vai trò và khả năng của các ngành dịch vụ xuất khẩu, dịch
vụ thu ngoại tệ cha đợc đánh giá đầy đủ; phải coi đây là tiềm năng xuất khẩu
cần đợc đẩy mạnh trong giai đoạn 2001 - 2010, trong đó chú trọng các lĩnh
vực du lịch, xuất khẩu lao động, bu chính - viễn thông, dịch vụ tài chính -
ngân hàng - bảo hiểm, dịch vụ vận chuyển hàng hoá đờng không, đờng biển,
đờng sắt ; hớng phát triển của các lĩnh vực này cần đợc thể hiện thành các
chơng trình cụ thể, trong đó cần quan tâm đầu t để phát triển du lịch và đa du
lịch nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Để đạt các mục tiêu trên, chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam trong
thời gian tới cần tập trung vào các hớng:
Thứ nhất, dành u tiên cao cho hoạt động xuất khẩu để thúc đẩy tăng tr-
ởng GDP, phát triển sản xuất, thu hút lao động, có thêm ngoại tệ.
Thứ hai, chủ động hội nhập hơn nữa vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Việt Nam cần xây dựng kế hoạch tổng thể và lộ trình cũng nh các bớc đi hợp
lý, phù hợp với trình độ phát triển của đất nớc và quy định của các tổ chức mà
ta tham gia.
Thứ ba, tập trung vào việc phát huy nội lực, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp, nâng
cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng nh của toàn bộ nền
kinh tế.
Thứ t, gắn kết thị trờng trong nớc với thị trờng ngoài nớc.
Thứ năm, đa dạng hóa các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất
nhập khẩu, trong đó kinh tế Nhà nớc vẫn giữ vai trò chủ đạo.
III. Các chỉ tiêu cụ thể
1. Về quy mô và tốc độ tăng trởng
1.1. Về xuất khẩu
a) Xuất khẩu hàng hóa:
Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 15%/năm, trong
đó thời kỳ 2001-2005 tăng 16%/năm, thời kỳ 2006-2010 tăng 14%/năm.
- Giá trị tăng từ khoảng 13, 5 tỷ USD năm 2000 lên 28, 4 tỷ USD vào
năm 2005 và 54, 6 tỷ USD vào năm 2010, gấp hơn 4 lần 2000.
b) Xuất khẩu dịch vụ:
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 15%/năm.
- Giá trị tăng từ khoảng 2 tỷ USD năm 2000 lên 4 tỷ USD vào năm 2005
và 8, 1 tỷ USD vào năm 2010, tức là gấp hơn 4 lần.
c) Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng từ khoảng 15, 5
tỷ USD vào năm 2000 lên 32, 4 tỷ USD vào năm 2005 và 62, 7 tỷ USD vào
năm 2010.
- 8 -
1.2. Về nhập khẩu
a) Nhập khẩu hàng hóa:
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 14%/năm,
trong đó thời kỳ 2001-2005 là 15% và thời kỳ 2006-2010 là 13%.
- Giá trị kim ngạch tăng từ khoảng 14, 5 tỷ USD năm 2000 lên 29, 2 tỷ
USD năm 2005 (cả thời kỳ 2001-2005 nhập khẩu 112 tỷ USD) và 53, 7 tỷ
USD vào năm 2010.
b) Nhập khẩu dịch vụ:
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 11%/năm.
- Giá trị tăng từ khoảng 1, 2 tỷ USD năm 2000 lên 2, 02 tỷ USD năm
2005 và 3, 4 tỷ USD năm 2010.
c) Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ khoảng 15, 7
tỷ USD năm 2000 lên 31, 2 tỷ USD năm 2005 và 57, 14 tỷ USD năm 2010.
Nh vậy, trong 5 năm đầu (2001-2005), nhập siêu về hàng hóa giảm dần,
mỗi năm bình quân 900 triệu USD và cả thời kỳ là 4, 73 tỷ USD, 5 năm sau
(2006-2010) nhập siêu tiếp tục giảm. Đến năm 2008, chúng ta sẽ cân bằng cán
cân xuất nhập khẩu hàng hóa và phấn đấu xuất siêu khoảng 1 tỷ USD vào năm
2010. Nếu tính cả xuất khẩu dịch vụ thì tới năm 2002, chúng ta sẽ cân bằng
xuất nhập khẩu và bắt đầu xuất siêu, với mức xuất siêu dự kiến năm 2010 đạt
khoảng 5, 5 tỷ USD.
2. Về cơ cấu hàng hóa xuất - nhập khẩu và cơ cấu dịch vụ
2.1. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa trong 10 năm tới cần đợc chuyển dịch theo h-
ớng chủ yếu sau:
- Trớc mắt, huy động mọi nguồn lực hiện có để đẩy mạnh xuất khẩu, tạo
công ăn việc làm, thu ngoại tệ.
- Cần chủ động gia tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến và chế tạo với giá
trị gia tăng ngày càng cao, chú trọng các sản phẩm có hàm lợng công nghệ và
trí thức cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô.
- Mặt hàng, chất lợng, mẫu mã cần đáp ứng nhu cầu của từng thị trờng.
- Chú trọng việc gia tăng các hoạt động dịch vụ.
Theo các hớng nói trên, chính sách các nhóm hàng có thể hình dung nh
sau:
2.1.1. Nhóm nguyên nhiên liệu
Hiện nay nhóm này, với hai mặt hàng chính là dầu thô và than đá, đang
chiếm khoảng trên 20% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Sau khi nhà máy
lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động, lợng dầu thô xuất khẩu sẽ giảm dần. Dự
kiến vào năm 2005, lợng dầu thô xuất khẩu của Việt Nam chỉ còn khoảng gần
12 triệu tấn, so với hiện nay là 16 triệu tấn. Tới năm 2010 có hai phơng án, tùy
thuộc vào lợng khai thác:
- Nếu khai thác 14 - 16 triệu tấn thì sẽ sử dụng trong nớc khoảng 12 triệu
tấn, xuất khẩu 2 - 4 triệu tấn.
- Nếu khai thác 20 triệu tấn thì có khả năng xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn.
- 9 -
Dù theo phơng án nào thì kim ngạch dầu thô cũng sẽ giảm đáng kể vào
năm 2010 (theo phơng án 1 thì tỷ trọng dầu thô trong giá trị xuất khẩu dự kiến
sẽ chỉ còn dới 1% so với 22% hiện nay; theo phơng án 2 thì tỷ lệ đó sẽ còn
khoảng 3%). Thị trờng xuất khẩu chính vẫn là Australia, Singgapore, Nhật
Bản và Trung Quốc, có thể thêm Hoa Kỳ.
Việc giảm xuất khẩu dầu thô sẽ đi đôi với việc giảm nhập khẩu sản phẩm
xăng dầu từ nớc ngoài. Dự kiến đến năm 2010, sản xuất trong nớc sẽ đáp ứng
đợc gần 80% nhu cầu về sản phẩm dầu và khí, tức là khoảng 13 triệu tấn sản
phẩm/năm, trị giá trên 3 tỷ USD. Nhập khẩu xăng dầu vào năm 2010 chỉ còn
khoảng 4 triệu tấn, giảm 50% so với 8 triệu tấn hiện nay.
Về than đá, dự kiến nhu cầu nội địa sẽ tăng đáng kể do xây các nhà máy
nhiệt điện mới nên dù sản lợng có thể lên tới 15 triệu tấn/năm (hiện nay là 10-
12 triệu tấn/năm), xuất khẩu cũng sẽ chỉ dao động ở mức 4 triệu tấn/năm trong
10 năm tới, mang lại kim ngạch mỗi năm khoảng 120-150 triệu USD. Nhiệm
vụ chủ yếu trong những năm tới là cố gắng duy trì những thị trờng đã có nh
Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Âu và tăng cờng thâm nhập vào các thị trờng
Thái Lan, Hàn Quốc
Khả năng tăng xuất khẩu các loại khoáng sản khác để bù vào thiếu hụt
của dầu thô là rất hạn chế. Cho đến năm 2010, quặng Apatit khai thác ra chỉ
có thể đáp ứng một phần cho nhu cầu sản xuất phân bón, cha có khả năng
tham gia xuất khẩu. Quặng sắt khó có khả năng xuất khẩu với số lợng lớn bởi
nhu cầu trong nớc sẽ tăng mạnh. Đất hiếm có trữ lợng thơng mại không nhiều,
việc xuất khẩu lại rất khó khăn do công nghệ chế biến phức tạp, cung cầu thế
giới đã ổn định. Các loại quặng khác trữ lợng đều không đáng kể.
Nh vậy, tới năm 2005, nhóm nguyên nhiên liệu có khả năng chỉ còn đóng
góp đợc khoảng 9% kim ngạch xuất khẩu (2, 5 tỷ USD) so với trên 20% hiện
nay. Đến năm 2010, tỷ trọng của nhóm này sẽ giảm xuống còn cha đầy 1% (d-
ới 500 triệu USD) hoặc 3, 5% (khoảng 1, 75 tỷ USD), tùy theo phơng án khai
thác dầu thô. Vì vậy, việc tìm ra các mặt hàng mới để thay thế là một thách
thức lớn đối với việc gia tăng xuất khẩu.
2.1.2. Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản
Hiện nay nhóm này đang chiếm gần 25% kim ngạch xuất khẩu với
những mặt hàng chủ yếu là gạo, cà phê, cao su, chè, rau quả, thủy sản, hạt tiêu
và nhân điều. Do sản xuất nông nghiệp phải chịu những hạn chế mang tính cơ
cấu (nh diện tích có hạn, khả năng khai thác và đánh bắt có hạn ) và thời tiết
nên theo dự thảo Chiến lợc chung, tốc độ tăng trởng của nhóm này sẽ chỉ ở
mức 4%/năm trong toàn kỳ 2001-2010. Bên cạnh đó, nhu cầu của thị trờng thế
giới cũng có hạn, giá cả lại không ổn định. Vì vậy, dù kim ngạch tuyệt đối vẫn
tăng nhng tỷ trọng của nhóm sẽ giảm dần xuống còn 22% tơng đơng 5, 85 tỷ
USD vào năm 2005 và 17, 2% tơng đơng 8-8, 6 tỷ USD vào năm 2010.
Hớng phát triển chủ đạo của nhóm hàng này trong 10 năm tới là chuyển
dịch cơ cấu toàn lĩnh vực, trong mỗi ngành, thậm chí trong từng loại sản
phẩm, nâng cao năng suất, chất lợng và giá trị gia tăng. Để đạt mục tiêu này,
cần có sự đầu t thích đáng vào khâu giống và công nghệ sau thu hoạch, kể cả
đóng gói, bảo quản, vận chuyển để tạo ra những đột phá về năng suất và
chất lợng sản phẩm.
Hạt nhân tăng trởng của nhóm sẽ là thủy sản bởi tiềm năng khai thác và
nuôi trồng còn nhiều, nhu cầu thị trờng thế giới tăng khá ổn định, thuế suất
thấp. Năm 1985, xuất khẩu thủy sản thế giới mới đạt 17, 2 tỷ USD, tới năm
1995 đã đạt 52 tỷ USD, tức là tăng bình quân mỗi năm trên 13%. Với sản lợng
- 10 -
dự kiến đạt 3, 7 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ đạt
2, 5 tỷ USD vào năm 2005 và 3, 2-3, 5 tỷ USD vào năm 2010, chiếm 40%
tổng kim ngạch của nhóm nông lâm hải sản. Thị trờng chính sẽ là Nhật Bản,
EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc Để bảo đảm tốc độ tăng trởng ổn định cho mặt
hàng này, chúng ta cần tiếp tục chú trọng đầu t để phát triển đánh bắt xa bờ và
nuôi trồng, chuyển từ quảng canh sang thâm canh, phát triển những mặt hàng
có kim ngạch cao nh tôm, nhuyễn thể. Công nghệ sau thu hoạch cũng cần có
sự quan tâm thỏa đáng để nâng cao chất lợng, giá trị gia tăng và vệ sinh thực
phẩm của sản phẩm xuất khẩu.
Về gạo, do nhu cầu thế giới tơng đối ổn định, khoảng trên 20 triệu
tấn/năm, nhiều nớc nhập khẩu nay chú trọng đến an ninh lơng thực, thâm canh
tăng năng suất cây trồng, gia tăng bảo hộ, giảm nhập khẩu, nên trong suốt thời
kỳ 2001-2010 nhiều lắm Việt Nam sẽ chỉ có thể xuất khẩu đợc khoảng 4 - 4, 5
triệu tấn/năm, thu về mỗi năm khoảng trên 1 tỷ USD. Để nâng cao hơn nữa
kim ngạch, chúng ta cần đầu t để cải thiện cơ cấu và chất lợng gạo xuất khẩu,
khai thác các thị trờng mới (nh Trung Đông, Châu Phi, Nam Mỹ) và ổn định
các thị trờng đã có nh Indonesia, Philippines , nghiên cứu khả năng phối hợp
với Thái Lan để điều tiết nguồn cung, ổn định giá cả thị trờng, tăng hiệu quả
xuất khẩu gạo.
Về nhân điều, xuất khẩu có thể tăng kim ngạch từ 115 triệu USD năm
2000 lên tới khoảng 400 triệu USD hay cao hơn vào năm 2010 vì nhu cầu còn
lớn, liên tục tăng, và tiềm năng của nớc ta còn lớn. Một số dự báo cho thấy
nhu cầu sẽ tăng bình quân 7%/năm trong 10 năm tới và sẽ đạt mức 160-200.
000 tấn, giá xuất khẩu cũng tăng, từ 3. 799 USD/tấn năm 1994 lên 5. 984
USD/tấn. Thị trờng chủ yếu là Mỹ, EU, Australia, Trung Quốc.
Hạt tiêu xuất khẩu trên thế giới khoảng 200. 000 tấn/năm, giá cả dao
động lớn. Ta có khả năng mở rộng sản xuất, gia tăng sản lợng, từ đó có khả
năng tăng lên thành 230-250 triệu USD so với 160 triệu USD hiện nay. Thị tr-
ờng chủ yếu là Châu Âu, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Trung Đông.
Về các loại rau, hoa và quả khác, Thủ tớng Chính phủ đã có Quyết định
số 182/1999/QĐ-TTg ngày 03/9/1999 phê duyệt đề án phát triển đến năm
2010, theo đó kim ngạch xuất khẩu rau, hoa và quả sẽ đợc đa lên khoảng 1, 2
tỷ USD với thị trờng là Nhật, Nga, Trung Quốc, Châu Âu. Nếu có quy hoạch
các vùng chuyên canh và đầu t thỏa đáng vào các khâu nh giống, kỹ thuật
trồng và chăm sóc, công nghệ sau thu hoạch thì thậm chí có thể thực hiện v-
ợt mục tiêu trên, đạt kim ngạch 1, 6 tỷ USD.
Về cà phê, do sản lợng và giá cả phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết
nên rất khó dự báo chuẩn xác về khối lợng và giá trị xuất khẩu trong những
năm tới. Nếu thuận lợi, xuất khẩu có thể đạt 750 ngàn tấn vào năm 2010 với
kim ngạch khoảng 850 triệu USD, đa Việt Nam vợt qua Colombia để trở thành
nớc xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới. Để đạt giá trị cao, nên chú
trọng phát triển cà phê chè (Arabica), tự tổ chức hoặc thu hút đầu t nớc ngoài
vào lĩnh vực chế biến cà phê rang xay và cà phê hòa tan. Thị trờng xuất khẩu
chính vẫn là EU, Hoa Kỳ, Singapore và Nhật Bản. Nói chung, xuất khẩu cà
phê sẽ không gặp khó khăn lớn về thị trờng nhng về giá cả sẽ khó ổn định.
Với hai mặt hàng quan trọng còn lại là cao su và chè, Chính phủ đều đã
có đề án phát triển. Tuy nhiên, cần tính lại vấn đề phát triển cao su vì nhu cầu
của thế giới tăng chậm, chỉ trên 2%/năm (năm 2000, nhu cầu thế giới là
khoảng 7 triệu tấn), giá cả có xu hớng xuống thấp. Dự kiến kim ngạch xuất
khẩu cao su có thể đạt 500 triệu USD vào năm 2010. Nhu cầu chè trên thế giới
tiếp tục tăng, hiện nay đạt mức 1, 3 triệu tấn/năm. Ta có tiềm năng phát triển,
có thể đa kim ngạch chè lên mức 200 triệu USD, tức là gấp 4 lần hiện nay,
- 11 -
trong đó cần nỗ lực tăng tỷ trọng chè chất lợng cao cho các thị trờng khó tính
nh Nhật Bản, Đài Loan, Trung Đông đi đôi với việc tăng cờng hợp tác đóng
gói tại Nga để đẩy mạnh tiêu thụ trên thị trờng này.
Về thịt, hiện nay sản lợng của nớc ta còn rất nhỏ bé (chỉ bằng 0, 7% của
thế giới), chất lợng còn xa so với nhu cầu trên thị trờng thế giới. Muốn gia
tăng xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi thì khâu then chốt là đầu t vào khâu nâng
cao chất lợng vật nuôi phù hợp với yêu cầu của thị trờng thế giới, cải thiện
mạnh mẽ công nghệ chế biến, vệ sinh thực phẩm, phơng tiện vận chuyển, đổi
mới phơng thức chăn nuôi từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn, hiện đại. Thị tr-
ờng định hớng trớc mắt là Hồng Kông, Nga, về lâu dài là Singapore và Nhật
Bản.
Ngoài ra, một loạt sản phẩm còn có thể phát triển để hoặc thay thế nhập
khẩu hoặc góp phần xuất khẩu nh cây họ đậu, cây có dầu, tơ tằm, bông
Đối với toàn bộ nhóm nông thủy sản cần rất chú trọng khâu cải tạo giống
cây trồng vật nuôi, chế biến, bảo quản, vệ sinh thực phẩm, chuyên chở, đóng
gói, phân phối để có thể đa thẳng tới khâu tiêu dùng, từ đó nâng cao giá trị gia
tăng.
Nhìn chung lại, kim ngạch của nhóm nguyên nhiên liệu và nông lâm hải
sản tổng cộng sẽ đạt từ 10 đến 10, 35 tỷ USD vào năm 2010, chiếm khoảng
20-21% kim ngạch xuất khẩu so với trên 40% hiện nay theo hớng gia tăng
chất lợng và giá trị gia tăng. Phần còn lại phải là các mặt hàng chế biến và chế
tạo. Đây là bài toán chủ yếu cho hoạt động xuất nhập khẩu trong thời gian 10
năm tới.
2.1.3. Sản phẩm chế biến và chế tạo
Hiện nay kim ngạch của nhóm này đã đạt trên 4 tỷ USD, tức là trên 30%
kim ngạch xuất khẩu. Mục tiêu phấn đấu vào năm 2010 là 20-21 tỷ USD, tăng
hơn 5 lần so với hiện nay và chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu.
Hạt nhân của nhóm, cho tới năm 2010, vẫn sẽ là hai mặt hàng dệt may và
giầy dép, là những lĩnh vực có thể thu hút nhiều lao động. Kim ngạch của mỗi
mặt hàng phải đạt khoảng 7-7, 5 tỷ USD. Nh vậy, dệt may sẽ phải tăng bình
quân 14%/năm, giày dép tăng bình quân 15-16%/năm. Với Hiệp định Thơng
mại Việt Nam - Hoa Kỳ vừa ký kết thì mục tiêu tăng trởng trên là khả thi. H-
ớng phát triển cơ bản của hai ngành dệt may và giày dép trong 10 năm tới là
gia tăng nỗ lực thâm nhập các thị trờng mới, đặc biệt là thị trờng Mỹ, Trung
Đông và châu Đại Dơng, ổn định và tăng thị phần trên các thị trờng quen
thuộc nh EU, Nhật Bản, đặc biệt là Nhật Bản bởi đây là thị trờng phi quota,
chuyển dần từ hình thức gia công là chính sang nội địa hóa trên cơ sở tăng c-
ờng đầu t sản xuất nguyên phụ liệu đầu vào, tạo nhãn hiệu có uy tín, chuyển
mạnh sang bán FOB, thu hút mạnh đầu t nớc ngoài, nhất là đầu t từ EU, Mỹ,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan để tăng cờng năng lực thâm nhập trở lại các
thị trờng này và đi vào các thị trờng khác. Chính sách thơng mại của Nhà nớc,
mà cụ thể là chính sách thuế, chính sách thị trờng, cần hỗ trợ đắc lực cho tiến
trình này.
Do mục tiêu kim ngạch của toàn nhóm chế biến, chế tạo vào năm 2010 là
trên 20 tỷ USD nên ngoài dệt may và giày dép cần nỗ lực tiếp cận thị trờng
quốc tế, dự báo nhu cầu của ngời tiêu dùng để từ đó cố gắng tạo ra những
ngành hàng mới.
Trớc mắt, chủ yếu dựa trên cơ cấu đầu t và thực tiễn xuất khẩu trong
những năm qua cũng nh thị trờng quốc tế, có thể dự báo những mặt hàng nh:
- 12 -
* Thủ công mỹ nghệ: Kim ngạch hiện nay đã đạt xấp xỉ 200 triệu USD.
Đây là ngành hàng mà chúng ta còn nhiều tiềm năng, dung lợng thị trờng thế
giới còn lớn. Nếu có chính sách đúng đắn để khơi dậy tiềm năng thì có thể
nâng kim ngạch lên 800 triệu USD vào năm 2005 và 1, 5 tỷ USD vào năm
2010, trong đó hàng gốm sứ chiếm khoảng 60%. Thị trờng định hớng là EU,
Nhật Bản và Hoa Kỳ. Các thị trờng nh Trung Đông, Châu Đại Dơng cũng là
thị trờng tiềm tàng, cần nỗ lực phát triển.
* Thực phẩm chế biến: Kim ngạch hiện nay mới đạt 100 triệu USD, tập
trung chủ yếu vào những mặt hàng không đòi hỏi nhiều về công nghệ nh bánh
kẹo, sữa, mỳ ăn liền, phở ăn liền, bột ngọt, dầu thực vật Tiềm năng phát triển
của ngành hàng này còn khá lớn bởi ở một số nớc có nhu cầu, cha kể cộng
đồng ngời Việt Nam ở nớc ngoài khá đông. Dự báo tới năm 2005 kim ngạch
xuất khẩu có khả năng vợt 200 triệu USD và tới năm 2010 đạt 700 triệu USD
với thị trờng tiêu thụ chủ yếu là Nga, Đông âu, EU, Australia và Hoa Kỳ.
Trong nhóm này, cần hết sức chú trọng mặt hàng dầu thực vật bởi nớc ta là n-
ớc có tiềm năng về cây có dầu (dừa, đậu nành, vừng, lạc ). Nhà nớc cần quy
hoạch lại các vùng trồng cây có dầu để tập trung nguồn nguyên liệu đủ dùng
cho các nhà máy chế biến, hạn chế dần lợng dầu nguyên liệu nhập khẩu.
Trung Quốc và Trung Đông là thị trờng xuất khẩu đầy tiềm năng đối với mặt
hàng này.
* Sản phẩm gỗ: Với thế mạnh về nhân công và tay nghề, đây là ngành có
tiềm năng phát triển ở nớc ta. Ngành còn có một thuận lợi nữa là nhu cầu thế
giới tăng khá ổn định (bình quân mỗi năm tăng khoảng 7-8% trong suốt thời
gian từ 1994 đến 1998). Sau khi chuyển hớng sang sử dụng nguyên liệu nhập,
kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của ta đang hồi phục dần. Dự kiến đến năm
2005 có thể đạt 600 triệu USD và tới năm 2010 đạt 1, 2 tỷ USD. Để phát triển
ngành này, Việt Nam cần có đầu t thỏa đáng vào khâu trồng rừng và đơn giản
hóa thủ tục trong xuất khẩu sản phẩm gỗ, nhất là sản phẩm gỗ rừng tự nhiên.
* Hóa phẩm tiêu dùng: Kim ngạch hàng năm đã đạt xấp xỉ 30 triệu USD.
Thị trờng tiêu thụ chính là Trung Quốc, Campuchia, Irắc và một số nớc đang
phát triển. Một số lợng nhỏ đã đợc xuất sang các nớc ASEAN và EU. Mục tiêu
kim ngạch vào năm 2005 là 200 triệu USD, vào năm 2010 là 600 triệu USD.
Thị trờng chính trong thời kỳ 2001-2005 vẫn sẽ là Trung Quốc, Campuchia,
các nớc ASEAN và một số nớc đang phát triển; sang thời kỳ 2006-2010 cố
gắng len vào các thị trờng khác nh EU, Nhật Bản, Nga, Hoa Kỳ.
* Sản phẩm cơ khí, điện: Mặc dù kim ngạch hiện nay mới đạt trên dới 10
triệu USD nhng Việt Nam hoàn toàn có khả năng tăng kim ngạch lên 300 triệu
USD vào năm 2005 và 1 tỷ USD vào năm 2010. Chúng ta nên có chính sách
thu hút đầu t nớc ngoài, hớng về xuất khẩu. Thị trờng định hớng đối với xe
đạp là EU và Hoa Kỳ, với các sản phẩm khác là các nớc ASEAN, Trung Đông
và Châu Phi.
* Sản phẩm nhựa: Kết quả xuất khẩu sản phẩm nhựa trong những năm
gần đây là đáng khích lệ, nớc ta đã bắt đầu xuất khẩu sang Campuchia, Lào,
Trung Quốc và các nớc Nam á nh ấn Độ, Sri Lanka. Mặt hàng chủ yếu là bạt
nhựa và đồ nhựa gia dụng. Trong những năm tới, chúng ta cần có đầu t thỏa
đáng vào khâu chất lợng và mẫu mã để mở rộng thị phần trên các thị trờng
hiện có, tăng cờng thâm nhập các thị trờng mới nh Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ.
Về sản phẩm, bên cạnh đồ nhựa gia dụng cần chú ý phát triển nhựa công
nghiệp và đồ chơi bằng nhựa. Nếu làm đợc những việc này, kim ngạch có thể
đạt 200 triệu USD vào năm 2005 và 600 triệu USD vào năm 2010.
Nh vậy, bên cạnh dệt may và giày dép, trong 10 năm tới đây, Việt Nam
cần chú ý phát triển những ngành kết hợp giữa lao động giản đơn với công
- 13 -
nghệ trung bình mà cụ thể là thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế biến, sản
phẩm gỗ, hóa phẩm tiêu dùng, sản phẩm nhựa và sản phẩm cơ khí - điện, phấn
đấu đa kim ngạch của nhóm hàng mới này lên 4, 5-5 tỷ USD hoặc hơn vào
năm 2010. Có thể nói đây là khâu đột phá của xuất khẩu Việt Nam trong
những năm trớc mắt (2001-2005).
2.1.4. Nhóm hàng vật liệu xây dựng
Nớc ta có nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất vật liệu xây dựng
không những có thể cung cấp đủ cho nhu cầu trong nớc mà còn có khả năng
xuất khẩu lớn.
Theo chiến lợc phát triển sản xuất xi măng thì các dự án phát triển xi
măng trong vài năm tới có khả năng d thừa hàng năm khoảng từ 2-3 triệu tấn
để xuất khẩu. Tuy nhiên, do các nhà máy xi măng mới đầu t, khấu hao lớn nên
giá thành sản xuất còn cao, khả năng cạnh tranh yếu hơn so với xi măng các
nớc trong khu vực, do đó khâu then chốt với xi măng là hạ giá thành.
Ngành công nghiệp sản xuất gạch ốp lát và sứ vệ sinh trong nớc tuy mới
ra đời nhng đã sớm hòa nhập vào môi trờng cạnh tranh với sản phẩm cùng loại
của các nớc trong khu vực. Về mặt công nghệ, các nhà máy của Việt Nam
nhập công nghệ tiên tiến nên chất lợng sản phẩm đạt tiêu chuẩn ISO, hoàn
toàn có khả năng cạnh tranh với hàng ngoại. Mặt khác, đây là ngành công
nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, sử dụng tới 80 -87% nguyên liệu (đất sét,
thạch cao, bột màu, gas ) trong nớc. Sứ vệ sinh của Việt Nam đã bắt đầu có
mặt trên các thị trờng Nhật Bản, Nga, Myanmar, Bangladesh, Pháp, Ucraina.
Đây là những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu lớn trong tơng lai.
Do có nguồn nguyên liệu cát tốt để sản xuất kính, từ nay đến năm 2010,
ngành công nghiệp kính sẽ trở thành ngành công nghiệp vật liệu xây dựng mũi
nhọn. Dự tính năm 2010 năng lực sản xuất đạt 60 triệu m
2
, đáp ứng đủ cho
nhu cầu trong nớc và xuất khẩu. Trong tơng lai, chúng ta cần mở rộng thêm thị
trờng.
2.1.5. Sản phẩm hàm l ợng công nghệ và chất xám cao
Đây là ngành hàng mới xuất hiện nhng đã mang lại kim ngạch xuất khẩu
khá lớn, khoảng 700 triệu USD vào năm 2000. Hạt nhân là hàng điện tử và tin
học. Với xu thế phân công lao động theo chiều sâu trên thế giới hiện nay, Việt
Nam hoàn toàn có khả năng phát triển hơn nữa những mặt hàng này, trớc mắt
là gia công rồi tiến tới nội hóa dần. Vấn đề cốt lõi là có cơ chế chính sách
khuyến khích, phát triển nguồn nhân lực. Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đặt ra
cho ngành là 2, 5 tỷ USD vào năm 2005 (riêng phần mềm dự kiến là 350 - 500
triệu USD) và 6-7 tỷ USD vào năm 2010 (riêng phần mềm là 1 tỷ USD). Về
thị trờng, trong 5 năm cuối của những năm 2001-2010, chúng ta sẽ nhằm vào
các nớc công nghiệp phát triển (phần mềm) và cả các nớc đang phát triển
(phần cứng).
2.2. Cơ cấu dịch vụ xuất khẩu:
Lâu nay chúng ta ít chú trọng tới xuất khẩu dịch vụ. Ước tính thơng mại
dịch vụ hai chiều của Việt Nam năm 2000 đạt 3, 2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu
đạt 2, 0 tỷ USD và nhập khẩu đạt 1, 2 tỷ USD.
Các ngành dịch vụ thu ngoại tệ bao gồm nhiều lĩnh vực (theo WTO thì có
tới 155 loại hình), nhng chúng ta sẽ chỉ đề cập tới các loại hình dịch vụ nh du
lịch, xuất khẩu lao động, vận tải hàng không, bu chính viễn thông và dịch vụ
ngân hàng.
2.2.1. Xuất khẩu lao động
- 14 -
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét