LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Đề tài Xử lý nước thải sinh hoạt từ nhà hàng khách sạn công suất 350 m3 / ngày đêm pptx": http://123doc.vn/document/1050319-tai-lieu-de-tai-xu-ly-nuoc-thai-sinh-hoat-tu-nha-hang-khach-san-cong-suat-350-m3-ngay-dem-pptx.htm
đồng dân cư như: khu vực đô thị, trung tâm thương mại, khu vực vui chơi giải trí, cơ quan
công sở,…
Nước thải sinh hoạt thường được thải ra sông, suối, ao, hồ,… dẫn đến việc gây ô
nhiễm nguồn nước. Các thành phần ô nhiễm chính đặc trưng thường thấy ở nước thải sinh
hoạt là BOD
5
, COD, Nitơ và Phốt pho.
Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mạn
tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng.
Một yếu tố gây ô nhiễm quan trọng trong nước thải sinh hoạt đó là các loại mầm bệnh được
lây truyền bởi các vi sinh vật có trong phân. Vi sinh vật gây bệnh cho người bao gồm các
nhóm chính là virus, vi khuẩn, nguyên sinh bào và giun sán.
a. Thành phần của nước thải sinh hoạt
Thành phần của nước thải sinh hoạt gồm 2 loại:
- Nước thải do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh.
- Nước thải do các chất thải sinh hoạt như cặn bã từ nhà bếp, các chất rửa trôi, kể cả
làm vệ sinh sàn nhà.
Nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học, ngoài ra còn có cả các
thành phần vô cơ, vi sinh vật và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm. Chất hữu cơ chứa trong nước thải
bao gồm các hợp chất như protein (40-50%); hydrat cacbon (40-50%). Nồng độ chất hữu cơ trong
nước thải sinh hoạt dao động trong khoảng 150-450mg/l theo trọng lượng khô. Có khoảng 20-40%
chất hữu cơ khó bị phân huỷ sinh học. Ơ những khu dân cư đông đúc, điều kiện vệ sinh thấp kém,
nước thải sinh hoạt không được xử lý thích đáng là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng.
GVHD: Đào Minh Trung 5
Bảng 1.2 Khối lượng chất bẩn có trong nước thải sinh hoạt, g/người/ngày
Thành phần Cặn lắng Chất rắn không lắn Chất hòa tan TC
Hữu cơ 30 10 50 90
Vô cơ 10 5 75 90
Tổng cộng 40 10 125 180
b. Đặc trưng của nước thải sinh hoạt
+ COD, BOD: sự khoáng hóa, ổn định chất hữu cơ tiêu thụ một lượng lớn và gây
thiếu hụt oxy của nguồn tiếp nhận dẫn đến ảnh hưởng đến hệ sinh thái môi trường nước. Nếu
ô nhiễm quá mức, điều kiện yếm khí có thể hình thành. Trong quá trình phân huỷ yếm khí
sinh ra các sản phẩm như H
2
S,NH
3
,CH
4
, làm cho nước có mùi hôi thúi và làm giảm pH của
môi trường.
+ SS: lắng đọng ở nguồn tiếp nhận, gây điều kiện yếm khí.
+ Nhiệt độ: nhiệt độ của nước thải sinh hoạt thường không ảnh hưởng đến đời sống
của thuỷ sinh vật nước.
+ Vi trùng gây bệnh: gây ra các bệnh lan truyền bằng đường nước như tiêu chảy, ngộ
độc thức ăn, vàng da,…
+ Nitơ, Photpho: đây là những nguyên tố dinh dưỡng đa lượng. Nếu nồng độ trong
nước quá cao dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hoá ( sự phát triển bùng phát của các loại tảo,
làm cho nồng độ oxy trong nước rất thấp vào ban đêm gây ngạt thở và ảnh hưởng đến sự
sống của các sinh vật, trong khi đó vào ban ngày nồng độ oxy rất cao do quá trình hô hấp
của tảo thải ra ).
+ Màu: mất mỹ quan.
+ Dầu mỡ: gây mùi, ngăn cản khuếch tán oxy trên bề mặt.
1.2.2 Nước thải sinh hoạt nhà hàng, khách sạn
GVHD: Đào Minh Trung 6
Nguồn nước thải của khách sạn chỉ tập trung vào một số nguồn chính:
- Nước thải nhà bếp: nước rửa thức ăn, vệ sinh dụng cụ nhà bếp.
- Nước thải sinh hoạt: nước tắm giặt, vệ sinh của khách nghỉ, của nhân viên khách
sạn.
- Nước thải từ bể phốt.
Nước thải sinh hoạt của khách sạn chủ yếu từ các nguồn nước tắm giặt, nước nhà bếp,
nước bể phốt do đó thành phần đặc trưng của loại nước thải này bao gồm: chất tẩy rửa,
mỡ, amoni, cặn lơ lửng, chất hữu cơ tan, vi khuẩn…
a. Thành phần vật lý
Gồm các chất không hoà tan ở dạng lơ lửng, kích thước lớn hơn 10
-4
mm, có thể ở
dạng huyền phù, nhũ tương hoặc dạng sợi, giấy, vải, ; Các tạp chất bẩn dạng keo với kích
thước hạt trong khoảng10
-4
-10
6
mm; Các chất bẩn dạng tan có kích thước nhỏ hơn 10
-6
mm,
có thể ở dạng phân tử hoặc phân li thành ion;
Nước thải khách sạn thường có mùi hôi khó chịu khi vận chuyển trong cống sau 2 – 6
giờ xuất hiện khí hydrosunfua (H
2
S).
b. Thành phần hoá học
Các chất hữu cơ trong nước thải chiếm khoảng 50 -60% tổng các chất. Các chất hữu
cơ này bao gồm chất hữu cơ thực vật: cặn bã thực vật, rau, hoa quả, giấy … và các chất hữu
cơ động vật như chất thải bài tiết của người. Urê cũng là chất hữu cơ quan trọng trong nước
thải.
Nồng độ các chất hữu cơ thường được xác định thông qua chỉ tiêu BOD, COD. Bên
cạnh các chất trên nước thải còn chứa các liên kết hữu cơ tổng hợp: các chất hoạt động bề
mặt mà điển hình là chất tẩy tổng hợp (Alkyl bezen sunfonat- ABS) rất khó xử lý bằng
phương pháp sinh học và gây nên hiện tượng sủi bọt trong các trạm xử lý nước thải và trên
mặt nước nguồn – nơi tiếp nhận nước thải.
GVHD: Đào Minh Trung 7
Các chất vô cơ trong nước thải chiếm 40 - 42% gồm chủ yếu: cát, đất sét, các axit,
bazơ vô cơ… Nước thải chứa các hợp chất hoá học dạng vô cơ như sắt, magie, canxi, silic,
nhiều chất hữu cơ sinh hoạt như phân, nước tiểu và các chất thải khác như: cát, sét, dầu mỡ.
Nước thải vừa xả ra thường có tính kiềm, nhưng dần dần trở nên có tính axit vì thối
rữa.
c. Thành phần vi sinh, vi sinh vật
Trong nước thải còn có mặt nhiều dạng vi sinh vật: vi khuẩn, vi rút, nấm, rong tảo,
trứng giun sáng… trong số các dạng vi sinh vật đó, có thể có cả các vi trùng gây bệnh, như
lỵ, thương hàn…có khả năng gây thành dịch bệnh.
Khi xét đến các quá trình xử lý nước thải, bên cạnh các thành phần vô cơ, hữu cơ, vi
sinh vật như đã nêu trên thì quá trình xử lý còn phụ thuộc rất nhiều trạng thái hoá lí của các
chất đó và trạng thái này được xác định bằng độ phân tán của các hạt. Theo đó, các chất
chứa trong nước thải được chia thành 4 nhóm phụ thuộc vào kích thước hạt của chúng.
- Nhóm 1: gồm các tạp chất phân tán thô, không tan ở dạng lơ lửng, nhũ tương, bọt.
Kích thước hạt của nhóm 1 nằm trong khoảng 10
-1
-10
-4
mm. Chúng cũng có thể là chất vô cơ,
hữu cơ, vi sinh vật … và hợp cùng với nước thải thành hệ dị thể không bền và trong điều
kiện xác định có thể lắng xuống dưới dạng cặn lắng hoặc nổi lên trên mặt nước, hoặc tồn tại
ở trạng thái lơ lửng trong khoảng thời gian nào đó. Do đó, các chất chứa trong nhóm này có
thể dễ dàng tách ra khỏi khỏi nước thải bằng phương pháp trọng lực.
- Nhóm 2: gồm các chất phân tán dạng keo với kích thước hạt của nhóm này nằm
trong khoảng 10
-4
-10
-6
mm. chúng gồm 2 loại keo: keo ưa nước và keo kị nước.
Keo ưa nước được đặc trung bằng khả năng liên kết giữa các hạt phân tán với nước.
Chúng thường là những chất hữu cơ có trọng lượng phân tử lớn: hydratcacbon (xenlulo, tinh
bột), protit (anbumin, hemoglobin, …).
Keo kị nước (đất sét, hydroxyt sắt, nhôm, silic …) không có khả năng liên kết như
keo ưa nước.
GVHD: Đào Minh Trung 8
Thành phần các chất keo có trong nước thải chiếm 35-40% lượng các chất lơ lửng.
Do kích thước nhỏ bé nên khả năng tự lắng của các hạt keo là khó khăn.Vì vậy, để các hạt
keo có thể lắng được, cần phá vỡ độ bền của chúng bằng phương pháp keo tụ hoá học hoặc
sinh học.
- Nhóm 3: gồm các chất hoà tan có kích thước hạt phân tử nhỏ hơn 10
-7
mm. Chúng
tạo thành hệ một pha còn gọi là dung dịch thật. Các chất trong nhóm 3 rất khác nhau về
thành phần. Một số chỉ tiêu đặc trưng cho tính chất nước thải: độ màu, mùi, BOD, COD …
được xác định thông qua sự có mặt các chất thuộc nhóm này và để xử lý chúng thường sử
dụng biện pháp hoá lí và sinh học.
- Nhóm 4: gồm các chất có trong nước thải có kích thước hạt nhỏ hơn hoặc bằng 10
-
8
mm (phân tán ion). Các chất này chủ yếu là axit, bazơ và các muối của chúng. Một trong số
đó như các muối amonia, phosphat được hình thành trong quá trình xử lý sinh học.
Thành phần và tính chất nhiễm bẩn của nước thải sinh hoạt phụ thuộc vào tập quán
sinh hoạt, mức sống của người dân, mức độ hoàn thiện của thiết bị, trạng thái làm việc của
thiết bị thu gom nước thải. Số lượng nước thải thay đổi tuỳ theo điều kiện tiện nghi cuộc
sống, tập quán dùng nước của từng dân tộc, điều kiện tự nhiên và lượng nước cấp. Lưu
lượng nước thải khách sạn được xác định dựa vào lượng khách trong khách sạn và tiêu
chuẩn thải nước.
Bảng 1.3 Tiêu chuẩn thải nước từ khách sạn và các khu dịch vụ thương mại
Nguồn nước thải Đơn vị Lưu lượng (l/đơn vị. ngày )
Dãy Trị số tiêu
chuẩn
Sân bay, nhà ga Khách 7.5 - 15 11
Gara ô tô, sửa chữa Đầu xe 26 - 50 38
Kho hàng hoá Phòng toilet 1515 - 2270 1900
Nhân viên 30 - 45 38
Quán bar Khách 3.8 - 19 11
GVHD: Đào Minh Trung 9
Nhân viên 38 - 60 50
Giặt ủi Máy 1703 - 2460 2080
Nhân viên 26 - 60 49
Nhà hàng thông
thường
Khách 26-40 35
Trung tâm thương
mại
Nhân viên 26-50 40
Bãi đậu xe 4-11 8
Văn phòng Nhân viên 26-60 50
Nhà hát Ghế 8-15 10
Khách sạn Khách 151 - 212 180
Nhân viên 26 - 49 38
Nguồn: theo tài liệu Metcalf & Eddy – “Wastewater Engineering”
Chú thích:
- Tiêu chuẩn không qui định
- Thời gian thu mẫu nước thải vào lúc 15 giờ 30
Khi tính toán nồng độ chất bẩn của nước thải thì dựa theo lượng chất bẩn cho một
người trong ngày đêm.
Bảng 1.4 Lượng chất bẩn tính cho một người trong ngày đêm
Chất bẩn tính toán Lượng chất bẩn (g/ngày)
BOD
5
của nước thải đã lắng 25 - 30
Chất rắn lơ lửng SS 50 - 55
Tổng Nitơ của muối amonia (N) 7
Phosphat P
2
O
5
1.7
GVHD: Đào Minh Trung 10
Clorua 10
Nguồn: Tiêu chuẩn Xây Dựng TCXD - 51- 84
c. Ảnh hưởng của nước thải khách sạn đối với môi trường
+ Ảnh hưởng của chất hữu cơ
Dựa vào đặc điểm dễ bị phân huỷ do vi sinh vật có trong nước thải khách sạn ta có
thể phân các chất hữu cơ như sau:
- Chất hữu cơ dễ bị phân huỷ: Đó là các hợp chất protein, hydratcacbon, chất béo …
Trong thành phần các chất hữu cơ từ nước thải khách sạn có khoảng 40 – 60% protein, 25 –
50% hydratcacbon, 10% chất béo. Các hợp chất này chủ yếu làm suy giảm oxy hoà tan trong
nước. Điều này dẫn đến hệ sinh thái dưới nước bị ảnh hưởng.
- Chất hữu cơ khó bị phân huỷ: Các chất này thuộc các chất hữu cơ có vòng thơm,
các chất đa vòng ngưng tụ, các hợp chất clo hữu cơ, phospho hữu cơ … Hầu hết chúng có
tính độc đối với sinh vật và con người; Tồn lưu lâu dài trong môi trường và cơ thể sinh vật
gây độc tích luỹ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.
+ Ảnh hưởng của vi khuẩn
Số lượng vi sinh vật, chủ yếu là vi khuẩn, có trong nước thải rất lớn (khoảng 10
5
–
10
9
tế bào /ml). Ngoài việc chúng đóng vai trò phân huỷ các chất hữu cơ, cùng với các chất
khoáng khác dùng làm chất nuôi tế bào vi khuẩn và đồng thời làm sạch nước thải, chúng còn
có một số vi sinh vật gây bệnh (ecoli, coliform, …). Các loài vi sinh vật gây bệnh hiện hữu
trong nước thải đưa ra sông góp phần làm cho các bệnh , đặc biệt là các bệnh đường ruột
( thương hàn, tả, lị, … ) gia tăng do lây lan qua con đường ăn uống và sinh hoạt.
Trong phân người có chứa nhiều loại vi trùng gây bệnh ( như vi trùng tả, lị, thương
hàn và trứng giun sán). Trong thực tế là không thể xác định tất cả các loại vi trùng này đối
với từng mẫu nước vì phức tạp và tốn thời gian. Do đó thông thường trong nghiên cứu ô
nhiễm ta không xác định các loại vi trùng gây bệnh mà xác định mẫu nước có bị ô nhiễm
phân không. Muốn vậy, ta chĩ cần xác định một vài vi sinh chỉ thị cho ô nhiễm phân. Có 3
nhóm vi sinh chỉ thị ô nhiễm phân:
GVHD: Đào Minh Trung 11
- Nhóm Coliform đặc trưng là Escherichia coli (Ecoli)
- Nhóm Streptococci đặc trưng là Streptococcus faecalis
- Nhóm Clostridia khử sulfit đặc trưng là Clostridium perfringens
Sự có mặt của các vi sinh này chỉ ra rằng nước bị ô nhiễm phân, như vậy có ý nghĩa
là có thể có vi trùng đường ruột trong nước và ngược lại nếu không có các vi sinh chỉ thị có
ý nghĩa là có thể không có vi trùng gây bệnh đường ruột.
+ Ảnh hưởng của chất tẩy rửa
Khách sạn sử dụng xà phòng, các chất tẩy rửa với mục đích: giặt ra gối, ra giường,
làm vệ sinh sàn nhà, toilet … Đây là chất hoá học hữu cơ bền vững, có độc tính cao đối với
con người.
Xà phòng vào hệ thống nước thải có thể làm thay đổi pH của nước, cùng với khả
năng tạo bọt váng làm giảm khả năng hoà tan của oxy trong nước. Xà phòng còn có khả
năng sát khuẩn nhẹ, một chừng mực nào đó có tác dụng kìm hãm sinh trưởng của hệ vi sinh
vật trong nước. Nhìn chung xà phòng không phải là tác nhân cơ bản gây ô nhiễm nước
nhưng gây ảnh hưởng đến năng suất làm việc của hệ thống xử lý.
Các chất tẩy rửa thường có 10-30% là các chất hoạt động bề mặt, 12% các chất phụ
gia và một số chất độc khác. Sản lượng các chất tẩy rửa sản xuất hàng năm trên thế giới vào
khoảng 25 triệu tấn. Các chất hoạt động bề mặt ( ABS ) vào nước tạo huyền phù bền vững
dưới dạng keo, làm giảm hoạt tính của màng sinh học trong các phin lọc nước cũng như bùn
hoạt tính. Các chất tẩy rửa khi có trong nước thải sẽ làm cho nứơc tạo một khối bọt lớn vừa
gây cảm giác khó chịu vừa làm giảm khả năng khuếch tán khí vào nước. Như vậy, các chất
tẩy rửa là nguồn gây ô nhiễm nước rất đáng quan tâm. Bản thân chúng ít có độc tính đối với
người và động vật, nhưng gây ô nhiễm nước làm giảm chất lượng của nước, đặc biệt là nước
uống.
Ngoài ra, chúng làm cho thực vật trong nước phát triển. Khi poliphosphat phân huỷ
trong nước tạo thành các dạng ion phosphat, là nguồn dinh dưỡng cho các loại tảo, vi sinh
bậc thấp.
GVHD: Đào Minh Trung 12
+ Ảnh hưởng của chất dinh dưỡng
Hàm lượng Nitơ (N ), Phospho (P ) trong nước thải khách sạn là khá cao. Các chất
này có trong quá trình chế biến thức ăn hay có trong thức ăn dư thừa. Đây là chất dinh
dưỡng của các loài thuỷ sinh.
Khi các chất dinh dưỡng này quá nhiều sẽ thúc đẩy sự phát triển của các vi sinh vật
như: vi khuẩn, nấm nước, tảo, thực vật nổi. Hậu quả đầu tiên là sự tăng trưởng phiêu sinh
thực vật cấp thấp, tăng trưởng đáng kể sinh khối hệ phiêu sinh. Tăng trưởng đáng kể các loại
tảo que, tảo xanh, tảo độc.
- Trong nước hợp chất chứa Nitơ thường tồn tại ở dạng hợp chất hữu cơ, amoniac,
dạng oxy hoá ( nitrat, nitrit ). Nếu nước chứa hầu hết các hợp chất nitơ hữu cơ, amoniac
hoặc NH
4
OH thì chứng tỏ nước mới bị ô nhiễm.NH
3
trong nước sẽ gây độc cho các và các
sinh vật khác trong nước.
Tuy vậy, các nitrat chỉ bền ở điều kiện hiếu khí, khi ở điều kiện kị khí hay thiếu khí
các nitrat ở trong nước cao có thể gây độc với người vì khi vào cơ thể, với điều kiện thích
hợp ở đường tiêu hoá, nitrat sẽ biến thành nitrit. Đây là một tác nhân có hại cho sức khoẻ
con người vì khi vào cơ thể nó có khả năng kết hợp với hồng cầu (hemoglobin) trong máu
sau đó chuyển hoá thành methemoglobin và cuối cùng chuyển thành methemoglobiamine là
chất ức chế việc liên kết và vận chuyển oxy, gây bệnh thiếu oxy trong máu và sinh ra bệnh
máu trắng.
- Phospho là chất có nhiều trong phân người, thực phẩm. Phospho có trong nước
thường có dạng ortho phosphat, muối phosphat của axit phosphoric H
2
PO
4
-
, HPO
4
2-
, PO
4
3-
từ
tôm cá thối rửa, các poliphosphat từ các chất tẩy rửa pyrometaphosphat Na
2
(PO
4
)
6
,
tripoliphosphat Na
5
P
3
O
4
, pyrophosphat Na
4
P
2
O
7
. Tất cả các dạng poliphosphat đều có thể
chuyển hoá về orthophosphat trong môi trường nước đặc biệt là ở điều kiện môi trường axit
và ở nhiệt độ cao (gần điểm sôi). Ngoài ra, trong nước còn có các hợp chất phospho hữu cơ.
Nồng độ phospho trong nguồn nước không nitơ thường <0.01mg/l, ở vùng sông ngòi
nhiễm nước thải sinh hoạt lên tới trên 0.5mg/l.
GVHD: Đào Minh Trung 13
Bản thân phosphat không phải là chất gây độc, nhưng quá cao trong nước sẽ làm
nước “nở hoa” làm giảm chất lượng nước. Các nước EU qui định đối với nước sinh hoạt
nồng độ orthophotphat thấp hơn 2.18mg/l.
+ Ảnh hưởng của chất rắn lơ lửng
Chất rắn lơ lửng hạn chế độ sâu tầng nước được ánh sáng chiếu xuống, gây ảnh
hưởng tới quá trình quang hợp của tảo, rong rêu … Chất rắn có khả năng gây trở ngại cho
phát triển thuỷ sản, cấp nước sinh hoạt nếu chúng có nồng độ cao. Tiêu chuẩn của WHO đối
với nước uống không chấp nhận tổng chất rắn tan (TDS) cao hơn 1200 mg/l.
Chất rắn lơ lửng cũng là tác nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên thuỷ sinh
đồng thời gây tác hại về mặt cảm quan (tăng độ đục nguồn nước) và gây bồi lắng. Các chất
rắn được tạo ra trong quá trình xói mòn, phong hoá địa chất, do nước chảy tràn từ đồng
ruộng.
Tóm lại, mọi nguồn nước đều có khả năng tự làm sạch nhờ khả năng tự pha loãng,
xáo trộn nước thải với nguồn, khoáng hoá các chất bẩn hữu cơ bằng oxy hoà tan trong nước
nhờ hoạt động của vi sinh vật hiếu khí làm giảm nồng độ các chất ô nhiễm đến mức độ nhất
định.
Nhưng khi xả nước thải vào nguồn với lưu lượng lớn vượt quá khả năng tự làm sạch
của sông, hồ thì lượng nước thải này sẽ làm nhiễm bẩn nguồn nước sông, hồ. Nếu nước thải
chưa xử lý bị ứ đọng, tù hãm sự phân huỷ kị khí chất hữu cơ sẽ sinh ra mùi hôi thối ảnh
hưởng đến sinh hoạt của người dân cũng như các hoạt động văn hoá ven sông. Hơn nữa,
nước thải còn chứa vô số các vi khuẩn gây bệnh từ chất bài tiết của con người và có thể hứa
độc tố gây nguy hại đến sức khoẻ con người và hệ thuỷ sinh của hệ sinh thái sông Sài Gòn
Từ các phân tích trên thì việc xử lý nước thải khách sạn là vấn đề rất cần thiết.
GVHD: Đào Minh Trung 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét