LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Báo cáo tình hình tháng 7 năm 2009": http://123doc.vn/document/571948-bao-cao-tinh-hinh-thang-7-nam-2009.htm
THÔNG TIN TRONG NƯỚC
NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH CỦA HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ 10
I. THÔNG BÁO KẾT QUẢ HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 10
II. KẾT QUẢ CỤ THỂ TRÊN CÁC NỘI DUNG HỘI NGHỊ TW 10
TỔNG QUAN VỀ HỘI NGHỊ BCH TRUNG ƯƠNG 10
Ngày 29/6/2009 tại Hà Nội, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ
10 đã khai mạc với nội dung chính là bàn việc chuẩn bị cho Đại hội XI.
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã đọc diễn văn khai mạc hội nghị, trong đó ông
khẳng định chủ trương "tiếp tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng" để đến năm 2020 Việt Nam
cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Đây là sự kiện được coi là quan trọng nhất trong hoạt động của Đảng Cộng sản sẽ
được tổ chức vào quý I năm 2011 với nhiệm vụ đề ra và quyết định chiến lược phát triển
cho Việt Nam trong giai đoạn năm 2011-2020.
I. THÔNG BÁO KẾT QUẢ HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 10
Hội nghị Trung ương lần này sẽ xem xét một số vấn đề cơ bản để chuẩn bị cho
Đại hội sắp tới:
1. Trung ương thảo luận đề cương báo cáo Tổng kết, bổ sung và phát triển Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm
1991).
2. Trung ương thảo luận đề cương báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát
triển KT-XH 10 năm 2001-2010 và xây dựng chiến lược phát triển KT-XH 10 năm
2011-2020.
3. Trung ương thảo luận dự thảo của Bộ Chính trị về định hướng chuẩn bị Đại hội
XI của Đảng và đại hội các cấp.
4. Trung ương thảo luận quyết định thành lập các tiểu ban chuẩn bị cho Đại hội
XI.
5. Trung ương còn bàn một số vấn đề quan trọng khác như:
- Bàn về kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm.
1
- Thảo luận về báo cáo triển khai quy hoạch vùng Bôxit.
- Nghe thảo luận về báo cáo việc Việt Nam nộp báo cáo về ranh giới thềm lục địa
cho LHQ; Nghe và bàn một số vấn đề về tình hình Biển Đông gần đây; Tình hình cắm
mốc Biên giới Việt - Trung; Việt - Lào…
II. KẾT QUẢ CỤ THỂ TRÊN CÁC NỘI DUNG HỘI NGHỊ TW 10
Sau một tuần làm việc, chiều 4-7-2009, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khoá X) đã bế mạc tại Hà Nội và đưa ra thông báo với 3 nội dung quan
trọng của hội nghị đó là:
1. Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết, bổ sung và phát triển Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Cương lĩnh năm 1991)
2. Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 10 năm 2001 - 2010 và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011
- 2020)
3. Định hướng chuẩn bị Đại hội XI của Đảng và đại hội Đảng các cấp.
1. Về bổ sung và phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH (Cương lĩnh năm 1991)
Như chúng ta đã biết Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản Đảng ở Việt Nam
dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, diễn ra từ ngày 3 - 7.2.1930 tại Hương Cảng
(Trung Quốc). Lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam và bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng
Bí thư đầu tiên của Đảng.
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được Hội nghị
thông qua tuy vắn tắt song đã nêu được những vấn đề cơ bản về đường lối cách mạng,
khoa học, phù hợp với nhu cầu khách quan của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt
Nam lúc bấy giờ.
Cho đến tháng 6.1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản
Việt Nam đã họp tại Hà Nội. Tại Đại hội này Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên CNXH cùng với chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2000 đã được thông qua. Ý nghĩa quan trọng của Đại hội VII là lần đầu tiên Đại hội
thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta và
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Đây là những văn kiện
quan trọng nhất xuyên suốt đường lối chính sách của Đảng và nhà nước ta trong nột thòi
kỳ lịch sử tương đối lâu dài.
Nội dung chính của Cương lĩnh năm 1991:
2
1. Quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm
2. Quá độ lên CNXH ở nước ta
3. Những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối
ngoại
4. Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng
Qua thảo luận hội nghị Trung ương đã khẳng định: Cương lĩnh năm 1991 có giá
trị lịch sử to lớn về lý luận chính trị, tư tưởng và chỉ đạo thực tiễn. Dưới ánh sáng dẫn
đường của Cương lĩnh, toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta đã bền gan, vững chí, nỗ lực
phấn đấu đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, trụ vững trong bối cảnh
Liên Xô và các nước XHCN ở Ðông Âu sụp đổ, tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới
đất nước, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Cương lĩnh năm 1991 là
mốc son sáng ngời về bản lĩnh và trí tuệ Ðảng ta trong lịch sử vẻ vang lãnh đạo Cách
mạng Việt Nam.
Tuy nhiên, trước tình hình mới, một số vấn đề trong Cương lĩnh năm 1991 cần
được bổ sung, phát triển. Hơn nữa Đại hội X đã quyết định “Sau Đại hội X, cần tiếp tục
nghiên cứu, bổ sung và phát triển Cương lĩnh làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi
hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong quá trình đưa nước ta đi lên
CNXH”.
Ban Chấp hành Trung ương thảo luận nhất trí trong quá trình bổ sung phát triển
trên cơ sở một số định hướng sau:
- Không đặt vấn đề sửa đổi cương lĩnh mà chỉ bổ sung với hàm nghĩa là
không sửa đổi những tư tưởng lớn trong cương lĩnh, đề tránh đến mức thấp nhất
những lợi dụng của kẻ thù (không nên làm mồi cho kẻ thù tấn công).
- Việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 được thực hiện theo tinh
thần tiếp tục đổi mới, bám sát thực tiễn của đất nước và thời đại, kế thừa những
nội dung vẫn còn nguyên giá trị của Cương lĩnh năm 1991 và nêu lên được mục
tiêu của chặng đường sắp tới.
- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
sau khi đại hội đảng các cấp thảo luận, nhân dân tham gia góp ý, sẽ được trình Ðại
hội XI của Ðảng. Ðó được xem là tuyên ngôn chính trị của Đảng, mang tầm định
hướng chiến lược về con đường phát triển của đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, là ngọn cờ chiến đấu của Đảng và dân tộc ta trong sự nghiệp xây
dựng đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; là nền tảng lý luận, nền
3
tảng tư tưởng và chính trị, định hướng cho mọi hoạt động của chúng ta hiện nay
cũng như trong những thập kỷ tới
- Tên gọi của cương lĩnh:
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ mới
Cương lĩnh xây dựng đất nước 2011
Cương lĩnh xây dựng CNH, HĐH lên CNXH
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ mới lên CNXH
Thống nhất: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ
sung và phát triển).
- Về một số vấn đề, trong quá trình thảo luận vẫn còn có ý kiến khác nhau
hoặc cần được làm rõ, Ban Chấp hành Trung ương quyết định giao cho Bộ Chính
trị chỉ đạo tiếp tục nghiên cứu, cân nhắc trình Ban Chấp hành Trung ương thảo
luận trong các hội nghị tới.
2. Về đề cương chi tiết báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 và xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10
năm 2011 - 2020.
- Việc tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chiến lược 2001 - 2010 cũng như việc
xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho thời kỳ mới 2011 - 2020 cần được
nhìn nhận, đánh giá, phân tích một cách toàn diện sâu sắc những thành tựu, những ưu
điểm, khuyết điểm, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm.
- Đánh giá đúng nguồn lực, thế mạnh của đất nước và khả năng sáng tạo của nhân
dân để từ đó xây dựng được chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tới.
- Tiếp tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định
hướng Xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
- Phát triển toàn diện văn hoá, xã hội hài hoà với phát triển kinh tế, phát triển sự
nghiệp y tế, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đổi mới toàn diện GD -
ĐT, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ
- Bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu
- Giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội
4
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của VN trên trường quốc tế, xây
dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiệu lực, hiệu quả
3. Về định hướng chuẩn bị Đại hội XI của Đảng và đại hội Đảng các cấp
Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và quyết định về định hướng chuẩn bị
Đại hội XI của Đảng và đại hội Đảng các cấp với những nội dung chính sau đây:
1. Bối cảnh Đại hội XI (xác định bối cảnh như thế nào để đề ra đường lối, phương
hướng hợp lý, vừa mang tính chiến lược)
- Đất nước đã thoát khỏi nền khủng hoảng kinh tế hay chưa; tăng trưởng kinh tế
có bền vững không, cao hay thấp; lãm phát ở mức độ như thế nào; tình hình an ninh
chính trị có được giữ vưng hay không ?
- Tình hình suy thoái kinh tế trên thế giới như thế nào, tình hình an ninh thế giới
có ổn định hay không, hay nhiều nơi mất ổn định; tình hình ngoại giao của việt Nam như
thế nào, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ra sao ?
2. Những yêu cầu mà Đại hội XI và Đại hội các cấp phải đạt được
- Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, gắn với việc
thực hiện có chiều sâu của cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh”.
- Tiếp tục đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá theo định
hướng xã hội chủ nghĩa để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại.
- Phải làm cho văn hoá thật sự phát triển, đây là nền tảng, tinh thần của xã hội.
- Tập trung giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
- Đảm bảo mở rộng dân chủ tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
3. Chuẩn bị 5 văn kiện quan trọng trình Đại hội.
- Báo cáo chính trị
- Báo cáo tổng kết bổ sung phát triển Cương lĩnh năm 1991
- Báo cáo tổng kết thực hiện chiến lược 2001 - 2010 và phương hướng nhiệm vụ
2011 - 2020.
- Báo cáo chỉ đạo
- Báo cáo bổ sung sửa đổi điều lệ Đảng.
4. Thành lập các tiểu ban chuẩn bị cho Đại hội XI
5
- Tiểu ban tổng kết và bổ sung phát triển (tiểu ban cương lĩnh)
- Tiểu ban chiến lược
- Tiểu ban điều lệ Đảng
- Tiểu ban nhân sự
- Tiểu ban phục vụ Đại hội
- Ấn định thời gian tổ chức Đại hội XI của Đảng vào nửa đầu tháng 1-2011.
Cấp cơ sở: tháng 5, 6
Cấp Huyện, thành, thị: tháng 7, 8
Cấp tỉnh, TP trực thuộc TW: tháng 9, 10
Tuy nhiên: Phải gắn kết việc chuẩn bị Đại hội Đảng toàn quốc với việc lãnh đạo
kinh tế, xã hội năm 2009 - 2010 đạt kết quả tốt.
6
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2009
1. Về tăng trưởng kinh tế và các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh
(1) Nền kinh tế bị suy giảm nhưng không rơi vào tình trạng khủng hoảng, suy
thoái và đang có chiều hướng tăng dần
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2009 ước
đạt 3,9% (cùng kỳ năm trước tăng 6,47%), trong đó: quý I/2009 tăng 3,1%, quý II/2009;
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,25% (cùng kỳ tăng 3,53%); khu vực công
nghiệp và xây dựng tăng 3,48% (cùng kỳ tăng 6,53%); khu vực dịch vụ tăng 5,5% (cùng
kỳ tăng 7,76%); Tăng trưởng ở cả 3 khu vực trong quý II đểu cao hơn so với quý I.
Trong tình hình kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nước tăng trưởng âm, thì với mức tăng
trưởng như trên là kết quả bước đầu của việc thực hiện các chính sách ngăn chặn kinh tế.
(2) Sản xuất công nghiệp tăng trưởng thấp nhưng đang có xu hướng phục hồi;
ngành xây dựng có chuyển biến nhanh hơn
Sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng
kỳ tăng 16,5%); trong đó khu vực ngoài Nhà nước tăng 7,6%; khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài tăng 4,5%.
Sản xuất công nghiệp tăng thấp nhưng có chuyển biến nhanh qua từng tháng. Sau
khi giảm sâu trong tháng 1, ngành công nghiệp liên tục có tốc độ tăng trong 5 tháng gần
đây (tháng 2 tăng 4,1%; tháng 3 tăng 2,4%; tháng 4 tăng 5,6%; tháng 5 tăng 7,2%, tháng
6 tăng 8,2%).
Về lĩnh vực xây dựng có chuyển biến nhanh hơn, nhờ tận dụng được cơ hội giá
vật liệu xuống thấp và thị trường bất động sản có dấu hiệu bước đầu phục hồi. Từ mức
tăng trưởng âm 0,4% trong năm 2008 đã tăng 8,74% trong 6 tháng đầu năm 2009, trong
đó quý I tăng 6,92%; quý II tăng 9,83%. Sự phục hồi của ngành xây dựng và thị trường
bất động sản góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và
tăng trưởng của nền kinh tế.
(3) Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển ổn định
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 tháng đầu năm tăng 2,5% so với
cùng kỳ năm trước (quý I/2009 tăng 0,9%), bao gồm nông nghiệp tăng 1,8%; lâm
nghiệp tăng 3,1%; thuỷ sản tăng 4,3%.
(4) Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng cao nhất so với nông nghiệp và công
nghiệp
7
Tốc độ tăng khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm 2009 đạt 5,5%. Nhờ triển khai các
giải pháp kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh khai thác thị trường nội địa nên tổng mức bán
lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2009 tăng 20% so với cùng
kỳ năm 2008, trong đó thương nghiệp tăng 20,7% ; khách sạn nhà hàng tăng 17,3%;
dịch vụ tăng 17,6%.
Sản lượng vận tải hàng hóa 6 tháng đầu năm 2009 tăng 0,3% so với cùng kỳ, khối
lượng luân chuyển tăng 1,1%; sản lượng vận tải hành khách tăng 7%; khối lượng luân
chuyển hành khách tăng 4%.
Các lĩnh vực thông tin, viễn thông tiếp tục có bước phát triển tốt. Số thuê bao điện
thoại phát triển mới 6 tháng ước tính đạt 15,3 triệu thuê bao, tăng 54,3% so với cùng kỳ,
nâng tổng số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 6/2009 ước tính đạt 96,7
triệu thuê bao (trong đó thuê bao di động chiếm 84%) đạt mật độ 111 máy/100 dân (bình
quân 18 máy cố định/100 dân). Số thuê bao internet băng rộng cả nước tính đến cuối
tháng 6/2009 ước tính đạt 2,6 triệu thuê bao, tăng 54,1% so với cùng kỳ năm trước (đạt
mật độ 3,0 thuê bao/100 dân). Số người sử dụng internet ước tính 22,5 triệu người, đạt
mật độ 25,9%.
2. Về một số cân đối lớn:
(1) Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt 188 nghìn tỷ đồng, bằng
48,2% dự toán năm, trong đó thu nội địa (trừ dầu thô) ước đạt 115 nghìn tỷ đồng bằng
49,3% so với dự toán năm; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu ước đạt
45,2 nghìn tỷ đồng bằng 51,3% dự toán năm; thu từ dầu thô đạt 25,5 nghìn tỷ đồng bằng
40% dự toán năm.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm ước đạt 216,5 nghìn tỷ đồng, bằng
44,2% dự toán năm.
(2) Xuất nhập khẩu
Kim ngạch xuất khẩu 2 tháng gần đây đã tăng so với tháng trước (tháng 6 tăng
6,5%, tháng 5 tăng 3,2%). Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2009 đạt 27,6 tỷ USD,
giảm 10,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 10,3 tỷ USD, giảm 7,6%.
Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34,1% so
với cùng kỳ.
8
Nhập siêu 6 tháng đầu năm ước tính 2,1 tỷ USD. Trung Quốc vẫn là thị trường
nhập siêu lớn nhất của Việt Nam với mức nhập siêu trong 6 tháng ước tính 5 tỷ USD;
Mỹ và EU tiếp tục là các thị trường xuất siêu ở mức 3,9 tỷ USD và 2,1 tỷ USD.
(3) Chỉ số giá tiêu dùng
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 chỉ tăng 0,32%; tháng 2 tăng
1,17%; tháng 3 giảm 0,17%; tháng 4 tăng 0,35%; tháng 5 tăng 0,44% và tháng 6 tăng
0,55%.So với tháng 12 năn 2008, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 tăng 2,68% (cùng kỳ tăng
18,44%). Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2009 tăng 10,27% so với 6 tháng năm
2008.
3. Về đầu tư phát triển
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 6 tháng đầu năm ước đạt 322,6 nghìn tỷ đồng, tăng
18,1% so với cùng kỳ năm trước.
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã đăng ký cấp mới và tăng vốn cho 374 dự án với
tổng vốn là 8,9 tỷ USD, bằng 22,6% cùng kỳ năm 2008, trong đó vốn đăng ký mới là 4,7
tỷ USD, vốn tăng thêm là 4,2 tỷ USD. Tổng vốn FDI thực hiện 6 tháng đầu năm 2009
ước đạt 4 tỷ USD. Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam 6 tháng
đầu năm 2009, Hoa Kỳ là nhà đầu tư lớn nhất với 3860,9 triệu USD vốn đăng ký cấp
mới và vốn bổ sung; tiếp đó là Đài Loan 1265,1 triệu USD; Hàn Quốc 1114,2 triệu
USD; quần đảo Virgin thuộc Anh 767,9 triệu USD; Đặc khu HC Hồng Công (TQ) 547,1
triệu USD; Xin-ga-po 403,2 triệu USD; Liên bang Nga 329,8 triệu USD.
Thu hút vốn ODA tính từ đầu năm đạt 1783 triệu USD, tăng 15,9% so với cùng
kỳ năm 2008. Các nhà tài trợ có giá trị hiệp định ODA ký kết lớn là: Nhật Bản 852 triệu
USD, Ngân hàng Phát triển Châu Á 482 triệu USD và Ngân hàng Thế giới 265 triệu
USD. Mức giải ngân vốn ODA 6 tháng ước tính đạt 1270 triệu USD, tăng 9% so với
cùng kỳ năm 2008 và bằng 67% kế hoạch giải ngân của cả năm 2009.
4. Về bảo đảm an sinh xã hội, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và các lĩnh
vực xã hội khác
Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa X), các kết
luận của Bộ Chính trị, Nghị quyết Quốc hội, Nghị quyết số 30/2008/NĐ-CP đã góp phần
bảo đảm an sinh xã hội, tiếp tục hướng vào xóa đói giảm nghèo, đồng bào dân tộc thiểu
số, các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, các đối tượng chính sách; tích cực hỗ trợ giảm
nghèo nhanh và bền vững ở 61 huyện nghèo; hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên
tai, dịch bệnh,… Chính sách, giải pháp để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ đối với
lao động mất việc làm. Các chính sách hỗ trợ lãi xuất tín dụng cho vay đầu tư máy móc,
9
thiết bị sản xuất nông nghiệp, xây dựng nhà ở nông thôn, ký túc xá cho sinh viên đang
được triển khai tích cực theo các mục tiên đã đề ra.
Về tình hình lao động, việc làm: 6 tháng đầu năm, tổng số lượt lao động được giải
quyết việc làm ước đạt 650 nghìn người, bằng 83,3% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó
xuất khẩu lao động khoảng 3,3 vạn người, bằng 75% so với cùng kỳ.
Theo báo cáo của 48 tỉnh, thành phố, do ảnh hưnởg của suy thoái kinh tế, đến hết
quý I/2009 có 64,9 nghìn người mất việc làm và 39 nghìn người thiếu việc làm. Một số
lao động đang làm việc ở nước ngoài cũng bị mất việc làm, trong quý I có gần 3 nghìn
lao động phải về nước trước thời hạn.
Về triển khai thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NĐ-CP ngày 27/12/2008 của
Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, đến
nay đã có 11/62 đề án giảm nghèo của các huyện được phê duyệt. Hưởng ứng kêu gọi
của Chính phủ, đã có 37 tập đoàn kinh tế, tổng công ty và doanh nghiệp nhận trợ giúp 57
huyện nghèo.
Các chính sách về an sinh xã hội khác đã được triển khai thực hiện kịp thời như:
chính sách về điều chỉnh chế độ trợ cấp cho người có công với cách mạng; lương hưu,
trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với người về hưu; trợ cấp khó khăn
cho người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước có đời sống khó khăn, thu nhập thấp;
thực hiện điều chỉnh lương tối thiểu đối với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
theo vùng; tăng lương tối thiểu khu vực hành chính sự nghiệp;… chính sách bảo hiểm
thất nghiệp đang được tích cực triển khai.
Ngành giáo dục đào tạo tiếp tục thực hiện các chương trình đổi mới giảng dạy và
học tập. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hệ trung học
phổ thông năm học 2008-2009 là 83,7%; hệ bổ túc trung học phổ thông là 38,1%. Năm
học 2008-2009 cả nước có 1675,7 nghìn sinh viên đại học, cao đẳng, tăng 4,5% so với
năm học trước và 628,8 nghìn học sinh trung cấp chuyên nghiệp, tăng 2,3%. Số sinh
viên đại học, cao đẳng bình quân 1 vạn dân năm 2009 là 194 người, đạt 97% mục tiêu
quốc gia năm 2010.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: trước tình hình dịch bệnh diễn biến theo
chiều hướng phức tạp, ngành y tế đã tăng cường kiểm tra, giám sát, tích cực triển khai
các biện pháp phong chống các loại dịch bệnh như dịch cúm A (H1N1), tiên chảy cấp,
sốt xuất huyết,…Trong 6 tháng đầu năm 2009 (Tính đến ngày 21/6/2009), cả nước có
22,9 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, tăng 49,8% so với cùng kỳ năm trước;
2,3 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, giảm 15,4%; 26,3 nghìn trường hợp
mắc bệnh sốt rét; 139 trường hợp dương tính với phẩy khuẩn tả, giảm 76,1%; 107
10
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét