LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp và bài học kinh nghiệm cho tổng công ty thép việt nam trong quá trình chuyển đổi": http://123doc.vn/document/1053147-giai-phap-va-bai-hoc-kinh-nghiem-cho-tong-cong-ty-thep-viet-nam-trong-qua-trinh-chuyen-doi.htm
là Công ty Nhà nớc hoặc các tổ chức đợc Nhà nớc uỷ quyền, góp vốn.
Thứ hai: DNNN không có 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu Nhà nớc.
Trong các DNNN loại này tuy có vốn của Nhà nớc nhng lợng vốn đó không
chiếm toàn bộ vốn điều lệ. Loại này bao gồm: công ty cổ phần, công ty TNHH
có từ hai thành viên trở lên, doanh nghiệp liên doanh có vốn của Nhà nớc
chiếm trên 50% vốn điều lệ của doanh nghiệp.
4. Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc. Nguyên nhân phải
chuyển đổi.
Để phân tích đợc nguyên nhân phải chuyển đổi cơ cấu sở hữu trong các
doanh nghiệp Nhà nớc thì trớc hết chúng ta phải thấy đợc thực trạng hoạt động
của các DNNN.
DNNN trong nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam là vấn đề hết sức nhạy cảm về chính trị và cũng là vấn đề bức xúc về mặt
quản lý kinh tế. Nền kinh tế Nhà nớc mà đặc biệt là các DNNN giữ một vị trí
đặc biệt quan trọng và chủ đạo trong nền kinh tế nói chung. DNNN đã đóng
vai trò quan trọng trong việc củng cố nền tảng kinh tế, xã hội của nớc ta, góp
phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh thống nhất nớc nhà, xây dựng cở sở
vật chất cho Chủ Nghĩa Xã Hội( CNXH).
DNNN có một vai trò hết sức quan trọng, thể hiện trên một số mặt chủ
yếu sau:
Thứ nhất: DNNN phải chi phối đợc sự phát triển trong các lĩnh vực kinh
tế có ý nghĩa đối với sự phát triển ổn định của đất nớc;
Thứ hai: DNNN phải là động lực cho sự phát triển của các doanh nghiệp
khác thông qua hiệu quả hoạt động cao trên nền tảng của công nghệ sản xuất
hiện đại và hệ thống quản lý tiên tiến;
Thứ ba: DNNN là nguồn lực vật chất chủ yếu của Nhà nớc. DNNN phải
tạo ra đợc sự đóng góp quyết định cho Ngân sách Nhà nớc. Dựa vào những
đóng góp chủ yếu của DNNN và thông qua việc sở hữu các doanh nghiệp,
Nhà nớc XHCN có trong tay tiềm lực kinh tế vững mạnh để thực hiện những
nhiệm vụ của mình;
Thứ t ; DNNN là mẫu mực trong việc giải quyết các chính sách xã hội
nh việc làm, trợ cấp xã hội. Trong thực tiễn của nớc ta trớc đây, DNNN đóng
vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Nhiều chính sách xã
hội đợc thực hiện tốt thông qua các DNNN. Đây là vai trò cần phát huy của
DNNN trong điều kiện hiện nay.
Trên cơ sở vai trò của DNNN với sự phát triển của nền kinh tế, ta lại thấy
một thực trạng về hoạt động của doanh nghiệp Nhà nớc nh sau:
Những mặt tích cực.
- DNNN vẫn chi phối đợc những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh
tế, góp phần để kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, giữ tỷ trọng lớn trong
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 5
xuất khẩu, thu nộp ngân sách, hợp tác đầu t với nớc ngoài, đảm bảo đợc các
dịch vụ công ích, phục vụ tốt cho an ninh và quốc phòng của đất nớc. Năm
2003 DNNN đã đóng góp 38% tổng sản phẩm trong nớc, 60% tổng thu trong
nớc của Ngân sách Nhà nớc, 50% kim ngạch xuất khẩu của cả nớc.
- Số lợng doanh nghiệp 100% vốn Nhà nớc giảm từ 5655( năm 2000)
xuống còn 4492 , nhng năng lực sản xuất xét trên tổng thể vẫn tăng. Năm
2003, doanh thu của DNNN đạt 470000 tỷ đồng, tăng 10,5% so với năm 2002
và 11% so với năm 2001, nộp Ngân sách Nhà nớc 87000 tỷ đồng, tăng 10% so
với năm 2002 và 69% so với năm 2001.Lợi nhuận đạt 21000 tỷ đồng, tăng
10,5% so với năm 2002 và 32,2% so vơi năm 2001.
- DNNN đang dần dần thích ứng với nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đợc nâng cao, vốn đợc bảo toàn và
phát triển. Tổng số vốn Nhà nớc tại các doanh nghiệp tăng 17000 tỷ đồng so
với năm 2002.
- Nhiều DNNN đã tăng đợc khả năng cạnh tranh và khả năng hội nhập
quốc tế.
Tuy nhiên xét một cách toàn diện thì những thành tựu trên của DNNN
vẫn cha thể khắc phục đợc những tồn tại của chúng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh. Số lợng DNNN tính đến tháng 12 năm 2003 còn lại là 4492. Đây
là sự giảm đáng kể về số lợng DNNN, nhng con số này còn quá lớn so với
tổng số vốn mà hiện nay DNNN đang nắm giữ, so với nền kinh tế có tổng thu
nhập quốc dân khoảng 40 tỷ USD. Sự phát triển không bình thờng về lợng
cộng với những bất cập trong cơ chế quản lý đã dẫn DNNN tới một số hạn chế
sau đây:
Hạn chế của doanh nghiệp Nhà nớc ( tham khảo theo " CPH DNNN ,
những vấn đề lý luận và thực tiễn"- PGS.TS Lê Hồng Hạnh- NXB Chính trị
Quốc gia- 3/2004).
Thứ nhất; Hiệu quả sản xuất kinh doanh cha cao, cha tơng xứng với vị
trí và sự đầu t của Chính phủ và của Ngân sách Nhà nớc. Theo số liệu thống
kê của Bảng Báo cáo của Ban cán sự Đảng của Chính phủ năm 2003, tính đến
hết năm 2003 cả nớc có 4492 doanh nghiệp Nhà nớc với tổng số vốn là
189000 tỷ đồng. Trong số các DNNN hiện có77,2% là doanh nghiệp kinh
doanh có lãi song đó chỉ co 40% doanh nghiệp có mức lãi bằng hoặc cao hơn
lãi suất ngân hàng. NếuG tính đủ các chi phí, nợ thì tỷ lệ DNNN có lãi sẽ thấp
hơn. Năm 2003, tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn của DNNN chỉ đạt 7,34%, tốc
độ tăng bình quân trong 3 năm gần đây là 10% trong lúc đó khu vực doanh
nghiệp là 18%.
Thứ hai; doanh nghiệp Nhà nớc có qui mô nhỏ. Trong số 4492 DNNN
hiện có, số doanh nghiệp Nhà nớc có vốn dới 5 tỷ đồng chiếm 47% trong khi
đó chỉ có rất ít các doanh nghiệp có số vốn trên 100 tỷ đồng. Qui mô nhỏ bé
của doanh nghiệp Nhà nớc thể hiện ở cả trong tiêu chí về sử dụng lao động. Số
doanh nghiệp Nhà nớc có lao động dới 500 ngời chiếm trên 89%. Do qui mô
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 6
DNNN rất nhỏ nên khả năng đầu t mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ rất
hạn chế. Mực độ tự động hoá và tin học hoá trong sản xuất kinh doanh của
DNNN còn rất thấp. Nhìn chung, DNNN cha đủ sức tự mình đầu t để vơn tới
những công nghệ và kỹ thuật tiên tiến. Những hạn chế này dẫn đến tình trạng
hàng hoá của DNNN giá cao hơn hàng cùng loại, cùng chất lợng của các
doanh nghiệp khác, của hàng nhập khẩu tới 20-30%.
Thứ ba; DNNN lạc hậu về công nghệ sản xuất, về trình độ quản lý. Hơn
50% tài sản cố định của các DNNN đã sử dụng trên 20 năm, số mua sau năm
1990 chỉ chiếm 10%, trong đó chỉ có 3% số dây chuyền sản xuất đợc tự động
hoá, còn lại là ở trình độ thủ công và có trình độ cơ khí. Hiện tại có 38% tài
sản cố định chờ thanh lý.
Th t ; cơ cấu phân bổ cha hợp lý. Còn khá nhiều DNNN hoạt động trong
các lĩnh vực mà ở đó chúng khó có thể cạnh tranh đợc nh những dịch vụ thông
thờng. Bên cạnh đó có thể nhận thấy DNNN đợc phân bổ không hợp lý theo
ngành, theo địa phơng. Có những địa phơng, ngành nh TP. Hồ Chí Minh, Ha
Nội, Hải Phòng, ngành công nghiệp, thơng mại DNNN tập trung với số lợng
lớn trong lúc đó nhiều địa phơng, nhất là cấp huyện thành lập rất nhiều
DNNN không phù hợp với tình hình kinh tế xã hội và bất chấp nhu cầu
thực tế của địa phơng. Ví dụ, nhiều huyện thành lập công ty chế biến thuỷ sản
song ở đó không có tiềm năng nuôi trồng thủy, hải sản.
Thứ năm, cơ chế quản lý nhà nớc đối với DNNN cũng nh cơ chế quản lý
trogn bản thân doanh nghiệp cồng kềnh và thiếu hiệu quả.Quản lý vĩ mô đối
với DNNN cha hiệu quả, cha theo kịp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế,
của việc nâng cao hiệu quả của DNNN, chế độ chủ quản đối với DNNN, chế
độ quản lý chức năng đối với doanh nghiệp Nhà nớc rất nhiều tầng cấp khiến
chúng bị ràng buộc bởi quá nhiều yêu cầu và đòi hỏi khác. Trong lúc đó, lợi
ích của ngời lao động trong DNNN cha trở thành động lực thúc đẩy họ lao
động tốt hơn, gắn với DNNN một cách chặt chẽ hơn.
Thứ sáu, Nh là hệ quả của những điểm yếu trên, DNNN ít có khả năng
cạnh tranh trên thị trờng. Trong bối cảnh đất nớc ta đang chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế, tham gia nhiều hơn vào các khu vực mậu dịch tự do hoặc các
hiệp định thơng mại song phơng, đa phơng, tính cạnh tranh thấp của DNNN sẽ
là một thách thức sống còn đối với nền kinh tế nớc ta.
Trên đây là thực trạng hoạt động của các DNNN nói chung. Vậy còn các
Tổng công ty Nhà nớc( TCTy Nhà nớc) thì sao? Một câu hỏi đặt ra là liệu
TCTy Nhà nớc có hoạt động hiệu quả không?
Tổng công ty nhà nớc có hai dạng là Tổng công ty Nhà nớc 90, và Tổng
công ty Nhà nớc 91.
- TCTy Nhà nớc 90 là TCTy Nhà nớc đợc thành lập theo Quyết định
90/TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994 của Chính phủ.
- Tổng công ty Nhà nớc 91 là Tổng công ty Nhà nớc đợc thành lập theo
Quyết định số 91/TTg ngày 7 tháng 3 năm 1994 của Chính phủ.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 7
Hai loại hình TCTy này thành lập theo các quyết định nêu trên nhng khác
nhau về mức vốn pháp định và số lợng thành viên.
Thực trạng hoạt động của TCTy Nhà n ớc ( Tham khảo sách " CPH
DNNN một số vấn đề lý luận và thực tiễn"- PGS. TS. Lê Hồng Hạnh- NXB
Chính trị quốc gia. Tháng 3/2004).
Các TCTy 91-90 đã hoạt động trong nền kinh tế nớc ta đợc 10 năm. Với
tròn một thập kỷ tồn tại mô hình TCTy Nhà nớc khắc phục đợc nhiều hạn chế
của liên kết kinh tế dới hình thức liên hợp xí nghiệp trong thời kỳ trớc năm
1994 và thu đợc một số thành tựu nhất định. Việc phân tích những thành công
và hạn chế của mô hình TCTy Nhà nớc có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiến
trình cải cách DNNN mà Cổ phần hoá(CPH) là một trong những giải pháp chủ
yếu và thích hợp nhất đối với nền kinh tế nớc ta hiện tại.
- Một số thành tựu đạt đợc và u thế của mô hình TCTy Nhà nớc.
+ Các TCTy hầu hết thành lập trong các lĩnh vực kinh tế và đào tạo ra đợc
những DNNN mạnh, có khả năng phát triển tốt hơn. Tính đến thời điểm hiện
nay, với 17 TCTy 91 và 79 TCTy 90, trong nền kinh tế nớc ta đã có những
Doanh nghiệp tầm cỡ. Tổng mức vốn của các TCTy 91 năm 1999 do Nhà nớc
đầu t là 51.208.600 triệu đồng, tổng mức vốn các TCTy bổ sung là 14.914.290
triệu đồng,tổng các nguồn khác là 19.411.819 triệu đồng. Bình quân mỗi
TCTy 91 có mức vốn 8.031.453 triệu đồng. Với mức vốn này các TCTy 91 có
thể tự mình đảm nhiệm việc đầu t các công trình lớn một cách chủ động mà
không chờ tới vốn đầu t từ ngân sách Nhà nớc. Nh vậy, ở hầu hết các ngành
chủ yếu của nền kinh tế Quốc dân đều có những DNNN có tầm cỡ trấn giữ.
+ Các TCTy Nhà nớc đã đảm bảo đợc cho nền kinh tế quốc dân(KTQD)
những sản phẩm chủ yếu, đảm bảo sự ổn định của chúng. Những đóng góp
của các TCTy điện lực, TCTy xi măng, TCTy hàng không, TCTy thép trong
lĩnh vực cân đối các sản phẩm này là không thể phủ nhận.
+ Đóng góp lớn cho Ngân sách là thành công đáng kể của các TCTy.
Năm 2003, bấp chấp những khó khăn kinh tế do dùng phát dịch SARS gây ra,
các TCTy 91 vẫn đạt doanh thu ở mức 202.652 tỷ đồng, nộp ngân sách đạt
36.916.5 tỷ đồng.
+ Các TCTy kinh doanh có hiệu quả và tiếp tục giữ vững vai trò chi phối
ở các ngành then chốt của nền KTQD. Sản xuất kinh doanh ở nhiều công ty
tăng khă ổn định trong những năm 1998- 2000. Ví dụ, TCTy điện năm 1999
có mức tăng sản xuất là 10,5% so với năm 1998, còn năm 2000 thì mức tăng
14% so với năm 1999. Trong năm 2003, tỷ suất lợi nhuận trớc thuế trên vốn
đầu t của các TCTy 91 đạt 14,21%, cao hơn 3,45% so với toàn bộ khu vực
doanh nghiệp Nhà nớc. Tính đến thời điểm 2003, có 16/8 TCTy 91 và 48/68
TCTy 90 là có khả năng hội nhập kinh tế.
+ Những liên kết về sản xuất, công nghệ và tiêu thụ sản phẩm đã cho
phép các TCTy tạo ra đợc sức mạnh tổng hợp để phát triển và hiện đại hoá cở
sở vật chất của mỗi thành viên, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 8
+ Hoạt độg của TCTy đã cho thấy tác động to lớn của liên kết kinh tế
trong điều kiện kinh tế thị trờng(KTTT). Đây là cơ sở thựu tiễn quan trọng để
tiến hành việc sắp xếp, đổi mới DNNN theo hớng tiếp cận tốt hơn cơ chế
KTTT.
Bên cạnh những thành tựu và u điểm ra các TCTy Nhà nớc cũng có
những mặt hạn chế nh:
+ Tuy đã đợc liên kết lại song các TCTy, đặc biệt là TCTy 90 vẫn còn là
những Doanh nghiệp có quy mô còn khá khiêm tốn so với quy mô của tập
đoàn kinh tế ở các nớc trong khu vực Đông Nam A, cha nói đễn những tập
đoàn của Mỹ, Nhật Bản, EU và Hàn Quốc. Các TCTy 90 có vốn trên 500 tỷ
đồng chỉ chiếm 13%; các TCTy có mức vốn dới 100 tỷ chiếm tỷ lệ khá 35%
trong số đó có nhiều công ty có mức vốn dới 50 tỷ. Các TCTy 91 có tình trạng
khá hơn song nhìn chung vẫn còn thấp . Nhiều TCTy 91 có mức vốn xấp xỉ
mức vốn pháp định 1000 tỷ đồng áp dụng đối với loại hình TCTy này.
+ Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các TCTy có cao hơn so
với toàn bộ khu vực DNNN song cha xứng đáng với mức đầu t và những u đãi
mà Nhà nớc dành cho. Đặc biệt nhiều TCTy đợc kinh doanh với vị thế độc
quyền và vị thế sản phẩm, dịch vụ mà các TCTy này đa ra không phù hợp với
quy luật của thị trờng. Ngời tiêu thụ buộc phải chấp nhận chúng vì không thể
tìm đâu ra đợc những sản phẩm này ở các nhà cung cấp khác. Chính vì lý do
này,sự tồn tại của một số công ty không tạo đợc môi trờng cạnh tranh lành
mạnh cho nền kinh tế.
+Nhiều công ty chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nớc, cha chủ động tháo gỡ
khó khăn, vợt lên để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, tăng năng lực cạnh
tranh. Chính vì vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các TCTy này còn rất
hạn chế. Điều này thể hiện ở khả năng cạnh tranh trên thị trờng Quốc tế qua
kim ngạch xuất khẩu của các TCTy 91. Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của
các TCTy 91 là 345 tỷ đô la Mỹ, còn 322 tỷ đô la Mỹ thuộc về TCTy dầu khí.
+ Việc thành lập các TCTy Nhà nớc ngoài mục đích hình thành các tập
đoàn kinh tế mạnh còn theo đuổi mục đích cải cách hệ thống bộ máy quản lý
Nhà nớc về kinh tế, xoá bỏ chế độ chủ quản. Thế nhng, trong thực tế chế độ
chủ quản vẫn tồn tại, vẫn can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh
của DNNN và bản thân các TCTy. Thêm vào đó, do bản thân cơ chế quản lý
trong nội bộ của TCTy, mối quan hệ giữa TCTy với các đơn vị thành viên và
với cơ quan chủ quản, chủ yếu mang nặng tính hành chính, cha dựa vào yếu tô
sở hữu vốn, cơ chế quản lý TC cha rõ ràng gây trở ngại cho các doanh nghiệp
thành viên thực hiện quyền tự chủ kinh doanh với t cách là pháp nhân kinh tế
độc lập. Thực tế này đã biến nhiều tổng công ty thành khâu quản lý trung gian
hơn là một liên kết kinh tế .
Trên cơ sở phân tích trực trạng hoạt động của doanh nghiệp nói chung và
của tổng công ty nhà nớc nói riêng chúng ta có thể thấy một số nguyên nhân
chủ yếu sau :
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 9
Thứ nhất: Cơ cấu tổng công ty không hiệu quả: Vì Giám đốc DNNN
không đợc toàn quyền quyết định. Kết quả là họ mất quá nhiều thời gian trong
việc xin phép các cơ quan hành chính cấp trên đối với những vấn đề có tính
chất thờng nhật.
Thứ hai: ít chú trọng đến công tác tiếp thị ( marketing).
- Hoạt động bán hàng và tiếp thị cần đợc u tiên cao hơn trong môi trờng
kinh tế thị trờng cạnh tranh.
- Nhiều phòng tiếp thị thiếu cơ chế khuyến khích, động lực cần thiết,
thiếu tính năng động và cán bộ có trình độ.
Thứ ba: Kỹ năng quản lý còn yếu kém
Thứ t : Hệ thống thông tin quản lý cha phát triển và cha đáp ứng đợc yêu
cầu, công nghệ thông tin còn ở giai đoạn đầu, công nghệ lạc hậu, lao động thì
dôi d, không phát huy đợc lợi thế kinh tế theo quy mô.
Thứ năm: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ( ROE) trung bình của
các DNNN đợc kiểm toán chuẩn đoán là 8,6% năm 2001.
- ROE của các công ty niêm yết trên thị trờng chứng khoán Trung Quốc
là 12%.
- ROE của các công ty niêm yết trên thị trờng chứng khoán ấn Độ là
24%.
ở đây muốn nói là các DNNN có tiềm năng đạt đợc mức lợi nhuận cao
hơn, nhng không thể vì do nhiều nguyên nhân từ mặt thể chế. nhng một
nguyên nhân chính là thiếu sự khuyến khích, động viên công bằng trong lao
động, phù hợp với mục tiêu kinh doanh thực tế.
Thứ sáu: là cơ cấu tổng Công ty không hiệu quả
- Vai trò và trách nhiệm của chủ sở hữu và ngời quản lý không đợc rõ
ràng.
- Không có một cơ quan nào chịu trách nhiệm về hoạt động cuối cùng
trách nhiệm của Doanh nghiệp.
- Những mục tiêu xung đột tiềm ẩn nảy sinh do TCTy và các doanh
nghiệp thành viên không thể hoạt động độc lập mà không chịu sự can thiệp về
chính trị.
- Nhà nớc có thể giao những mục tiêu phi thơng mại cho các DNNN;
điều này có thể làm giảm hiệu quả hoạt động của DNNN( Suy giảm tỷ suất lợi
nhuận nh ROE & ROA) tạo cho lãnh đạo DNNN lý do hợp lý để biện hộ cho
hoạt động kém hiệu quả của mình.
Trên đây là một số thực trạng và một số nguyên nhân của việc hoạt động
kém hiệu quả của DNNN. Hoạt động kém hiệu quả của DNNN có nhiều nhng
một trong những nguyên nhân nổi bật đó là cơ cấu doanh nghiệp Nhà nớc cha
thực sự hiệu quả và hợp lý. Trớc tình hình đó ban chỉ đạo sắp xếp đổi mới
DNNN có những giải pháp cải cách cơ chế hành chính Nhà nớc, cải cách cơ
cấu của doanh nghiệp và đợc gọi là sự chuyển đổi sở hữu trong DNNN. Vậy
phơng thức chuyển đổi nh thế nào?
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 10
5. Phơng thức chuyển đổi (Tham khảo theo bài:" DNNN Những vấn đề lý
luận cần đợc nhận thức đúng"- PGS.TS Lê Hồng Hạnh- Tạp chí luật học
số 1/2003)
Cải cách DNNN từ lâu là môi quan tâm của Đảng và Nhà nớc ta. Đã có
nhiều giải pháp cải cách đợc thực hiện. Trong thời gian từ năm 1960 đến năm
1990 tức là đến thời điểm CPH, Đảng và Nhà nớc ta đã triển khai nhiều biện
pháp nhằm cải tiến quản lý xí nghiệp quốc doanh( DNNN theo tên gọi lúc đó).
Những giải pháp cải cách tơng đối có giá trị đội phá đợc quy định trong Quyết
định số 217/HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1987 của Hội đồng Bộ trởng. Nếu
tính về số lợng các văn bản đợc ban hành, vấn đề đổi mới DNNN chiếm vị trí
hàng đầu trong hệ thống chính sách và pháp luật ở nớc ta. Nghị quyết của tất
cả các Đại hội Đảng toàn quốc kể từ năm 1986 trở lại đây đều đa ra các phơng
hớng và giải pháp sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả của DNNN đặc biệt
là Nghị quyết Hội nghị TW hai( khoá VII), Hội nghị TW6( khoá VIII), Nghị
quyết hội nghị TW9( khoá IX) về CPH DNNN. Các văn bản pháp luật về
DNNN. Các văn bản pháp luật về DNNN cũng đợc ban hành với số lợng lớn
nhằm giải quyết kịp thời các vấn đề pháp lý nảy sinh trong quá trình sắp xếp,
đổi mới DNNN, nhất là trong quá trình CPH. Đặc biệt cần phải kể đến các
Quyết định số 143- HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990; chỉ thị số 84/TTg ngày
4 tháng 3 năm 1993; Nghị định số 28/CP ngày 7 tháng 5 năm 196; Nghị định
số 44/1998/NĐ- CP, Nghị định số 64/2002/NĐ- CP.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy các giải pháp cải cách DNNN đợc thực hiện
trong thời gian trớc năm 1990 ít mang lại hiệu quả. Vai trò, hiệu quả của
DNNN hầu nh không đợc cải thiện. Tình trạng kém hiệu quả, thua lỗ, tình
trạng lãng phí tài sản vẫn là những căn bệnh cố hữu của DNNN ở nớc ta.
Nhiều DNNN đã trở thành bình phong cho những hoạt động kinh tế phi pháp,
trốn thuế, lậu thuế, buôn lậu. Có khá nhiều ý kiến khác nhau về những kết quả
hạn chế của các biện pháp cải cách DNNN đã thực hiện trớc đây. Tuy nhiên,
điều có thể nhận thấy dễ dàng và đợc thừa nhận khá rộng rãi là DNNN trong
thực tế không có chủ nhân thực sự. Nhà nớc cũng là thực thể trừu tợng, Bộ chủ
quản, Uỷ ban nhân dân chủ quản cũng vậy. Cho dù đợc giao quản lý các
DNNN, lợi ích của những cơ quan này không gắn liền với DNNN. Các cơ
quan này vẫn tồn tại, cán bộ, viên chức trong đó vẫn hởng lơng ngay khi các
DNNN thua lỗ. Tơng tự, cán bộ, công nhân viên trong DNNN cũng ít quan
tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN nơi mình đang làm việc.
Lý do đơn giản là họ vẫn có lơng ngay khi DNNN đang bên bờ phá sản. Rõ
ràng, vấn đề lợi ích, đặc biệt là lợi ích sở hữu trong DNNN chính là cội nguồn
của những căn bệnh mà chúng gặp phải.
Cải cách DNNN có thể tiến hành bằng nhiều cách khác nhau. Có những
cách mà nếu thực hiện sẽ dẫn đến sự xoá sổ DNNN nh giải pháp bán DNNN
hay nói cách khác là giải pháp t nhân hoá. Có giải pháp chỉ động chạm đến cơ
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 11
chế quản lý DNNN, tức là tăng cờng hay giảm bớt quyền chủ động sản xuất
kinh doanh của chúng trong từng lĩnh vực cụ thể. Có thể mô phỏng các giải
pháp cải cách DNNN theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1:
Trong đó:
- Bán doanh nghiệp là hành vi của chủ doanh nghiệp chuyển nhợng toàn
bộ doanh nghiệp của mình sang sở hữu của cá nhân hay tổ chức khac. Khi
chuyển nhợng đợc tổ chức xong thì chủ doanh nghiệp cũ không còn nghĩa vụ
và trách nhiệm gì đối với hoạt động của doanh nghiệp. Vì lý do đó,việc bán
doanh nghiệp không đợc coi là hình thức của CPH. Bán doanh nghiệp và sáp
nhập doanh nghiệp( Acquisition and merger) là những giao dịch khá phổ biến
ở các nớc có nền KTTT. Việc bán doanh nghiệp khác với CPH là nó dẫn tới sự
xuất hiện các chủ sở hữu mới đối với doanh nghiệp đợc bán. Bản thân doanh
nghiệp bị bán vẫn có thể tồn tại dới hình thức cũ sau khi đợc bán. Ngợc lại,
CPH lại làm thay đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp. Vì vậy, những hình
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 12
Cải cách
DNNN
Bán DNNN
Cho thuê DNNN
CPH DNNN
Cải cách cơ chế
QLDN
Bán toàn bộ
Bán một phần
Cho thuê toàn bộ
Cho thuê một phần
thức bán doanh nghiệp quy định ở điều 7, Nghị định số 44/CP nếu không làm
rõ nội dung sẽ dẫn tới sự hiểu sai về bản chất của CPH.
- Thuê doanh nghiệp: Là việc chủ doanh nghiệp cho cá nhân hay tổ chức
khác sử dụng t cách pháp lý và tài sản của doanh nghiệp để kinh doanh. Toàn
bộ giao dịch của ngời thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp cho thuê. Sự tham
gia của ngời thuê trong hoạt động của doanh nghiệp đợc cho thuê không hề
tạo ra quyền sở hữu của ngời thuê đối với bất cứ tài sản nào của doanh nghiệp
này. Việc cho thuê doanh nghiệp không thể đợc coi là hình thức của CPH.
- Cải cách cơ chế quản lý DNNN: Có thể hiểu là việc chuyển TCTy Nhà
nớc thành công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nớc một thành viên hoặc TCTy
Trách nhiệm hữu hạn Nhà nớc có từ hai thành viên trở lên; chuyển TCTy do
Nhà nớc quyết định đầu t và thành lập TCTy do các công ty tự đầu t và thành
lập.
Tóm lại,có rất nhiều biện pháp để cải cách DNNN. Tuy nhiên trên thực tế
tình hình phát triển kinh tế xã hội của nớc ta trong những thập kỷ vừa qua
cho thấy CPH là giải pháp phù hợp với nền kinh tế nớc ta trong giai đoạn phát
triển hiện nay. Vậy CPH DNNN là gì?
5.1. CPH là gì?
CPH TCTy Nhà nớc là việc chuyển công ty Nhà nớc thành công ty cổ
phần nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại
hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có cổ đông là đông đảo ngời
lao động; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh
nghiệp dể sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nớc và của doanh nghiệp;
Huy động nguồn vốn của toàn xã hội, bao gồm: cá nhân, các tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, phát triển
doanh nghiệp, phát huy vai trò làm chủ thực sự của ngời lao động, các cổ
đông; Tăng cờng giám sát của nhà đầu t đối với doanh nghiệp; Đảm bảo hài
hoà lợi ích của Nhà nớc, doanh nghiệp, nhà đầu t, ngời lao động.
Để hiểu rõ hơn về CPH, cần phải nhận thức đợc bản chất chính trị và bản
chất pháp lý của CPH. Tác động to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nớc ta, làm rõ nội dung các phạm trù có liên quan đến các giải
pháp cải cách DNNN đợc mô phỏng ở sơ đồ 1.
Xét ở khía cạnh chính trị: CPH DNNN không nhằm mục tiêu t nhân hoá
nền kinh tế mặc dù trong CPH có chứa đựng yếu tố t nhân hoá. CPH là giải
pháp nhằm làm cho sở hữu trong DNNN từ ảo đến thực, chuyển từ sự kiểm
soát bằng chế độ quan liêu sang tự kiểm soát thông qua lợi ích của các chủ
sở hữu thực. Khác với làn sóng t nhân hoá ở các nền kinh tế chuyển đổi ở
Đông Âu đang chuyển các DNNN từ chỗ sở hữu chung của xã hội sang sở hữu
cá nhân, CPH DNNN ở Việt Nam nhằm thu hút sự tham giàm làm chủ thực sự
chủ ngời lao động vào DNNN thông qua việc để họ sở hữu một phần vốn
trong DNNN, biến họ từ ngời lao động thuần tuý thành ngời lao động có
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 13
sở hữu vốn của doanh nghiệp. Giải pháp này đã làm cho doanh nghiệp thêm
những chủ nhân thực sự bên cạnh chủ nhân trừu tợng là Nhà nớc. Rõ ràng yếu
tố đa sở hữu trong các DNNN đã làm cho cải cách DNNN trở nên triệt để hơn
so với các cuộc cải cách trớc đó.
Xét về mặt pháp lý, CPH là việc biến Doanh nghiệp một chủ thành
Doanh nghiệp nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở
hữu chung thông qua việc chuyển dần một phần tài sản của Doanh nghiệp cho
những ngời khác. Những ngời này trở thành sở hữu chủ của Doanh nghiệp
theo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong doanh nghiệp CPH. Xét ở góc độ này thì
CPH dẫn tới sự xuất hiện không chỉ công ty Cổ phần trên nền tảng của Doanh
nghiệp đợc CPH. Bản chất của CPH nêu trên đây không phải lúc nào cũng đợc
hiểu đúng trong thực tiễn xây dựng và thực hiện pháp luật về CPH. Có quan
điểm đồng nhất CPH với t nhân hoá hay có quan điểm cho rằng CPH chỉ liên
quan đến DNNN.Với t cách là sự kiện pháp lý của việc chuyển đổi hình thức
sở hữu của Doanh nghiệp. CPH có thể áp dụng với bất cứ loại hình doanh
nghiệp nào thuộc sở hữu của một chủ duy nhất. Vì vậy, doanh nghiệp t
nhân(DNTN), Doanh nghiệp 100% vốn của một nhà đầu t nớc ngoài đều có
thể trở thành đối tợng của CPH. Hai loại hình Doanh nghiệp này đều có thể trở
thành đối tợng của CPH.
5.2. Vai trò của CPH.
CPH có vai trò to lớn trong việc cải cách DNNN nhất là ở những nền
kinh tế chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền KTTT. Tác dụng
của CPH thể hiện ở một số khía cạnh sau:
- CPH đã tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, bao gồm
Nhà nớc, ngời lao động trong Doanh nghiệp, cổ đông ngoài Doanh nghiệp,
trong đó ngời lao động trong Doanh nghiệp trở thành ngời chủ thực sự phần
vốn góp của mình trong Công ty Cổ phần. Chính điều này đã nói lên đợc rằng
CPH là một giải pháp giải quyết khá triệt để vấn đề sở hữu trong DNNN.
- CPH đã trở thành giải pháp cơ bản và quan trọng nhất trong cơ cấu lại
DNNN có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực
then chốt của nền kinh tế.
Trớc đây khi cha CPH thì vẫn tồn tại một số DNNN làm ăn cha thực sự
hiệu quả, quy mô còn nhỏ lẻ, khi tiến hành CPH, nhờ vào điều kiện của
DNNN đợc chấp nhận là Công ty Cổ phần nên đã loại trừ một số Doanh
nghiệp không đủ điều kiện, và trớc đây cơ cấu DNNN cha thực sự hiệu quả,
cha thực sự hợp lý thì nay nhờ CPH mà cơ cấu này đã khắc phục đợc những
mặt hạn chế. Từ chỗ DNNN rất phân tán, dàn trải trong tất cả các ngành, lĩnh
vực nay đã tập trung vào 39 ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Sỏ dĩ
đạt đợc một cơ cấu hợp lý vì:
+ CPH đã làm quy mô vốn của DNNN tăng lên đáng kể.
Hoàng Thị Hằng - QLKT 43B 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét