LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nhân sinh quan phật giáo và sự thể hiện của nó ở một số tín đồ đạo phật hiện nay": http://123doc.vn/document/1055434-nhan-sinh-quan-phat-giao-va-su-the-hien-cua-no-o-mot-so-tin-do-dao-phat-hien-nay.htm
Chương 1
QUAN NIỆM CỦA PHẬT GIÁO (NGUYÊN THỦY)
VỀ NHÂN SINH
Phật giáo là một hệ thống triết học - tôn giáo. Nếu như các trường
phái triết học Hy Lạp cổ đại như Milê, Êlê chủ yếu bàn về những vấn đề
thế giới quan, bản thể luận như đi tìm bản nguyên của thế giới, bản chất của
thế giới, trạng thái của thế giới, Còn những vấn đề về con người họ lại
bàn tương đối ít thì trái lại, ở Phật giáo, bên cạnh những tư tưởng, quan
niệm về thế giới, vấn đề nhân sinh quan không chỉ được đặt ra ngay từ đầu
mà còn là nội dung tư tưởng chủ yếu bao trùm lên toàn bộ hệ thống. Đặc
điểm này của đạo Phật bị chi phối bởi chính hoàn cảnh lịch sử của đất nước
Ấn Độ cổ đại - nơi đã sản sinh ra đạo Phật.
1.1. HOÀN CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI, VĂN HÓA - TƯ TƯỞNG CỦA
SỰ HÌNH THÀNH NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO
- Về điều kiện kinh tế - xã hội: Từ thế kỷ VI (trước Công nguyên)
đến thế kỷ I (sau Công nguyên), chế độ chiếm hữu nô lệ mang tính chất gia
trưởng kiểu phương Đông đã khá phát triển ở Ấn Độ. Do việc mở mang các
công trình thuỷ lợi, sản xuất nông nghiệp phát triển. Thủ công nghiệp tách
hẳn khỏi nông nghiệp. Nhiều thành phố trở thành trung tâm thủ công
nghiệp và thương nghiệp quan trọng thời kỳ này như Benares, Sravasti
Nhiều con đường thương mại thuỷ bộ đã hình thành. Ấn Độ đã giao dịch
buôn bán khá rộng rãi với các nước trong vùng như Trung Quốc, Ả rập,
Trung Á Nhưng xã hội Ấn Độ vẫn bị bóp nghẹt bởi tính chất kiên cố của
tổ chức công xã nông thôn cùng với chế độ phân biệt màu da, chủng tính
khắc nghiệt.
5
Xã hội Ấn Độ lúc này được chia thành bốn đẳng cấp cách biệt:
1. Tăng lữ thuộc đẳng cấp Bàlamôn; 2. Vua chúa thuộc đẳng cấp Kshatiya;
3. Nông dân, thợ thủ công và thương nhân thuộc đẳng cấp Vaishya; 4. Nô
lệ thuộc đẳng cấp Shudra. Bàlamôn và vua chúa là giai cấp thống trị; nông
dân, thợ thủ công, thương nhân và nô lệ thuộc giai cấp bị trị. Bốn đẳng cấp
này theo chế độ thế tập, cha truyền con nối tạo thành một tổ chức xã hội bất
công.
- Về văn hóa - tư tưởng: Ấn Độ cổ đại là một đất nước có một nền
triết học phong phú hết sức bề thế xuất hiện từ rất sớm. Ngay từ thế kỷ XV
trước công nguyên đã xuất hiện bộ kinh điển Rg Vêđa. Đó là những bài ca
tán có tính chất thần thoại nhưng đã bao hàm nhiều tư tưởng về vũ trụ và
nhân sinh quan. Tiếp theo trong khoảng 1000-800 năm trước công nguyên
là thời đại Brahman. Đến thời kỳ 800-600 năm trước công nguyên là triết
học Upanishad. Upanishad là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của
kinh Vêđa. Xu hướng chính của Upanishad là nhằm biện hộ cho học thuyết
duy tâm tôn giáo, vốn có trong kinh Vêđa về cái gọi là "tinh thần sáng tạo
tối cao" sáng tạo ra thế giới này. Upanshad cho rằng thế giới vô ngã
Brahman hay "tinh thần vũ trụ tối cao" là thực thể duy nhất, tồn tại vĩnh
viễn, là cái từ đó nảy sinh ra và chi phối mọi cái tồn tại. Atman (tiểu ngã)
chỉ là một phần hiện thân của Brahman (đại ngã); linh hồn sống của con
người chỉ là sự biểu hiện của "tinh thần tối cao" trong cơ thể con người. Vì
vậy, linh hồn cá biệt về bản chất là đồng nhất với "linh hồn tối cao" cũng
tồn tại vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt. Trong Upanishad cũng đặt vấn đề là
chính do những ham muốn, dục vọng và những hành động của con người
nhằm thoả mãn những ham muốn trong đời sống trần gian đã gây những
hậu quả, gieo đau khổ cho kiếp này và cả những khiếp sau gọi là nghiệp
báo Karma. Do vậy linh hồn bất tử bị sự luân hồi nên không nhận ra và trở
về đồng nhất với chân bản của nó được. Muốn giải thoát linh hồn bất tử
khỏi sự chi phối của đời sống nhục dục, của thế giới hiện tượng cảm tính
6
như ảo ảnh thường biến, đạt tới sự đồng nhất với "tinh thần vũ trụ tối cao",
con người phải tu luyện hành động karma- yoga và tu luyện tri thức jâna-
yoga, nhận ra chân bản của mình.
Triết lý duy tâm tôn giáo của Upanishad giải thích căn nguyên của
thế giới bằng nguyên lý " tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối, bất diệt là cơ
sở cho những học thuyết triết học duy tâm sau này và đã đóng vai trò là cơ
sở lý luận cho đạo Bàlamôn ở Ấn Độ cổ đại. Kinh Upanishad đã đề cập đến
những vấn đề có ý nghĩa triết học thực sự như mối quan hệ giữa tinh thần
vũ trụ (Brahman) và linh hồn cá thể (Atman), Thuyết luân hồi, nghiệp,
nhân quả v.v
Tóm lại, thế giới quan thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo, chủ nghĩa
duy tâm trong thánh kinh Vêđa, kinh Upanishad và đạo Bàlamôn đã trở
thành hệ tư tưởng thống trị đời sống tinh thần của Ấn Độ cổ. Uy thế của nó
mạnh mẽ tới mức, tư tưởng triết lý duy tâm ấy được mệnh danh là tư tưởng
chính thống của Ấn Độ cổ và tất cả những môn phái triết học vô thần, duy
vật, chống lại uy thế của khinh Vêđa và triết lý tôn giáo Bàlamôn đều bị coi
là những tư tưởng triết học không chính thống. Sự thống trị khắc nghiệt về
xã hội, chính trị, tư tưởng trên đã làm nảy sinh những mâu thuẫn sâu sắc
trong đời sống xã hội và tất yếu dẫn đến sự phản kháng của quần chúng lao
động đòi hỏi một sự tự do, công bằng, bình đẳng xã hội. Đây chính là
những nhu cầu của hiện thực lịch sử làm xuất hiện các trường phái tư tưởng
mới ở Ấn Độ trong thời kỳ này. Đạo Phật xuất hiện chính trong bối cảnh
lịch sử trên với tư cách là một hệ tư tưởng phản đối chế độ phân biệt đẳng
cấp xã hội, phủ nhận uy thế của kinh Vêđa, chống giáo lý duy tâm hoang
đường của Bàlamôn giáo, bác bỏ uy quyền thần thánh và phương pháp tu
hành khổ hạnh, xây dựng niềm tin vào chính con người. Nó là sự khẳng
định một đạo lý, một đường hướng cứu khổ mới cho con người.
Theo các sử liệu ghi lại, người sáng lập ra Phật giáo là Thích-ca-
mâu-ni, có tên thật là Siddhartha (Tất-đạt-đa), họ là Gautama (Gô-ta-ma),
7
thái tử con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) dòng họ Sakya, có kinh đô là
thành Kapilavastu (Catylavê) ở phía Bắc Ấn Độ. Phật Thích ca sinh năm
563 (trước Công Nguyên). Năm 29 tuổi ông đã quyết định từ bỏ cuộc sống
vương giả để đi tu. Sau bảy năm liền tu luyện ông đã ngộ đạo và tìm ra con
đường giải thoát con người khỏi những nỗi khổ đè nặng trong đời sống xã
hội Ấn Độ cổ đại. Sau khi tìm ra con đường giải thoát, ông truyền bá những
tư tưởng của mình cho chúng sinh ở Ấn Độ và tìm các đệ tử lập ra các đoàn
thể Phật giáo. Ông mất năm 80 tuổi (năm 483 trước Công nguyên).
Tư tưởng triết lý Phật giáo ban đầu chỉ là truyền miệng, sau đó
được viết thành văn, thể hiện trong một khối lượng kinh điển rất lớn, gọi là
"Tam tạng " (Tripitaka) gồm ba bộ phận: 1. Tạng Kinh (Sutrapitaka) ghi
những lời Phật dạy về đạo Phật. 2. Tạng Luật (Vinaya pitaka) gồm các giới
luật của đạo Phật. 3. Tạng Luận (Adhidharma pitaka) gồm các bài kinh, các
tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả về sau
này.
Nơi sinh ra Phật giáo là Ấn Độ và Phật giáo là sản phẩm trực tiếp
của xã hội Ấn Độ cổ đại với những mâu thuẫn đẳng cấp gay gắt. Cho nên
ngay từ đầu, Phật giáo là tôn giáo của đại đa số những người đẳng cấp thấp
ở Ấn Độ, những người cần được an ủi về mặt tâm linh trước sự phân biệt
đẳng cấp khắc nghiệt. Chính vì vậy, Phật giáo đã quan tâm đến vấn đề nhân
sinh: quan niệm về con người và cuộc đời con người, vấn đề sướng, khổ,
vấn đề giải thoát
1.2. QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI
Đạo Phật ra đời khi mà xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ đã có một nền văn
minh phát triển rực rỡ, với một di sản tư tưởng và tôn giáo rất bề thế. Vì
vậy, để cho triết thuyết của mình có thể đứng vững trước thuyết tạo thần
8
của đạo Bàlamôn, Đức Phật đã xây dựng thuyết nhân duyên sinh làm nền
tảng cho học thuyết của mình
Kinh Phật nói rằng: "Nhất thiết pháp, nhân duyên sinh".
Với thuyết nhân duyên sinh, Phật muốn nói lên một định lý: mọi sự
vật, vạn pháp trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành; sự
vật, vạn pháp sẽ biến diệt khi nhân duyên tan rã.
Nhân là nguyên nhân, là năng lực tiềm ẩn của mọi sự hình thành,
biến đổi. Không có gì là không có nguyên nhân. Duyên là những quan hệ,
những điều kiện, những ảnh hưởng chung quanh giúp cho nhân phát khởi
hiện hành. Tất cả các hiện tượng đều nương nhau mà thành lập - Nói nương
nhau có nghĩa là sự vật tác động, kết hợp, chi phối, ảnh hưởng, đối đãi lẫn
nhau mà thành. Tất cả mọi hiện tượng đều có quan hệ mật thiết với nhau,
không một hiện tượng nào được thành lập, ngoài sự nương vào nhau, ngoài
sự liên hệ trực tiếp với nhau. Đó là nhân duyên.
Nói về thuyết nhân duyên, trong kinh "Phật Tự Thuyết" (tiểu bộ I
tr. 291) đã có câu:
Nhược thử hữu, tắc bỉ hữu,
Nhược thử sinh, tắc bỉ sinh,
Nhược thử vô, tắc bỉ vô,
Nhược thử diệt, tắc bỉ diệt.
Nghĩa là:
Cái này có thì cái kia có,
Cái này sinh thì cái kia sinh,
Cái này không thì cái kia không,
Cái này diệt thì cái kia diệt [3, 95]
∗
Kể từ đây: - Số thứ nhất l sà ố thứ tự của t i lià ệu tham khảo.
- Số thứ hai trở đi l sà ố trang t i lià ệu tham khảo.
9
Tất cả các pháp đều sinh diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết
với nhau, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập và trường tồn, nhất
thành bất biến.
Trong Kinh "Thủ Lăng Nghiêm "có đoạn viết:
Nhân duyên hòa hợp, hư vọng hữu sinh
Nhân duyên biệt ly, hư vọng danh diệt.
Cho nên sinh cũng chẳng thực sinh, mà diệt cũng chẳng thực diệt.
Khi nhân duyên hội họp thì nói là sinh, khi nhân duyên tan rã thì nói là diệt.
Trong kinh "Đại Bát Niết Bàn" có viết:
"Nhất thiết chư pháp, bản vô hữu tính, nhân duyên cố sinh, nhân
duyên cố diệt".
Nghĩa là:
Hết thảy mọi pháp,
Đều không có tự tính,
Vì nhân duyên mà sinh,
Vì nhân duyên mà diệt.
Ở một chương khác Phật lại nói:
Tòng duyên sinh cố,
Danh chi vi hữu,
Vô tự tính cố,
Danh chi vi vô [3, 96]
Có nghĩa là:
Tùy theo duyên mà hiện ra hình như có sinh, cho nên gọi là "có";
bởi không có tự tính, cho nên gọi là "không". Sự vật chỉ "có" một cách giả
10
tạo, một cách vô thường, nhân duyên hội họp thì sự vật là "có", nhân duyên
tan rã thì sự vật là "không".
Thế giới vũ trụ, vạn pháp, con người đều cấu thành bởi vô số nhân
và trùng trùng duyên khởi. Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên
hòa hợp chúng hiện hữu một cách giả hợp. Bởi thế tìm kiếm đến cùng
không thấy vạn pháp có "thủy" và xét đến muôn đời, muôn kiếp về sau
cũng không thấy vạn pháp có "chung".
Thuyết nhân duyên sinh cho chúng ta thấy chỉ có nhân và có duyên
chứ không thực có sự vật. Tất cả những pháp có mặt trên cuộc đời, thế gian
này từ thế giới của sự vật, hiện tượng cho đến thế giới bí ẩn của ý niệm sâu
xa đều do các nhân, các duyên tương tác lẫn nhau mà hình thành: do cái
này có mà cái kia mới có. Từ đó, Phật giáo cho rằng, sự vật không phải tự
nhiên mà có, cũng chẳng phải do một đấng thiêng liêng nào tạo ra mà mọi
sự vật sinh ra là đều có nguyên nhân của nó. Cái nguyên nhân một mình
cũng không tạo ra được sự vật mà phải có đủ duyên mới tạo ra quả được.
Quả sinh ra lại có thể nếu gặp đủ duyên, biến thành nhân, để rồi sinh ra quả
khác và lại thế nối tiếp nhau sinh sinh hóa hóa. Nhưng Phật nhấn mạnh:
Quả có thể khác nhân đã sinh ra nó, quả có thể hơn nhân nếu đủ duyên tốt.
Trái lại, quả có thể kém nhân nếu gặp duyên xấu. Sự vật là một chuỗi nhân
quả, ảnh hưởng lẫn nhau không bao giờ đứt quãng, không bao giờ ngừng.
Sự duyên khởi dây chuyền của một sự vật đối với tất cả sự vật, của tất cả sự
vật đối với một sự vật thì gọi là pháp giới trùng trùng duyên khởi. Đó là
thuyết nhân quả.
Giáo lý nhân duyên sinh của Phật giáo đưa đến hai hệ quả trực tiếp:
thuyết vô thường và thuyết vô ngã, chi phối nhân sinh quan Phật giáo.
Thuyết vô thường (Amicca) là một trong những thuyết cơ bản trong
giáo lý Phật, là một cơ sở lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống
của những con người tu dưỡng theo giáo lý Phật.
11
Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay đổi. Theo
thuyết vô thường chỉ ra các pháp (sự vật, hiện tượng, con người) luôn biến
dịch, không có gì là thường trụ, bất biến. Sự chuyển biến ra trong từng
sátna (Kshana) - sự chuyến biến rất nhanh trong thời gian hết sức ngắn,
ngắn hơn cả một cái nháy mắt, một hơi thở, một niệm, một sự chuyển biến
vừa khởi lên đã vụt chấm dứt. Sự chuyển biến này diễn ra nhanh chóng,
ngấm ngầm thường ta không nhận thức kịp mà kết quả là dẫn đến sự
chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ chuyển sang một trạng thái
mới. Do vậy, vạn vật vô tình trong vũ trụ đều tuân theo qui luật: Thành - trụ
- hoại - không. Mọi vật được cấu thành, trụ một thời gian, biến chuyển đi đến
diệt, hoại thành không.
Các sinh vật đều tuân theo qui luật: Sinh - trụ - dị - diệt.
Chung quanh ta, sự vật biến chuyển không ngừng. Theo luật vô
thường thì không phải khi vạn vật sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt
mới gọi là diệt, mà từng phút, từng giây, từng sátna, sự sống và sự chết đã
từng liên tiếp xảy ra.
Từ thuyết vô thường, Phật nói sang thuyết vô ngã (Anatta): Vô ngã
là không có cái Ta trường tồn vĩnh cửu. Theo nguyên lý duyên sinh, các sự
vật đều là các pháp duyên sinh. Tất cả sự vật (các pháp) có hình, có tướng
đều do những bộ phận hợp lại mà thành, đều là nhất hợp tướng, đều có thể
chia chẻ ra được. Tất cả sự vật đều đối đãi với nhau mà thành lập: Tâm đối
với cảnh, cảnh đối với thân, lớn đối với nhỏ, dài đối với ngắn, sống đối với
chết, có đối với không. Tất cả sự vật đều do đối đãi với nhau mà thành nên
đều vô ngã, đều không có tự tính: Thân vô ngã, tâm vô ngã, cảnh vô ngã.
Với nguyên lý cơ bản trên đây, Đức Phật trình bày những vấn đề về
nhân sinh: Con người từ đâu mà có? Con người được sinh ra như thế nào?
Cuộc đời con người ra sao? Con đường giải thoát cho con người ?
12
Khi trả lời cho câu hỏi "Con người do đâu mà sinh ra?" Phật xác
định con người là một chỉnh thể vũ trụ, là một tiểu vũ trụ, là kết quả của sự
kết hợp giữa danh và sắc. Nghĩa là con người có đầy đủ cả hai phần sinh lý
và tâm lý:
Cái ta sinh lý tức là thân (gọi là sắc uẩn).
Cái ta tâm lý tức là tâm (bao gồm thọ, tưởng, hành, thức).
Theo Kinh "Trung A Hàm", con người sinh lý chỉ là sự kết hợp của
bốn yếu tố vật chất, bốn đại là: địa, thủy, hỏa, phong. Các chất cứng, đặc,
lỏng, chất sinh ra nhiệt và những rung động như hơi thở ra, sự hút không
khí vào khi kết hợp lại tạo thành sắc thân con người (cái ta sinh lý). Khi
chúng tách rời nhau trở về thể của nó thì không còn gì ở lại để có thể gọi là
con người được nữa nên cái mà ta gọi là con người sinh lý chỉ là một giả
tướng, một nhất hợp tướng mà thôi.
Còn cái ta tâm lý là gì ?
Theo Đức Phật, cái ta tâm lý bao gồm thụ, tưởng, hành, thức. Khi
sắc thân con người được tạo thành thì lục căn (nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý)
tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) mà sinh ra lãnh thọ
(cảm giác). Sự cảm thụ đó sinh ra mọi ấn tượng, mọi cảm giác sướng, khổ,
buồn, vui (tưởng). Sau khi tiếp xúc với cảnh vật sẽ tạo nên sự thay đổi biến
chuyển của tâm niệm, sinh lòng ham muốn hay ghét giận (hành) và cuối
cùng là sự xuất hiện hiểu biết, phân biệt sự vật (ý thức). Đó chính là thụ
uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Như vậy, mọi cảm giác nhận thức và
suy tưởng - tóm lại là những hoạt động tinh thần của con người, đều phụ
thuộc vào các giác quan và bộ não. Mọi sự hoạt động tinh thần, mà không
có giác quan, nhất là không có bộ não thì không thể có được.
13
"Thân thể người ta ví như một đám tro hồng nóng bỏng, mà cái lò
lửa làm tro nóng chính là tinh thần người ta. Cái tinh thần sẽ bị hủy đi khi cái
thân ta bị hủy, cũng như ánh sáng của cây nến bị tắt khi cây nến hết" [3, 81].
Như vậy, Đức Phật cho rằng con người bao gồm có hai phần vật
chất và tinh thần kết hợp với nhau. Nhưng con người không phải tự nhiên
mà sinh ra. Con người là một pháp duyên sinh, con người sinh ra là do
nhân duyên hòa hợp và thức chuyển biến mà thành. Phật phân tích có mười
hai nhân duyên là: Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên
Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên
Thụ, Thụ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh
duyên Lão, Tử. Các yếu tố vật chất khi hội đủ nhân và có duyên cần thiết
sẽ hợp thành những thực thể hữu hình (thân xác con người) gọi là "sắc" và
có "tâm" (ý thức) thì con người sống, hoạt động (tồn tại). Theo kinh "Đại
Trương Duyên" nếu không có thức thì thân ngũ uẩn không thể hình thành.
Mặt khác khi nhân duyên tan rã thì con người cũng không còn (chết đi). Sự
tồn tại hữu hình của con người có ý thức chỉ là tạm thời (sắc sắc - không
không) trong vòng luân chuyển liên tục của vô số nhân và trùng trùng
duyên khởi.
Với cách lập luận trên, đạo Phật đã chứng minh con người sinh ra là
do nhân và duyên, không có một đấng tối thượng siêu nhiên nào tạo ra con
người, cũng như con người không phải tự nhiên mà sinh ra. Con người sinh
ra là do nhân duyên, nhân duyên hòa hợp thì con người sinh, nhân duyên tan
rã thì con người diệt. Có thể nói yếu tố vô thần của đạo Phật thể hiện ở đây.
Khi trả lời câu hỏi: "Con người chết rồi đi đâu?", Đức Phật chỉ rõ:
Con người là một pháp duyên sinh, là sự kết hợp động của ngũ uẩn. Vì vậy
khi con người chết (ngũ uẩn tan rã) thì không còn cả thể xác lẫn linh hồn.
Phật đã phủ nhận tư tưởng kinh Upanishad cho rằng có một linh hồn bất tử
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét