LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đánh giá rủi ro kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn deloitte việt nam": http://123doc.vn/document/1049192-danh-gia-rui-ro-kiem-toan-trong-quy-trinh-kiem-toan-bao-cao-tai-chinh-tai-cong-ty-trach-nhiem-huu-han-deloitte-viet-nam.htm
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG
QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
TNHH DELOITTE VIỆT NAM
1.1. GIỚI THIỆU VỀ PHẦN MỀM AS2 VÀ SMART AUDIT SUPPORT
(SAS)– CÔNG CỤ HỖ TRỢ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN
Phần mềm AS2 được sử dụng ở Công ty TNHH Deloitte Việt Nam có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện kiểm toán BCTC nói chung và việc
đánh giá rủi ro kiểm toán BCTC nói riêng. Nó không chỉ đơn thuần là một phần
mềm công nghệ hỗ trợ cho quá trình kiểm toán mà còn là một công cụ hữu ích tạo
điều kiện cho các KTV có thể tổng hợp giấy tờ làm việc, hồ sơ kiểm toán và tra cứu
một cách dễ dàng khi cần thiết. Với các tính năng khoa học, nhanh gọn và thông
minh, công tác đánh giá rủi ro kiểm toán BCTC của KTV được thực hiện thuận lợi
hơn nhờ phần mềm AS2. Phần mềm AS2 có thể tự động phân tích, điều chỉnh cho
phù hợp với yêu cầu thực tế của cuộc kiểm toán, với từng loại hình khách hàng cụ
thể, dựa trên nguồn thông tin đầu vào mà KTV thu thập được từ khách hàng hoặc
các nguồn thông tin hỗ trợ từ bên ngoài và các biểu mẫu định dạng sẵn có trong
AS2 (SAS documents).
Trong ứng dụng đối với đánh giá rủi ro nói riêng, phần mềm AS2 luôn chứa
đựng một bảng hướng dẫn thực hiện các thủ tục kiểm toán chi tiết (MAP – chương
trình kiểm toán đối với từng phần hành) hỗ trợ kiểm toán viên thực hiện đầy đủ Vf
có hiệu quả các bước công việc. Hơn nữa, việc liên kết (tham chiếu số liệu) giữa các
chỉ mục hồ sơ trong AS2 và cách tính tự động hóa trong chọn mẫu (nhờ phần mềm
chọn mẫu CMA), xác định mức độ trọng yếu (MP) đã giảm nhẹ khối lượng và áp
lực công việc đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Thêm
vào đó, với tính năng thông minh, phần mềm AS2 vẫn cho phép người sử dụng bổ
sung thêm những thông tin mới thu thập được về khách hàng, hoặc các thủ tục kiểm
toán mới phát sinh, phù hợp với điều kiện thực tế của từng khách hàng mặc dù đã
sẵn có những bảng biểu, câu hỏi và lựa chọn được thiết kế ở dạng đóng.
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
5
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Smart Audit Support (SAS) – Công cụ hỗ trợ đánh giá rủi ro kiểm toán
SAS là một bộ phận cấu thành của phần mềm AS2. Nó đặc biệt có ý nghĩa đối
với việc đánh giá rủi ro kiểm toán BCTC, đồng thời SAS cũng là một công cụ trợ
giúp cho các KTV chuyên nghiệp trong quá trình đánh giá rủi ro, từ đó lập kế hoạch
phục vụ khách hàng, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và thiết lập các chương
trình kiểm toán phù hợp cho các phần hành và khoản mục có liên quan. Nói cách
khác, nó trợ giúp các KTV tập trung vào yêu cầu và tình hình thực tế của khách
hàng để thực hiện dịch vụ tốt hơn.
Thành phần của SAS gồm ba nhân tố chính:
- Đoạn văn cố định: là những thông tin hướng dẫn để hoàn thành những phần
hành xác định.
- Câu hỏi yếu tố: bao gồm hộp kiểm tra (kích hoạt hay không kích hoạt một
lựa chọn), hộp sửa đổi (điền dữ liệu), hộp liệt kê lựa chọn (chọn các mục đã được
định sẵn), nút lựa chọn
- Phần liên kết với hồ sơ trợ giúp theo phần hành, theo mẫu hoặc theo từng tài
liệu cụ thể.
Mặc dù nội dung trong SAS đã được định sẵn ở dạng biểu mẫu và câu hỏi.
Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, với tính năng thông minh của phần mềm AS2,
các KTV vẫn có thể sửa đổi, thêm bớt các thủ tục kiểm toán cho phù hợp đối với
từng khách hàng cụ thể, từng khoản mục và phần hành khác nhau.
1.2. ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG QUY TRÌNH KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH DELOITTE VIỆT
NAM THỰC HIỆN
1.2.1. Phương pháp tiếp cận đánh giá rủi ro của Deloitte Việt Nam
Khác với mô hình trong lý thuyết cũng như tại một số Công ty khác là tiếp cận
theo mức độ rủi ro (rủi ro tiềm tàng, rủi ro phát hiện, rủi ro kiểm soát), Deloitte Việt
Nam tiếp cận kiểm toán dựa trên cơ sở mức độ đảm bảo. Có 3 loại mức độ đảm bảo
cần xác định:
- Mức độ đảm bảo tiềm tàng (Inherent Assurance – IA): là mức độ đảm bảo
được xác định tương ứng với rủi ro tiềm tàng được nhận diện. Mức độ đảm bảo
tiềm tàng được xác định như sau:
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
6
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Không có rủi ro tiềm tàng Có rủi ro tiềm tàng
IA 1.0 0.0
- Mức độ đảm bảo kiểm soát (Control Assurance – CA): là mức độ đảm bảo
tương ứng với rủi ro kiểm soát được nhận diện. Mức độ đảm bảo kiểm soát được
xác định như sau:
Không tin cậy vào KSNB Tin cậy vào KSNB
CA 0.0 1.3
- Mức độ đảm bảo chi tiết (Substantive Assurance – SA): là mức độ đảm bảo
mà các thủ tục kiểm tra chi tiết của KTV phải đạt tới được trên cơ sở mức độ đảm
bảo tiềm tàng và mức độ đảm bảo kiểm soát đã được xác lập ở trên.
Mối quan hệ giữa các loại mức độ đảm bảo trên được thể hiện qua công thức
sau:
AA = IA + CA + SA = 3
AA: Mức độ đảm bảo kiểm toán (Audit Assurance)
Cụ thể mối quan hệ giữa các loại mức độ đảm bảo được thể hiện như sau:
Bảng 1.1: Mô hình mức độ đảm bảo kiểm toán
(Nguồn: Tài liệu đào tạo nội bộ Công ty)
Các loại đảm bảo
No SIR SIR
Tin cậy vào
KSNB
Không tin
cậy KSNB
Tin cậy
vào KSNB
Không tin cậy
vào KSNB
IA 1.0
Tối đa
1.0
Tối đa
0.0
Tối thiểu
0.0
Tối thiểu
CA 1.3
Tối đa
0.0
Tối thiểu
1.3
Tối đa
0.0
Tối thiểu
SA (R – factor)
(Nhân tố R)
0.7
Cơ bản
2.0
Trung bình
1.7
Điều tiết
3.0
Tập trung
AA 3.0 3.0 3.0 3.0
Chú thích:
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
7
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- No SIR (No Specific Identified Risk) : không có rủi ro tiềm tàng được nhận diện
- SIR (Specific Identified Risk) : có rủi ro tiềm tàng được nhận diện
Như vậy, có thể thấy cách tiếp cận kiểm toán của Deloitte Việt Nam được thực
hiện ngược lại so với cách tiếp cận thông thường trên lý thuyết- tiếp cận từ mô hình
rủi ro kiểm toán. Tuy nhiên, xét về bản chất, cách tiếp cận kiểm toán của Deloitte
Việt Nam hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận trên lý thuyết vì hai cách tiếp cận
này đều được thực hiện trên cơ sở nhận diện các yếu tố về môi trường kinh doanh,
hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát, từ đó thiết kế
các thủ tục kiểm toán và mức độ kiểm tra chi tiết cho phù hợp với rủi ro được nhận
diện.
1.2.2. Đặc điểm khách thể kiểm toán ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán
BCTC do Deloitte Việt Nam thực hiện
Bản chất, môi trường kinh doanh và kết quả hoạt động kinh doanh của DN
Bản chất kinh doanh của DN có ảnh hưởng quan trọng tới rủi ro kiểm toán.
Bởi lẽ nó thể hiện một cách đầy đủ về các hoạt động cơ bản của doanh nghiệp; đồng
thời phản ánh những rủi ro, bất lợi mà DN gặp phải trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Một DN hoạt động trong môi trường hoặc ngành nghề kinh doanh chứa
đựng nhiều rủi ro, nguy hiểm trong kinh doanh thì rủi ro kiểm toán sẽ cao và ngược
lại. Qua việc tìm hiểu về bản chất và môi trường kinh doanh của khách hàng, KTV
có thể đưa ra những nhận định về khả năng sai phạm của khách hàng. Khi đánh giá
rủi ro kiểm toán dựa vào bản chất kinh doanh, KTV thường chú ý tới các điểm sau:
- Kỳ kinh doanh của DN: Một DN có kỳ kinh doanh là ngắn hạn thì khả năng
xảy ra rủi ro là rất cao
- Ngành nghề kinh doanh: DN hoạt động trong ngành có sự gia tăng các thất
bại trong kinh doanh hoặc sự sụt giảm nghiêm trọng về nhu cầu tiêu dùng, hay DN
hoạt động trong ngành, thị trường không ổn định thì khả năng xảy ra rủi ro là cao.
- Kỹ thuật: DN sử dụng các kỹ thuật tài chính phức tạp, thiếu sự đổi mới thì
khả năng xảy ra rủi ro cao.
Nghiên cứu về quy trình và cách thức khách hàng báo cáo kết quả kinh doanh
cũng là cách giúp KTV phát hiện ra rủi ro. Khi xem xét vấn đề này, KTV cần lưu ý:
- Cổ tức của DN: Có thể Ban quản lý DN đề xuất cổ tức quá cao nhằm duy trì
hoặc tăng giá trị cổ phiếu của DN trên thị trường.
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
8
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Kết quả kinh doanh không hợp lý: Chủ sở hữu hoặc ban lãnh dạo DN có thể
báo cáo không hợp lý cho mục đích cắt giảm khoản thu nhập, giảm gánh nặng về
thuế.
- Lợi nhuận có thể phân phối của DN hoặc lượng tiền có đủ để phân phối cho
hoạt động hiện tại hay không?
- Thực trạng kinh doanh của DN: có những biến động mạnh nào trong thực
trạng kết quả kinh doanh của DN hay không?
Cơ cấu tổ chức và quản lý của doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức và quản lý của DN cũng là một trong những nhân tố quan
trọng ảnh hưởng đến rủi ro kiểm toán. Nếu cơ cấu và tổ chức quản lý của DN được
thiết kế không phù hợp với quy mô hay bản chất kinh doanh của khách hàng có thể
gây ra sự không hiệu quả, lãng phí nguồn nhân lực dẫn tới không đảm bảo được
chất lượng quản lý và điều hành trong nội bộ DN. Do đó, rủi ro có thể dễ dàng phát
sinh. Chính vì vậy, khi đánh giá rủi ro kiểm toán, các KTV cũng cần phải quan tâm
tới cơ cấu tổ chức cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu tổ chức ở những khía
cạnh sau:
- Quy mô của DN: DN càng có nhiều chi nhánh đang hoạt động thì rủi ro càng
dễ phát sinh.
- Tài khoản ngân hàng: DN có các tài khoản quan trọng tại ngân hàng hoặc có
các chi nhánh hoạt động ở những nước có quyền tránh thuế và vì lý do này bị coi
như không chứng minh hoạt động kinh doanh. Vì vậy, KTV cần phải điều tra để tìm
hiểu được nguồn gốc của các giao dịch thuộc loại này.
- DN thực hiện mở rộng quy mô nhanh chóng trong một thời gian ngắn: Vấn
đề gây nhiều nghi vấn về nguồn vốn, cách thức huy động vốn để tăng quy mô trong
thời gian ngắn.
- Sự phù hợp giữ giám sát, điều hành và sự phát triển của DN: Năng lực,
phong cách quản lý, giám sát, điều hành không thống nhất với quy mô và sự phát
triển của DN sẽ dẫn tới khả năng rủi ro cao.
- Phương pháp phân chia quyền hạn và trách nhiệm: Nếu trong DN không có
sự phân chia quyền hạn, trách nhiệm phù hợp và công minh thì khả năng xảy ra
gian lận và rủi ro là cao.
Khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
9
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Hoạt động liên tục là một dấu hiệu rất quan trọng để khẳng định về thực trạng
sản xuất kinh doanh của khách hàng. Khi khách hàng có dấu hiệu hoạt động không
liên tục, điều đó có nghĩa là thông tin được phản ánh trên báo cáo có thể không
chính xác và trung thực. Do vậy, khi đánh giá rủi ro kiểm toán BCTC, KTV cần cân
nhắc các khía cạnh sau của vấn đề hoạt động liên tục:
- DN không thể tổng hợp dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trong khi báo cáo
về thu nhập tăng.
- Sự đe dọa của khả năng phá sản hoặc tịch biên tài sản để thế nợ.
- Lỗ và có thể lỗ ở những nhóm khách hàng chính.
- Khó khăn trong thực hiện các kế hoạch liên quan tới tiền.
…
Hệ thống kiểm soát nội bộ
Nếu một DN thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ tốt, DN đó sẽ giảm thiểu được
khả năng xảy ra sai sót, gian lận trong quá trình kế toán cũng như hoạt động sản
xuất kinh doanh. Nhờ vậy rủi ro kiểm soát sẽ được giảm thiểu và mức độ đảm bảo
kiểm soát (CA) sẽ đạt ở mức độ cao. Ngược lại, nếu một DN có hệ thống kiểm soát
nội bộ yếu, KTV không thể tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ, khả năng xảy ra
sai sót cao và do đó mức độ đảm bảo kiểm soát (CA) sẽ thấp, KTV sẽ tăng cường
thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ.
Khi tìm hiểu hệ thống KSNB của khách hàng, KTV cần nhận thức được rằng
mỗi hệ thống KSNB dù được thiết kế hoàn hảo đếm đâu cũng không thể ngăn ngừa
hay phát hiện mọi sai phạm có thể xảy ra. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA
400 “Đánh giá rủi ro kiểm soát nội bộ”, những hạn chế đó được xác định như sau:
- Ban Giám đốc thường yêu cầu giá phí của một thủ tục kiểm tra không vượt
quá những lợi ích mà thủ tục đó mang lại
- Phần lớn công tác kiểm tra nội bộ thường tác động đến những nghiệp vụ lặp
đi lặp lại mà không tác động đến những nghiệp vụ bất thường
- Không loại trừ được rủi ro, sai sót của con người, xuất phát từ sụ thiếu chú ý,
đãng trí, sai sót về xát đoán hoặc do không hiểu các chỉ thị
- Khả năng vượt tầm kiểm soát của hệ thống KSNB do có sự thông đồng của
một người trong Ban Giám đốc hay một nhân viên với như ngx người khác ở trong
hay ngoài đơn vị
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
10
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Khả năng những người chịu trách nhiệm thực hiện KSNB lạm dụng đặc
quyền của mình
- Do có sự biến động tình hình, các thủ tục kiểm soát có khả năng không còn
thích hợp và do đó không được áp dụng
Trích bảng đánh giá thủ tục kiểm soát tại Deloitte Việt Nam
Bảng 1.2: Bảng đánh giá thủ tục kiểm soát tại Deloitte Việt Nam
(Nguồn: Tài liệu cung cấp nội bộ Deloitte Việt Nam)
Câu hỏi Có Không
1. Các chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong Công ty có được
phân công, phân nhiệm rõ ràng? Sự phân công, phân nhiệm có
được thể hiện rõ ràng bằng văn bản không?
2. Có sự phân chia nhiệm vụ và công việc trong Công ty một
cách hợp lý không?
3. Sự phân công trách nhiệm và quyền lợi trong Công ty có
đảm bảo nguyên tắc bất kiêm nhiệm không?
4. Quyền hạn của các cá nhân trong Công ty có được phân
quyền hợp lý không?
5. Có chế độ ủy quyền hợp lý không?
6. Mọi nghiệp vụ có được phê chuẩn hợp lý không?
…
Đánh giá tổng hợp thủ tục kiểm soát
Đặc điểm và tính liêm khiết của đội ngũ lãnh đạo
Trong quá trình đánh giá kiểm toán BCTC nói chung và đánh giá rủi ro kiểm
toán BCTC nói riêng, việc tìm hiểu và đánh giá đặc điểm và tính liêm khiết của đội
ngũ lãnh đạo là vô cùng cần thiết bởi vì điều đó sẽ quyết định mức độ tin cậy của
KTV vào những thông tin do khách hàng cung cấp, tính trung thực của các thông tin
trình bày trên BCTC từ đó thiết kế chương trình kiểm toán phù hợp với điều kiện cụ
thể và tình hình thực tế của khách hàng. Khi xem xét về đặc điểm và tính liêm khiết
của đội ngũ lãnh đạo, KTV xem xét các vấn đề như:
- Cam kết của DN về độ tin cậy của thông tin trong BCTC
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
11
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Cam kết của DN về thiết kế, duy trì quy trình kế toán và hệ thống thông tin
tin cậy.
- Những khó khăn và trở ngại trong đời sống của các thành viên trong ban lãnh
đạo. KTV có thể thực hiện công việc này thông qua điều tra, phỏng vấn.
- Uy tín với bên thứ ba: Nếu DN không đảm bảo uy tín với bên thứ ba thì khả
năng rủi ro là rất cao
- Quản lý doanh nghiệp có chấp nhận những rủi ro ở mức độ cao xảy ra bất
thường hay không
…
1.2.3. Đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán và xác định mức độ
trọng yếu (PM)
Đối với mọi khách hàng, dù là khách hàng lâu năm hay khách hàng mới, trước
khi tiến hành thực hiện kiểm toán, Deloitte Việt Nam đều tiến hành đánh giá rủi ro
chấp nhận hợp đồng kiểm toán. Đây là công việc tiền kiểm toán nhằm mục đích xác
định có thể tiếp tục nhận hợp đồng kiểm toán cho một khách hàng cũ hay thực hiện
hợp đồng kiểm toán với một khách hàng mới, trên cơ sở đó có kế hoạch kiểm toán
phù hợp. Các tài liệu và thông tin thu thập được trong giai đoạn này sẽ được lưu tại
các chỉ mục sau trong hồ sơ kiểm toán:
- Chỉ mục 1100: Kế hoạch giao dịch và phục vụ khách hàng
- Chỉ mục 1200: Đánh giá rủi ro kiểm toán và môi trường kiểm toán
Trước khi tiến hành đánh giá rủi ro kiểm toán tại khách hàng, Công ty lập kế
hoạch tiếp cận khách hàng nhằm mục đích có được sự hiểu biết khái quát nhất về
khách hàng, cũng như yêu cầu và mong muốn của khách hàng đối với cuộc kiểm
toán. Trong bước công việc này, Công ty tìm hiểu các thành viên chủ chốt trong ban
quản lý; các yêu cầu của khách hàng đối với dịch vụ kiểm toán mà Công ty cung
cấp. Ngoài ra, Công ty còn tìm hiểu thêm những phản hồi về chất lượng dịch vụ
trước đây của khách hàng (đối với những khách hàng cũ), giá phí, thời lượng kiểm
toán… Trên cơ sở đó, KTV xây dựng chiến lược về liên hệ với những thành viên
nào trong doanh nghiệp khách hàng trong suốt quá trình thực hiện công việc kiểm
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
12
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
toán, xây dựng kế hoạch mở rộng và tăng cường mối quan hệ với khách hàng…
Trước khi kí kết hợp đồng kiểm toán, KTV phải thu thập những thông tin chung
nhất về khách hàng kiểm toán để có thể đưa ra những nhận định ban đầu về rủi ro
của hợp đồng và đưa đến kết luận có thực hiện kiểm toán cho khách hàng đó hay
không. Những thông tin chung về khách hàng mà KTV cần thu thập là: hình thức sở
hữu, quy mô của khách hàng, đặc điểm, ngành nghề, lĩnh vực hoạt động kinh doanh
của khách hàng, các đối thủ cạnh tranh, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, hoạt động
liên tục của khách hàng… và thường được lưu trong Hồ sơ kiểm toán chung
(Permanent file).
Bất kỳ cuộc kiểm toán nào cũng có rủi ro. Trong mục 08, chuẩn mực Việt
Nam số 400 (VSA 400) “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ” có quy định: “Rủi ro
kiểm toán phải được xác định trước khi lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện kiểm
toán”. Như vậy, rủi ro kiểm toán phải được xác định trước khi KTV lập kế hoạch
và thực hiện kiểm toán. Việc này góp phần giúp cho KTV và Công ty kiểm toán xác
định được chương trình kiểm toán cụ thể và thực hiện kiểm toán một cách hiệu quả
hơn. Tùy vào mức độ của rủi ro mà Công ty có các phương án khác nhau. Deloitte
Việt Nam quy định có thể đánh giá rủi ro kiểm toán ở một trong các mức sau:
- Mức bình thường: Nếu rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán là bình thường
thì Giám đốc kiểm toán và trưởng nhóm kiểm toán đại diện cho Deloitte Việt Nam
sẽ xem xét chấp nhận hợp đồng kiểm toán với khách hàng và thảo luận, thiết lập các
điều khoản trong hợp đồng và tiến hành thực hiện kiểm toán tại Công ty khách
hàng.
- Mức cao hơn bình thường: Nếu rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán cao thì
Giám đốc phải xem xét để đưa ra kết luận cuối cùng. Nếu có nghi ngờ về khả năng chấp
nhận hay tiếp tục với khách hàng thì Công ty cần thu thập ý kiến của các chuyên gia tư
vấn từ đó đưa ra quyết định có chấp nhận hợp đồng kiểm toán hay không.
- Mức rất cao: Nếu rủi ro chấp nhận hợp đồng là rất cao thì Công ty không
chấp nhận hợp đồng kiểm toán vì khi đó chất lượng của cuộc kiểm toán không đảm
bảo theo đúng tiêu chuẩn của Deloitte toàn cầu, nếu thực hiện kiểm toán sẽ gây ra
hậu quả khó lường và ảnh hưởng đến uy tín của Deloitte Việt Nam cũng như
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
13
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Deloitte toàn cầu.
Trong giai đoạn đánh giá rủi ro trước khi thực hiện hợp đồng kiểm toán, KTV
có thể sử dụng thông tin trên các báo cáo kiểm toán năm trước (nếu có) để có thể
hiểu một cách đầy đủ và chi tiết hơn về tình hình, thực trạng kinh doanh của khách
hàng. Từ đó, KTV có thể đưa ra những nhận định đúng đắn và chính xác hơn về khả
năng xảy ra rủi ro kiểm toán. Tuy nhiên, khi sử dụng các thông tin kiểm toán năm
trước, KTV cần cân nhắc về tính phù hợp và độ tin cậy của các thông tin đó đối với
việc kiểm toán năm nay. Trong nhiều trường hợp, những thay đổi trong hệ thống
của khách hàng hoặc sự biến động của các yếu tố bên ngoài cũng có thể là nguyên
nhân dẫn tới sự gia tăng hoặc hạn chế rủi ro khi thực hiện kiểm toán.
Cách thức thu thập thông tin đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm
toán:
Để thu thập nguồn thông tin để đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán,
KTV cần dựa trên các cách thức sau:
- Xem xét hồ sơ kiểm toán các năm trước.
- Trao đổi với ban giám đốc, kế toán trưởng Công ty khách hàng.
- Kinh nghiệm và sự hiểu biết của KTV về công ty khách hàng, lĩnh vực
kinh doanh của khách hàng nếu trong các năm kiểm toán trước KTV đã thực hiện
kiểm toán cho khách hàng hoặc trao đổi với KTV tiền nhiệm đối với khách hàng
truyền thống của Deloitte Việt Nam song năm nay có thể thay đổi nhóm kiểm toán
thực hiện hợp đồng kiểm toán đó.
- Thu thập các văn bản pháp lý có liên quan.
Trước khi tiến hành bất kỳ một cuộc kiểm toán nào, nhóm kiểm toán đều phải
có được sự hiểu biết chung về hoạt động kinh doanh của khách hàng đủ để nhận
diện và hiểu được bản chất của các sự kiện, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh mà theo
dự đoán của nhóm kiểm toán chúng sẽ ảnh hưởng trọng yếu đến thông tin trình bày
trên báo cáo tài chính của khách hàng, từ đó KTV sẽ đánh giá rủi ro kiểm toán
BCTC tại Công ty khách hàng để có kế hoạch kiểm toán phù hợp . Do đó các thông
tin quan trọng này cần phải được thu thập và ghi chép trong kế hoạch kiểm toán
chiến lược.
Nguyễn Thị Phương Thảo Lớp: Kiểm toán 48A
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét