LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hoàn thiện công tác quản lý đất đai trong quá trình đô thị hoá ở tỉnh bắc ninh từ nay đến năm 2010": http://123doc.vn/document/1053589-hoan-thien-cong-tac-quan-ly-dat-dai-trong-qua-trinh-do-thi-hoa-o-tinh-bac-ninh-tu-nay-den-nam-2010.htm
lên tốt hơn trớc. Do đó, đất đai có khả năng tái tạo đợc và có khả năng tạo ra khối
lợng lơng thực lớn hơn số lợng đủ để duy trì sự sống của ngời lao động.
2.1.3. Đất đai là một t liệu sản xuất gắn liền với hoạt động của con ngời
Trong quá trình hoạt động sản xuất, đất đai trở thành t liệu sản xuất
không thể thiếu đợc. Tác động của con ngời vào đất đai thông qua hoạt động
sản xuất đa dạng, với nhiều vẻ khác nhau trực tiếp hay gián tiếp nhằm khai
thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên này vì lợi ích của mình. Những tác
động ấy của con ngời làm cho đất đai vốn dĩ là sản phẩm của tự nhiên trở
thành sản phẩm của lao động. Con ngời không tạo ra đợc đất đai nhng bằng
lao động của mình (lao động sống và lao động vật hoá) mà cải thiện đất đai,
làm cho đất từ xấu trở thành tốt hơn và làm tăng sản lợng ruộng đất.
Trong nền kinh tế thị trờng, đất đai trở thành đối tợng của sự trao đổi,
mua bán, chuyển nhợng và hình thành thị trờng đất đai. Thị trờng quyền sử
dụng đất, dùng cơ chế thị trờng để điều tiết việc sử dụng đất là một nội dung
trong công tác quản lý việc sử dụng đất đai. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta
đã tốn bao công sức, xơng máu mới tạo lập đợc vốn đất nh ngày nay. Nh vậy,
đất đai luôn gắn với sự tồn tại và phát triển của con ngời, cần đợc gìn giữ và
quản lý tốt.
2.2. Phân loại đất đai
Theo luật đất đai năm 1993 của Nhà nớc ta quy định, đất đai đợc chia thành 6
loại chủ yếu sau
2.2.1. Đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là đất đợc xác định chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp
nh trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp.
2.2.2. Đất lâm nghiệp
Đất lâm nghiệp là đất đợc xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất
lâm nghiệp gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng hoặc đất để sử
dụng vào mục đích lâm nghiệp nh trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục
hồi tự nhiên, nuôi dỡng làm giầu rừng, nghiên cứu thí nghiệm lâm nghiệp.
2.2.3. Đất khu dân c nông thôn
Đất khu dân c nông thôn là đất đợc xác định chủ yếu để xây dựng nhà ở
và các công trình phục vụ cho sinh hoạt ở nông thôn. Đất ở của mỗi hộ gia
đình nông thôn bao gồm đất làm nhà ở và các công trình phục vụ cho đời sống
của gia đình.
2.2.4. Đất đô thị
Đất đô thị là đất nội thành, nội thị xã, thị trấn đợc sử dụng để xây
dựng nhà ở, trụ sở cơ quan, tổ chức, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, cơ sở
5
hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng an ninh và các mục đích
khác.
2.2.5. Đất chuyên dùng
Đất chuyên dùng là đất đợc xác định sử dụng vào mục đích không phải là
nông nghiệp, lâm nghiệp, làm nhà ở bao gồm: đất xây dựng các chơng trình công
nghệ, khoa học, kỹ thuật, hệ thống giao thông, thuỷ lợi, đê điều, văn hoá, xã hội,
y tế, giáo dục, thể dục thể thao, dịch vụ, đất sử dụng cho nhu cầu quốc phòng an
ninh, đất dùng thăm dò, khai thác khoáng sản, đá, cát, đất làm muối, đất làm đồ
gốm, gạch, ngói và các vật liệu xây dựng khác, di tích lịch sử, văn hoá, danh lam
thắng cảnh, đất nghĩa trang, nghĩa địa, đất có mặt nớc sử dụng vào mục đích
không phải là nông nghiệp.
2.2.6. Đất cha sử dụng
Đất cha sử dụng là đất cha có đủ điều kiện hoặc cha đợc xác định để sử
dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, lâm nghiệp, cha
xác định là đất khu dân c nông thôn, đô thị, chuyên dùng và Nhà nớc cha giao
cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào sử dụng lâu dài ổn định.
2.3. Vai trò của đất đai
2.3.1. Đối với sự phát triển kinh tế xã hội
Đất đai đối với các ngành kinh tế
Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội nh là
một t liệu sản xuất đặc biệt. Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể trong nền
kinh tế quốc dân, đất đai có những vị trí, vai trò khác nhau.
Đối với ngành công nghiệp (trừ công nghiệp khai khoáng), đất đai làm
nền tảng, cơ sở, địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản
xuất kinh doanh. Sự phát triển nhanh chóng các ngành công nghiệp đòi hỏi sự
mở rộng quy mô xây dựng, các nhà máy mới tăng lên, các công trình dân c
phát triển đòi hỏi xây dựng nhà ở và hình thành đô thị làm tăng số lợng diện
tích đất đai cho yêu cầu này.
Trong nông nghiệp, đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng
đầu của ngành sản xuất này. Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao
động mà còn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng. Mọi tác động của con
ngời vào cây trồng đều dựa vào đất đai và thông qua đất đai. Đất đai sử dụng
trong nông nghiệp đợc gọi là ruộng đất, là t liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt
không thể thay thế đợc, nó vừa là đối tợng lao động, vừa là t liệu lao động.
Quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình khai thác, sử dụng đất, bởi vậy đất
đai không thể thiếu trong hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Đất đai đối với các vấn đề xã hội
Đất đai là phần quan trọng trong bề mặt của vỏ trái đất, là môi trờng mà
các loài vật cùng nhau sinh sống và phát triển. Lịch sử phát triển của loài ngời
cùng gắn liền với đất đai, với ý nghĩa đất đai là nơi sinh sống của các dân tộc,
6
là nơi các thế hệ nối tiếp nhau gìn giữ và sáng tạo ra các giá trị văn hoá. Đất
đai là sản phẩm của tự nhiên có trớc lao động và cùng với quá trình lịch sử
phát triển kinh tế xã hội, đất đai là điều kiện chung của lao động, đất đai- lãnh
thổ thiêng liêng của dân tộc. Đất khu dân c nông thôn Việt Nam chúng ta
ngày nay, là kết quả công sức lao động, chiến đấu hàng ngàn thế hệ ngời Việt
Nam trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nớc và giữ nớc. Từ sau Cách mạng
tháng 8 đến nay, các chính sách quản lý đất đai đợc Nhà nớc ban hành phù
hợp với từng thời kỳ cách mạng, là một trong nguồn lực đa đất nớc ta từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác.
Đất đai đảm bảo cung cấp lơng thực thực phẩm:
Đất đai là t liệu sản xuất đặc biệt, cùng với lao động sản sinh ra của cải
vật chất nuôi sống con ngời. Dù sản xuất công nghiệp và dịch vụ có phát triển
đến đâu cũng phải đảm bảo an toàn lơng thực thực phẩm. Dân số tăng nhanh,
lao động chuyển dần sang phi nông nghiệp, nông sản trở thành hàng hoá nên
yêu cầu lơng thực hàng hoá là rất lớn. Vì vậy, đất đai là một yêu cầu không
thể thiếu trong đời sống vật chất của con ngời.
Đất đai đảm bảo môi trờng sống:
Mọi hoạt động của con ngời trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đều có
liên quan tác động trực tiếp hay gián tiếp đến môi trờng sống làm trong sạch
hoặc gây ô nhiễm môi trờng. Do đó, phải tính đến các yếu tố kinh tế xã hội có
quan hệ tới môi trờng sống, kể cả ở tầm vĩ mô và vi mô để phát huy đợc những
mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực.
2.3.2. Đất đai đối với quá trình đô thị hoá
Đất đai là yêu cầu đầu tiên và cấp thiết đối với quá trình đô thị hoá đợc
thể hiện ở chỗ: Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành và phát triển đô
thị, đó cũng là quá trình tập trung dân số vào các đô thị. Quá trình đô thị hoá
gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, làm biến đổi sâu
sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ
cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ hình thức nông thôn sang thành
thị. Nh vậy, đô thị hoá hoá là hình thức mở rộng diên tích và quy mô của đô
thị trên cơ sở sáp nhập nhập các điểm dân c nông thôn hoặc sử dụng một diện
tích đất nông nghiệp cho xây dựng mới hoặc mở rộng đô thị, nên cần phải sử
dụng đất đai tiết kiệm trong quá trình này, tránh tình trạng sử dụng sai mục
đích sẽ không có biện pháp khắc phục hiệu quả.
Đất đô thị là phần diện tích đất có vai trò quan trọng đối với sự mở rộng
quy mô đô thị, đất đai đô thị có giới hạn đợc sử dụng để xây dựng các công
trình đô thị nh nhà ở, trụ sở cơ quan hành chính- kinh tế, các tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị xã hội, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các cơ sở hạ tầng kỹ
thuật đô thị nh đờng giao thông, mạng lới điện chiếu sáng, lới điện sinh hoạt,
điện sản xuất thông tin liên lạc, hệ thống cấp thoát nớc, phục vụ các nhu cầu
lợi ích, công cộng, quốc phòng an ninh và các mục đích sử dụng khác. Chính
7
vì vậy, việc tăng cờng công tác quản lý và sử dụng đất đai là yêu cầu cấp thiết
của các cấp các ngành trong từng tỉnh nói riêng và cả nớc nói chung.
3. Những yếu tố tác động đến quản lý đất đai ở đô thị trong quá trình
đô thị hoá
3.1. Đất đai đợc sử dụng theo quy hoạch và kế hoạch của nhà nớc
Hiến pháp và Luật Đất đai năm 1993 khẳng định: đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, nhà nớc thống nhất quản lý về đất đai theo quy hoạch và kế hoạch.
Trong đó:
Quy hoạch đất đai là việc Nhà nớc bố trí, sắp xếp các loại đất đai cho các
đối tợng sử dụng theo các phạm vi không gian và trong từng khoảng thời gian
nhất định với mục đích phục vụ tốt nhất cho chiến lợc phát triển kinh tế- xã hội
của đất nớc và cho phép sử dụng hợp lý và có hiệu quả các yếu tố đất đai.
Kế hoạch về đất đai là việc xác định các phơng hớng, mục tiêu, các chỉ
tiêu về sử dụng đất đai cũng nh các biện phsản phẩm cần thiết để đạt đợc các
mục tiêu đó một cách có hiệu quả nhất.
Quy hoạch và kế hoạch đất đai là công cụ quản lý quan trọng và không
thể thiếu đợc trong công tác quản lý đất đai nhằm thể hiện ý đồ, mục tiêu và
biện pháp của Nhà nớc đảm bảo quyền lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất
về đất đai của Nhà nớc. Với việc quy định của thể trong những đạo luật cơ bản
nhất về quyền sở hữu tối cao đối với đất đai thuộc về nhân dân, việc khai thác,
sử dụng nguồn lực đất đai phục vụ yêu cầu phát triển đất nớc sẽ thuận lợi hơn
rất nhiều. Đô thị hoá là sự mở rộng diện tích và quy mô của đô thị, vì vậy đặt
ra một yêu cầu hết sức cần thiết là việc quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất sao
cho hợp lý và đem lại hiệu quả cao khi sử dụng.
Quy hoạch và đặt ra kế hoạch sử dụng đất nhằm mục đích sử dụng đất
đai theo đúng định hớng đã đặt ra để tránh tình trạng phát triển nhanh các
thành phần kinh tế gây áp lực đối với đất đai.
3.2. Sự gia tăng giá đất trong quá trình đô thị hoá
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn chế về số lợng và không có khả năng
tái sinh. Từ năm 1975 đến nay, việc đầu t cải tạo và xây dựng hạ tầng kỹ thuật
đô thị và hạ tầng xã hội đều sử dụng ngân sách nhà nớc. Chính nhờ sự đầu t
này mà đất đô thị ngày càng có giá trị. Giá đất đô thị cao hơn đất nông thôn,
miền núi là vì đất đai có những đặc trng cơ bản khiến nó không giống với bất
kỳ một loại t liệu sản xuất nào. Chẳng hạn, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn
chế về số lợng và không có khả năng tái sinh; đất đai có vị trí cố định trong
không gian và không thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con ngời. Giá
trị của đất đợc qui định bởi các điều kiện cơ sở hạ tầng, các tiện nghi khác đợc
bố trí trên mảnh đất đó. Vì thế, với hệ thống cơ sơ hạ tầng tốt hơn, tiện lợi hơn
đất đai nông thôn, đất đô thị tăng giá trở thành điều hiển nhiên. Đất đô thị
hiện nay có giá nh một hàng hoá đặc biệt trong quá trình đô thị hoá diễn ra
nhanh chóng và mạnh mẽ nh hiện nay. Nhng kèm theo đó là hàng loạt các vấn
8
đề khác sẽ nảy sinh nh đầu cơ, tích trữ đất đai, mua bán trao tay, chuyển đổi
mục đích sử dụng bất hợp pháp, nếu không có sự quản lý chặt chẽ thì sẽ làm
thất thoát nguồn lực đặc biệt này của quốc gia.
Đô thị hoá diễn ra thì việc sử dụng đất phải đợc thực hiện theo quy hoạch
và kế hoạch của nhà nớc. Hiện nay vấn đề nổi cộm nhất trong xây dựng và
phát triển đô thị ở nớc ta là vấn đề quỹ đất cho xây dựng các công trình đô thị,
liên quan đến vấn đề đền bù và giải phóng mặt bằng. Chính vì thế, chính phủ
đã định khung giá các loại đất, các tỉnh thành phố đã có quy định về khung
giá đất cụ thể, nhng ngời sử dụng đất vẫn không thoả mãn với giá mà nhà nớc
quy định mà tự đẩy giá đất lên cao hơn giá trị thực sự của nó trớc kia. Điều
này kiến cho công tác giải phóng mặt bằng của Nhà nớc gặp nhiều khó khăn.
3.3. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Quá trình đô thị hoá là quá trình hình thành và phát triển đô thị, đó cũng
là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, tạo ra sự hình thành nhanh chóng
các điểm dân c đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân.
Quá trình đô thị hoá gắn liền với quá trình công nghiệp hoá đất nớc, làm biến
đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt
xã hội, cơ cấu không gian kiến trúc xây dựng từ hình thức nông thôn sang
thành thị. Quá trình đô thị hoá là quá trình phát triển về kinh tế, xã hội, văn
hoá và không gian kiến trúc, gắn liền với tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự
phát triển của các ngành nghề mới. Trình độ đô thị hoá phản ánh trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất, truyền thống văn hoá và phơng pháp tổ chức đời
sống xã hội. Nh vậy, có thể chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đất
lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng sang mục đích sử dụng khác.
Quá trình đô thị hoá đặt ra nhu cầu sử dụng đất đô thị ngày càng tăng
trong khi khả năng cung diện tích đất đô thị là hữu hạn. Chính vì thế, theo xu
hớng này, để đáp ứng đợc theo sự phát triển chung thì phải gia tăng đất đai sử
dụng vào các mục đích theo hớng công nghiệp, chuyển mục đích sử dụng đất
nông nghiệp sang sử dụng vào phát triển các khu chế xuất, khu dân c, phát
triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, chuyển đổi theo hớng lấy công
nghiệp làm trọng. Điều này cũng đặt ra yêu cầu phải chuyển đổi theo đúng h-
ớng, phải có sự quản lý chặt chẽ theo đúng quy hoạch và kế hoạch đợc Chính
phủ phê duyệt, tránh tình trạng đầu cơ đất trên thị trờng đất đai hiện nay.
3.4. Hệ quả của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai trong quá trình
đô thị hoá đến sự thay đổi đời sống kinh tế- xã hội
Tình trạng thất nghiệp gia tăng: Đối với nớc ta, sản xuất nông nghiệp là
ngành chủ yếu đáp ứng nhu cầu lao động của nhân dân. Trong quá trình công
nghiệp hoá- hiện đại hoá, gắn liền với quá trình đô thị hoá, thì tỉ trọng nông
nghiệp giảm dần và tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần. Cùng
với xu hớng đó, đất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp, nhờng chỗ cho đất công nghiệp
và xây dựng. Ngời nông dân mất đất bắt buộc phải tìm kiếm một công ăn việc
9
làm khác so với công vịêc đồng áng trớc đây. Nhng quá trình chuyển từ nông
nghiệp sang công nghiệp lại đánh dấu bằng việc giảm bớt các ngành sử dụng
nhiều lao động sang các ngành sử dụng nhiều vốn. Do đó, tình trạng d thừa lao
động là không tránh khỏi. Nếu không có sự phát triển nhanh chóng các ngành
nghề dịch vụ để thu hút lợng lao động d thừa này, đồng thời nếu ngời nông
dân không đợc chuẩn bị sẵn sàng cho sự chuyển đổi cơ cấu việc làm đó, thì
nguy cơ thất nghiệp gia tăng nhanh chóng và sẽ là vấn đề khó có thể giải
quyết triệt để.
Tệ nạn xã hội diễn ra nhanh chóng: Cùng với quá trình đô thị hoá là sự
bất công của xã hội ngày càng tăng (mức chênh lệch thu nhập giữa 20% dân
số giàu so với 20% dân số nghèo là 30 lần năm 1960 và 60 lần năm 1992); sự
tàn phá môi trờng sinh thái và ô nhiễm ở thành phố, khủng hoảng xã hội, tan
rã gia đình ở đô thị, trẻ em lang thang, cơ nhỡ gia tăng. Vấn đề tệ nạn xã hội
nh nghiện hút, tiêm chích, cờ bạc, ăn chơi đua đòi của cuộc sống thành thị gia
tăng nhiều. Gây ảnh hởng đến đời sống sinh hoạt của nhân dân trong khu vực
thành thị.
II. Sự ảnh hởng của đô thị hoá tới tình hình sử dụng đất đai.
1. Luật sửa đổi bổ sung một số điều về Luật đất đai gây ảnh hởng lớn
đến vấn đề sử dụng đất đai
Quá trình đô thị hoá kéo theo rất nhiều yếu tố biến động, Chúng đều đợc
thay đổi và chỉnh lý để theo khớp với sự đô thị hoá. Trong đó Luật Đất đai là
luật phải thờng xuyên chỉnh lý và điều chỉnh theo sự biến động đó. Đây là yếu
tố quyết định rất nhiều đến việc sử dụng đất nh thế nào để đáp ứng đợc nhu
cầu phát triển của quá trình đô thị hoá và thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại
hoá đất nớc. Chính việc sửa đổi bổ sung một số điều này đã làm ảnh hởng đến
tình hình sử dụng đất đai, sử dụng đất đai nh thế nào còn phụ thuộc vào Luật
quy định ra sao? Vì vậy, khi sửa đổi bổ sung Luật Đất đai phải chú ýđể tránh
tình trạng thay đổi trong việc sử dụng đất .
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cùng với việc tăng dân số đô thị là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, trên góc
độ dân số và lao động, đô thị hoá là quá trình chuyển đổi cơ cấu dân c từ khu
vực nông thôn sang thành thị. Những ngời dân trớc đây gắn bó với ruộng vờn,
sau khi trở thành dân c đô thị, họ mất phần lớn ruộng đất canh tác. Với số tiền
nhà nớc đền bù, họ dùng để cải tạo nghề mới, tìm việc mới, xây dựng nơi c trú
mới và nhiều vấn đề khác cũng thay đổi.
Trong quá trình đô thị hoá, cơ cấu ngành kinh tế trong vùng và cả nền
kinh tế cũng thay đổi theo hớng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ. Hình thức đô thị hoá đã thu hẹp đất canh tác nông
nghiệp nhanh chóng vì một phần đất do nhà nớc thu hồi để xây dựng các công
trình, một phần đất dân c bán cho những ngời từ nơi khác đến ở, hoặc kinh
doanh. Trong quá trình đô thị hoá, nhà nớc nắm thế chủ động chuyển đổi mục
10
đích sử dụng đất, tạo đà mạnh mẽ cho sự phát triển đô thị. Trong điều kiện nền
kinh tế thị trờng hiện nay, đô thị hoá dẫn đến tình trạng thu hẹp đất canh tác
nông nghiệp. Thực chất quá trình đó là thay đổi mục đích sử dụng đất từ đất
nông nghiệp sang đất công nghiệp, thơng mại, dịch vụ, đất ở Quá trình này
góp phần làm tăng hiệu quả sử dụng đất nhng cũng gây ra không ít các vấn đề
xã hội nảy sinh mà không thể lờng trớc đợc.
Trớc quá trình đô thị hoá nhanh và sự phát triển ngày càng cao của nền
công nghiệp trong mỗi quốc gia, cũng nh trên phạm vi toàn thế giới, nhiều vấn
đề nảy sinh đối với đất đai có hạn đang thực sự trở thành một nỗi lo của toàn
nhân loại.
ở nớc ta, sự phát triển kinh tế xã hội theo hớng công nghiệp hoá- hiện
đại hoá có nghĩa là các khu công nghiệp tập trung, hiện đại đang đợc mở ra
hết sức khẩn trơng và nhanh chóng đi vào hoạt động nhằm giải quyết đợc các
vấn đề về thất nghiệp, gia tăng thu nhập cho đại bộ phận dân c, cải thiện đời
sống nhân dân, bộ mặt xã hội đã có những bớc chuyển biến tích cực. Bức
tranh về công nghiệp hoá đang mở ra trớc mắt chúng ta, hứa hẹn một sự phát
triển đầy triển vọng. Nhng đồng thời với sự phát triển đó, tình trạng mất đất
nông nghiệp sử dụng vào một số mục đích khác ngày một gia tăng, điều đó
gây ảnh hởng không tốt đến công tác quản lý đất đai, cần phải thực hiện sự
phát triển đó theo quy hoạch sử dụng đất đai đã đợc Chính phủ phê duyệt.
3. Sự di dân từ nông thôn ra thành thị
Theo xu hớng hiện nay, quy mô đô thị ngày càng đợc mở rộng và biểu
hiện trớc hết là tăng quy mô dân số. Quy mô dân số đô thị tăng nhanh do tốc
độ đô thị hoá, đô thị hoá là quá trình biến đổi các vùng cha phải là đô thị
thành đô thị. Sự biến động của dân số đô thị là hiện tợng phổ biến vì đô thị là
nơi có nhiều điều kiện thuận lợi cho cuộc sống và sinh hoạt. Thu nhập ở đô thị
thờng cao hơn ở nông thôn, địa bàn đô thị có nhiều khả năng kiếm việc làm
hơn, chất lợng dịch vụ và phúc lợi xã hội tốt hơn. Dân c tìm mọi cách để đợc
nhập c vào đô thị, từ đó hình thành một dòng di dân từ nông thôn ra đô thị,
chính dòng ngời này đã gây ra những quá tải dân số ở các đô thị, làm mở rộng
đô thị ảnh hởng đến việc quản lý và sử dụng đất đai đô thị có nhiều phức tạp
nh: giải quyết công ăn việc làm cho ngời lao động mới gia tăng bằng việc bố
trí đất đai cho phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp, bố trí đất đai cho
việc gia tăng nhu cầu sinh hoạt và dịch vụ Tất cả đều phải đợc quản lý một
cách có kế hoạch và có ngời để điều hành công việc đó. Trong khi đó, con ng-
ời và trình độ quản lý thì có hạn mà sự đòi hỏi thì cứ tăng, đặt ra cho cán bộ
quản lý một câu hỏi hết sức khó khăn.
11
4. Sự thay đổi trong công tác quản lý hành chính
4.1. Biến động ranh giới các đơn vị hành chính
Đô thị hoá bằng việc mở rộng quy mô đô thị dới hình thức xây dựng các
thị trấn, thị xã, phờng, quận mới dẫn đến biến động ranh giới các đơn vị
hành chính cũng nh diện tích và dân số của đô thị.
4.2. Bộ máy quản lý hành chính thay đổi.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của đô thị nhỏ không còn phù hợp khi
quy mô đô thị ngày một gia tăng. Đồng thời với sự tác động mạnh mẽ đến
công tác quản lý nhà nớc về địa giới hành chính, quá trình đô thị hoá làm xuất
hiện mâu thuẫn giữa cơ cấu kinh tế- xã hội hiện thực với thể chế quản lý hành
chính nhà nớc.
Quá trình đô thị hoá diễn ra với tốc độ ngày càng cao, làm biến động
nhiều vấn đề mà chúng ta không thể lờng trớc đợc mặt trái của quá trình đô thị
hoá, mà trình độ của con ngời thì có hạn không thể cũng thay đổi theo sự thay
đổi của nền kinh tế. Vì vậy, vấn đề quản lý Nhà nớc về đất đai trong quá trình
đô thị hoá cần phải tổ chức lại trên từng địa bàn. Về nguyên tắc, đô thị hoá
đến đâu cần tổ chức lại quản lý Nhà nớc trên địa bàn đến đó.
III. Sự cần thiết phải tăng cờng công tác quản lý nhà n-
ớc về đất đai.
1. Khái niệm, nhiệm vụ và quyền hạn của quản lý nhà nớc về đất đai
1.1. Khái niệm
Quản lý nhà nớc về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà
nớc về đất đai, đó là các hoạt động nắm và quản lý tình hình sử dụng đất đai
trong việc phân bố đất đai vào các mục đích sử dụng theo các chủ trơng của
nhà nớc để kiểm tra giám sát quá trình sử dụng đất đai.
1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn quản lý đất đai của nhà nớc
1.2.1. Nhà nớc là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai
Nhà nớc quản lý và quyết định mục đích sử dụng đất, xây dụng chiến lợc,
quy hoạch, kế hoạch sử dụng, phân bổ và phát triển đất đai. Cho phép chuyển
mục đích sử dụng đất trong khuôn khổ quy hoạch và kế hoạch đã đợc duyệt.
Ban hành, hớng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, chính
sách về đất đai và thị trờng bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất. Quy
định tạo điều kiện thuận lợi, quản lý và giám sát việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của ngời sử dụng đất. Giao đất, cho thuê đất, thực hiện quyền thu hồi
đất. Quy định và tổ chức thực hiện chính sách tài chính về đất đai, đầu t tài
chính cho việc quản lý đất đai.
Xây dựng và quản lý thị trờng bất động sản, trong đó có quyền sử dụng
đất. Tạo môi trờng hợp lý, môi trờng kinh tế cho các doanh nghiệp, trong đó
các doanh nghiệp nhà nớc là nòng cốt. Đầu t cải tạo mở rộng diện tích, nâng
cao chất lợng đất, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng nhà. Ban hành và tổ
12
chức thực hiện cơ chế xây dựng và quản lý giá quyền sử dụng đất và giá một
số loại bất động sản gắn liền với đất.
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đất đai, việc thực hiện
quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, việc thực hiện các quyền, lợi ích và nghĩa
vụ của ngời sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất. Giải quyết các khiếu nại, tố
cáo và các tranh chấp về đất đai. Tổ chức hệ thống quản lý Nhà nớc về đất đai
từ Trung ơng đến cơ sở. Quản lý các hoạt động hành chính công và dịch vụ
công về đất đai.
1.2.2. Nhà nớc có chính sách tạo điều kiện về đất đai cho những ngời có nhu
cầu sản xuất.
Thực hiện chính sách đảm bảo nhu cầu đất đai cho những ngời trực tiếp
sản xuất nông, lâm, ng và làm muối. Đồng thời đẩy mạnh quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, phân bố lại dân c phù hợp với yêu cầu
công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nớc.
Để giải quyết một cách cơ bản việc làm và thu nhập cho ngời nông dân
không có đất, ít đất, hoặc có đất bị thu hồi để sử dụng vào các mục đích công
cộng, phát triển kinh tế xã hội, cần thực hiện tổng hợp các biện pháp phát triển
ngành nghề, đào tạo nghề để tạo việc, làm đổi mới cơ cấu sản xuất nông
nghiệp, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và những biện pháp hỗ chợ cần
thiết khác.
Đối với từng vùng đồng bào thiểu số, vùng cao cần có chính sách đảm
bảo đất sản xuất nông, lâm, ng nghiệp phù hợp với quy định pháp luật và điều
kiện của từng vùng. Có cơ chế quản lý để đồng bào giữ đợc đất, có cuộc sống
ổn định và làm giầu trên đất đợc giao.
Xây dựng quỹ đất công ích trong nông thôn để địa phơng sử dụng vào
mục đích công cộng tại các xã, hoặc bổ sung cho những trờng hợp có nhu cầu
thuê đất. Uốn nắn, sửa chữa những sai phạm, bổ sung những quy định phù hợp
về quản lý, sử dụng đất công ích.
1.2.3. Giao đất, cho thuê và thu hồi quyền sử dụng đất đai
Về hình thức giao và cho thuê đất: Tiếp tục giữ hình thức giao đất
không thu tiền vào mục đích sản xuất nông, lâm, ng, làm muối của hộ nông
dân, đất sử dụng vào mục đích công cộng, an ninh và đất ở cho đối tợng chính
sách nh hiện nay. Đối với đất dùng làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp và đất sản xuất của các tổ chức kinh tế, áp dụng cả hai hình thức
có thu tiền và cho thuê đất.
Về đối tợng đợc giao đất, cho thuê đất sản xuất nông nghiệp: Bổ sung
đối tợng đợc giao đất không thu tiền, cộng đồng dân c thôn bản phù hợp với
tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số, những ngời dân di c có tổ chức đến
nơi ở mới đã ổn định, đúng quy hoạch và không có tranh chấp đất đai. Các cá
nhân, hộ gia đình, tổ chức trong nớc có khả năng và có nguyện vọng đầu t
khai phá đất cha sử dụng tại các xã miền núi, ven biển để sử dụng vào các
13
mục đích sản xuất, thuê đất với mức diện tích phù hợp với nhu cầu sản xuất
kinh doanh và khả năng đất đai của từng địa phơng.
Về hạn mức giao đất, cho sản xuất nông, lâm, ng nghiệp: Nhà nớc
khuyến khích tích tụ đất đai, sớm khắc phục tình trạng đất sản xuất nông
nghiệp manh mún. Quá trình tích tụ đất đai cần có sự chỉ đạo và quản lý của
nhà nớc, có quy hoạch và kế hoạch, có bớc đi vững chắc trên từng địa bàn,
lĩnh vực, gắn với chơng trình phát triển ngành nghề, tạo việc làm. Tích tụ đất
đai thông qua việc nhận chuyển nhợng và nhiều biện pháp khác phù hợp với
từng thời kỳ, từng vùng. Xử lý nghiêm các trờng hợp lợi dụng chính sách tích
tụ để đầu cơ trục lợi.
Khi nhà nớc thu hồi đất mà cá nhân hoặc tổ chức đang sử dụng hợp
pháp vào công việc phục vụ các công tác quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng và phát triển sản xuất kinh doanh, nhà nớc thực hiện chế
độ bồi thờng, tái định c, đào tạo nghề và hỗ trợ tạo việc làm theo quy định của
pháp luật. Nhà nớc có quy định để xử lý, thu hồi đất lấn chiếm, có quy định cụ
thể về thu hồi đất đã giao, đất cho thuê mà không sử dụng, sử dụng sai mục
đích, xâm hại đất hoặc sử dụng nhng hiệu quả quá kém. Nhà nớc có trách
nhiệm rà soát lại đất đã giao cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ
chức đảng, đoàn thể, thu hồi diện tích nhà, đất không sử dụng, đất sử dụng sai
mục đích, trái pháp luật.
1.2.4. Giải quyết tranh chấp khiếu nại và tố cáo liên quan đến đất đai
Việc tranh chấp đất đai trớc hết cần hoà giải, nếu hoà giải không thành
thì đa ra toà án giải quyết. Nhà nớc quy định thời hiệu và thời hạn giải quyết
các khiếu nại không để kéo dài. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ơng là cấp giải quyết cuối cùng các khiếu nại đất đai trong phạm vi,
thẩm quyền của các cấp ở địa phơng. Việc giải quyết tố cáo về đất đai thực
hiện theo pháp lệnh về tố cáo.
Đất trớc đây của các cơ quan nhà nớc, các tổ chức thuộc hệ thống chính
trị mợn hoặc thuê, có đầy đủ giấy tờ hợp pháp thì trả lại, nhng không nhất
thiết là đất cũ, mà có thể trả bằng tiền hoặc đất nơi khác.
2. Nội dung của quản lý nhà nớc về đất đai
Quản lý nhà nớc về đất đai theo luật đất đai năm 1993 đợc chia ra thành
7 nội dung sau:
1. Điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá và phân hạng đất, lập bản đồ địa chính.
- Điều tra, đo đạc, khảo sát: Là biện pháp kỹ thuật nhằm xác định số
lợng đất, diện tích tổng thể, diện tích của từng ngời sử dụng, vị trí của từng
diện tích đó, chất lợng, các đặc tính lý hoá, độ màu, độ thái hoá, độ bền
nhằm nắm đợc hiện trạng thực tế của đất đai để sử dụng có hiệu quả.
- Phân hạng đất: Là xác định tác dụng sử dụng của từng diện tích đất
cụ thể dựa trên cơ sở 6 loại đất đã đợc quy định thông qua đó Nhà nớc quy
định mức thuế qua giá trị sử dụng đất, quy định khung giá các loại đất.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét