LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng: Phân tích ứng dụng với kinh tế Mỹ và Việt Nam docx": http://123doc.vn/document/1049862-tai-lieu-khung-hoang-va-he-thong-tai-chinh-tin-dung-phan-tich-ung-dung-voi-kinh-te-my-va-viet-nam-docx.htm
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
giá nhà bị đẩy lên quá cao do đầu cơ, vượt khỏi khả năng chi trả của
người mua thì giá tất phải xuống. Lúc đó, giá trị tài sản sau khi trừ đi nợ
gọi là vốn tự có thậm chí có thể âm, đẩy người đi vay phải tập trung vào
trả nợ, giảm tiêu dùng, thay vì đầu tư thêm (coi mô hình ở dưới).
Mô hình hóa khủng hoảng tài chính
Tích sản Tiêu sản
Tài sản 100 Nợ 90
Vốn tự có (ban đầu) 10
Tổng tích sản
100
Tổng tiêu sản
100
Tích sản Tiêu sản
Tài sản (hoặc vốn cho vay)
50
Nợ (hoặc tiền gửi của khách hàng)
90
Vốn tự có -40
(vốn ban đầu + lỗ do giá giảm/nợ xấu)
(10-
50)
Tổng tích sản
50
Tổng tiêu sản
50
Khi có khủng hoảng, giá tài sản giảm/nợ xấu tăng
Theo mô hình của công ty ở trên, công ty có 10 đồng (vốn tự có), đã
mượn 90 đồng để mua nhà với giá 100 đồng. Ta thấy nếu tài sản giảm từ
100 xuống 50, thì nợ phải trả vẫn không thay đổi, nhưng vốn tự có bây giờ
(bằng giá tài sản trên thị trường trừ đi nợ) sẽ âm. Tài sản có thể dưới hình
thức phi tài chính hoặc tài chính (như tín dụng cho vay của ngân hàng), nếu
là số nợ ngân hàng cho vay, việc không thu hồi lại được coi như tài sản tài
chính giảm giá. Hệ số nợ tính trên tích sản không chỉ còn là 90% mà thành
180%. Doanh nghiệp nếu không có lời sẽ phá sản, nếu vẫn làm lời sẽ cố trả
nợ để giảm áp lực trả lãi vay và trả vốn, và đương nhiên cắt giảm đầu tư.
Trong khủng hoảng tài chính kiểu này, doanh nghiệp thường tích tiền, giảm
nợ thay vì đầu tư. Với tỷ lệ nợ càng lớn thì thời gian đòi hỏi giảm nợ tới
mức an toàn sẽ càng lâu. Kinh tế Nhật tăng GDP trung bình năm chỉ khoảng
0.7% trong 20 năm qua là vì lý do này. Kinh tế Mỹ và châu Âu cũng gặp
trường hợp tương tự, kinh tế giảm hoặc tăng trưởng không đáng kể từ 2007
đến nay.
4
Mất cân đối trong kinh tế là tình trạng bình thường, không thể tránh
được trong một nền kinh tế thị trường năng động, nhưng sự có mặt của cơ
chế giám sát với các qui định chặt chẽ, minh bạch và hợp lý sẽ tránh việc
4
Coi Vũ Quang Việt, Về thập kỷ suy thoái kinh tế Nhật, Thời đại mới, số 1,
tháng 3 năm 2004. http://www.tapchithoidai.org/200401_VQViet_book.htm.
Vũ Quang Việt | Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng 6
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
các mất cân đối biến thành khủng khoảng. Việc thiết lập các qui định
giống như việc đắp đê be bờ giảm sức công phá của bão tố trong nền kinh
tế thị trường. Tuy nhiên khoảng 15 năm trước đây nhiều đê điều đã bị đập
vỡ vì các nhà lý thuyết kinh tế và chính quyền ở Mỹ tin tưởng rằng tư bản
chủ nghĩa có thể tự điều chỉnh, rằng thị trường tự do là hữu hiệu nhất và
do đó không cần đến sự kiểm soát hay bàn tay nhơ bẩn của nhà nước. Đắp
đê be bờ làm giảm tinh thần dã thú của tư bản, tất nhiên có thể làm giảm
tiềm năng phát triển. Vì vậy mà phải lựa chọn hệ thống đê điều hợp lý.
Luật tín dụng Mỹ ra đời năm 2000 đập bỏ hầu hết đê điều chính là lý do
tạo sự khủng hoảng tài chính trầm trọng vừa qua, không chỉ ở Mỹ mà còn
ở nhiều nơi trên thế giới bắt chước xóa bỏ hạn chế kiểu Mỹ.
Có thể kết luận là khủng hoảng có nguyên nhân nội tại, chủ yếu nội tại
nhưng nó trở thành lớn rộng và kéo dài khi những đê che chắn cần thiết để
hạn chế bão gió đã bị xóa bỏ. Bão gió là chuyện thường ngày ở huyện của
một nền kinh tế tư bản. Bão gió có thể có nguyên nhân từ sự phát triển của
công nghệ mới như công nghệ thông tin phát triển ở Mỹ bắt đầu từ những
năm 2000, nhưng được tung hê quá trởn bởi giới tài chính như chuyện
thần kỳ đưa đến một nền kinh tế tri thức kiểu mới với tốc độ phát triển
kinh tế vượt bực. Nó cũng có thể là sự thần kỳ của các công cụ tài chính
mới. Chứng khoán được thổi lên như diều gặp gió rồi sụt giá hơn 50%,
chạm đáy vào năm 2009. Có lúc người ta tưởng rằng với khả năng hiểu
biết dựa trên lý thuyết kinh tế đã được phát triển, khủng hoảng đã bị xóa
bỏ trong nền kinh tế thị trường hay nói chính xác hơn là trong nền kinh tế
tư bản chủ nghĩa. Người ta đã lầm nếu chỉ nhìn lại lịch sử kinh tế Mỹ từ
sau 1930.
Bài viết này đi sâu vào phân tích nguyên nhân khủng hoảng ở Mỹ và
Việt Nam như đã trình bày sơ lược ở trên và biểu hiện của chúng, phân
tích chi tiết hệ thống tài chính Mỹ, sau đó dùng nó làm cơ sở phân tích hệ
thống tài chính Việt Nam và cuối cùng đưa ra đề nghị về việc sửa đổi Luật
tín dụng Việt Nam hiện nay nhằm tạo ra đê chắn để tránh cho các mất cân
đối bình thường trong nền kinh tế thị trường trong tương lai khỏi biến
thành bão tố khủng hoảng.
Luật Tín dụng Việt Nam ra đời năm 2010 là một bản sao thô thiển của
Luật Mỹ năm 2000; nó cho phép ngân hàng thương mại đầu tư chứng
khoán, mua cổ phần kiểm soát ngân hàng khác, lập công tài chính và phi
tài chính, lại được phép nhận ký gửi vàng và cho vay bằng vàng và buôn
bán vàng đã tạo lập một hệ thống với độ rủi ro cao; ngược lại Luật cũng
cho phép công ty phi tài chính lập ngân hàng, kể cả nhận tiền ký gửi của
tổ chức. Hệ số vốn tối thiểu, tỷ lệ nợ xấu dường như không được kiểm tra
với các chuẩn mực chặt chẽ.
5
Lệnh cho vay từ chính phủ đối với các ngân
5
Nợ xấu được IMF đinh nghĩa như sau: “Nonperforming loans are defined as
those for which: (a) payments of principal and interest are past due by three
months (90 days) or more, or (b) interest payments equal to three months’(90
Vũ Quang Việt | Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng 7
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
hàng quốc doanh đã đẩy tới lượng tín dụng tăng quá trớn nhằm tài trợ các
công trình quốc doanh thiếu hiệu quả, nhằm đạt tốc độ phát triển vượt
ngoài khả năng, đã tạo nên một nền kinh tế với lạm phát cao, chất lượng
thấp và cuối cùng là tốc độ phát triển thấp, nợ nước ngoài cao, nhiều
doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng nói chung nằm trong diện phá sản.
Bài viết không nhằm đưa ra các đề nghị để giải quyết các khó khăn
trước mắt hiện nay với lý do rất đơn giản là sự thiếu vắng thông tin về tình
hình tài chính tín dụng - những thông tin mà trong bất cứ một nền kinh tế
thị trường nào cũng đều được coi là thuộc quyền biết của công chúng.
6
Bài viết nhằm vào một cái nhìn dài hạn hơn do đó Phần III nhằm phân
tích về Luật Tín dụng Việt Nam và cho rằng với luật như hiện nay thì một
sự kiện mất quân bình nội tại nào đó có thể dễ dàng bị hệ thống tài chính
như hiện nay lạm dụng đưa đến khủng hoảng.
Một số đề nghị rải rác trong bài có thể tóm tắt dưới đây:
1. Xử lý vấn đề doanh nghiệp quốc doanh:
a) Chấm dứt việc đầu tư tràn lan vào chúng và nếu cần chỉ
giữ một số tối thiểu ở mức có thể điều hành hữu hiệu
(một hai chục thay vì trên 3000 như hiện nay).
7
b) Chấm dứt tòan bộ việc đầu tư ngoài ngành, nhất là để
doanh nghiệp làm chủ ngân hàng hay ngược lại (Luật Tín
dụng Việt Nam cho phép mà ngay cả Luật Mỹ cũng
không cho phép. Điều này sẽ bàn sâu ở Phần III).
days’) interest or more have been capitalized (reinvested into the principal
amount) or payment has been delayed by agreement, or (c) evidence exists to
classify a loan as nonperforming even in the absence of a 90-day past due
payment, such as when the debtor files for bankruptcy.”(IMF, BPM6, para.
7.50). Nói gọn lại là nợ được coi là xấu khi (a) người vay không trả được nợ gốc
và lãi từ 90 ngày trở lên, hay (b) khi lãi trong 90 ngày được biến thành nợ gốc,
hoặc được hoãn trả theo hợp đồng, hoặc (c) dù thời gian không trả được thấp hơn
90 ngày nhưng có chứng cứ là người vay đã nộp đơn xin phá sản.
6
Tuy vậy có thể nói qua cách sử lý nợ xấu như sau: Giải pháp:
*Tăng vốn tự có bằng cách phát hành thêm cổ phiểu.
*Write-off (xóa sổ nợ, coi như nợ không đòi được nữa), thanh lý tài sản thế chấp
để có thêm vốn tự có.
*Nhà nước lập công ty mua lại nợ, trả ngân hàng với giá trị thấp hơn tài tản cho
vay và tổ chức đòi nợ. Năm 1999-2000, TQ đã giải quyết nợ xấu của 4 ngân hàng
quốc doanh (chiếm hơn 50% tích sản của hệ thống, với tỷ lệ nợ xấu từ 18-25%)
bằng cách bỏ ra 566 tỷ USD mua lại ½ số nợ xấu của họ, với tiền vốn bỏ ra qua
việc Bộ Tài chính phát hành trái phiếu. Nợ đòi được sau đó chỉ bằng 30% giá trị
nợ xấu. Coi: Michel F. Martin, China’banking system: issues for Congress, Feb.
20, 2012, Congressional Research Service.
7
Theo Tổng cục Thống kê vào năm 2010, số doanh nghiệp nhà nước là 3,283
trong đó 1,777 là doanh nghiệp thuộc trung ương và 1,506 thuộc địa phương.
Vũ Quang Việt | Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng 8
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
c) Mọi quyết định lập doanh nghiệp quốc doanh trung ương
phải được bàn thảo và được Quốc hội thông qua. Chính
phủ cần chấm dứt việc tự ý lập doanh nghiệp và tự ý chi
tiêu vượt ngân sách Quốc hội quyết định, mà ở nhiều
nước việc này bị coi là phạm pháp.
8
2. Xử lý vấn đề tập trung và phân cấp:
a) Cần thực hiện việc tập trung quyền lực đầu tư phát triển
hạ tầng vào 7 vùng thay vào từng tỉnh như hiện nay,
nhằm tránh phí phạm xây dựng trùng lắp, và giảm ảnh
hưởng của địa phương đối với cơ quan trung ương đóng
tại địa bàn tỉnh. Tất cả các cơ quan trung ương từ Ngân
hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ kế hoạch, Tổng cục
Thống kê, v.v. sẽ đóng tại vùng thay vì tại từng tỉnh.
b) Phân cấp vấn đề quản lý công thổ, rừng, bờ biển sông
ngòi giữa trung ương, vùng và tỉnh nhằm thực hiện giúp
việc tập trung quyền lực đầu tư phát triển hạ tầng bàn đến
ở trên.
3. Không phân cấp cho tỉnh phát triển trái phiếu tỉnh ra nước ngoài, và
kiểm soát chặt chẽ việc phát hành trái phiếu tỉnh, nhằm tránh việc
chồng chất nợ công không kiểm soát được.
4. Nâng cao tỷ lệ vốn tự có (vốn để dành hoặc vốn cổ phần) trong
doanh nghiệp để bảo đảm phát triển bền vững. Thật vậy, muốn
phát triển bền vững, các doanh nghiệp dù tư nhân hay nhà nước
phải dựa chủ yếu vào vốn tự có. Tỷ lệ nợ trên vốn (vốn vay mượn
so với vốn tự có) của doanh nghiệp nhà nước đã là 1.77, quá cao
so với tỷ lệ 0.7 ở Mỹ.
9
Với tỷ lệ vốn vay quá cao, lãi suất tăng có
thể nhanh chóng đẩy doanh nghiệp vào chỗ mất khả năng thanh
toán.
5. Nhà nước cũng không thể dựa vào thiếu hụt ngân sách lớn (từ 5-7%
GDP như trong 10 năm nay) để chi tiêu và ra lệnh Ngân hàng Nhà
nước in tiền phân phối tín dụng đặc biệt là cho doanh nghiệp quốc
doanh làm quả đấm thép cho phát triển. Thiếu hụt ngân sách ở
mức 3% GDP đã được nhiều nước coi là đường ranh báo động.
Kích cầu bằng thiếu hụt ngân sách chỉ là biện pháp nhất thời được
8
Lạm chi : Từ năm 2007 đến nay năm nào năm nào chính phủ cũng chi hơn rất
nhiều so với số Quốc hội thông qua, năm 2007 là 31%, năm 2008 là 29%, năm
2009 là 46%. Năm 2010 chưa được kết toán nhưng theo tờ trình sơ bộ của Bộ Tài
chính thì chi vượt 11%. Các thông tin trên là dựa vào so sánh ngân sách quốc hội
thông qua và ngân sách kết toán. Thông tin trên đều có thể tìm trên mạng của Bộ
Tài chính.
9
http://www.federalreserve.gov/releases/z1/current/accessible/b102.htm. Tính
bằng cách lấy net worth chia cho total liabilities.
Vũ Quang Việt | Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng 9
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
sử dụng khi nền kinh tế vì một lý do nào đó rơi vào khủng hoảng
mất cân đối vì giảm cầu; nó không phải là biện pháp nhằm phát
triển kinh tế. Kích cầu bằng cách in tiền sẽ đưa đến lạm phát cao
và bất ổn. Kích cầu bằng tín dụng ở Việt Nam cũng đã được phản
ánh qua tỷ lệ tín dụng trên GDP nhanh chóng tăng từ 35% lên
125% GDP trong khoảng thời gian 2000-2011. Vấn đề này sẽ
được trình bày rõ hơn trong phần đánh giá hệ thống tín dụng Việt
Nam.
6. Sự tăng trưởng quá trớn của tín dụng là do Ngân hàng Trung ương
không có tính độc lập theo chuẩn mực của một nền kinh tế thị
trường với mục đích trên hết là bảo vệ sự ổn định về giá cả trên
thị trường, mà đã hành động theo lệnh của chính phủ in tiền nhằm
xây dựng doanh nghiệp quốc doanh thành quả đấm thép thiếu
hiệu quả. Hậu quả cuối cùng là phá hoại kinh tế.
7. Việc cho phép mở ra quá nhiều ngân hàng qua Luật Tín dụng cũng
chỉ nhằm giúp các địa phương và các nhóm lợi ích tham gia trục
lợi.
8. Tín dụng và hệ thống tài chính phát triển quá trớn và thiếu trong
sạch vì Luật tín dụng không phân biệt giữa ngân hàng thương mại
và ngân hàng đầu tư. Ngân hàng thương mại sử dụng tiền của
khách hàng để cho vay. Còn ngân hàng đầu tư cơ bản hoạt động
trong việc phát hàng lần đầu cổ phiếu và trái phiếu cho doanh
nghiệp, đầu tư vào chứng khoán bằng tiền của chính họ hoặc phục
vụ việc buôn bán lại chứng khoán của khách hàng để lấy dịch vụ
phí. Để giảm tính rủi ro của hệ thống, tránh khủng hoảng lớn, cần
viết lại Luật Tín dụng tạo sự phân biệt trên và chấm dứt việc cho
phép ngân hàng làm chủ doanh nghiệp phi tài chính hoặc doanh
nghiệp phi tài chính mở ngân hàng, lạm dụng để phục vụ chính
nó.
9. Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập chuẩn mực vốn tối thiểu cho
ngân hàng.
10. Ngân hàng Nhà nước cần thiết lập và công bố các thống kê cơ bản
của từng ngân hàng và của hệ thống tài chính tiền tệ, không chỉ
nhằm phục vụ người làm chính sách mà còn cả người sử dụng
ngân hàng.
Phần I: Khủng hoảng ở Mỹ và Việt Nam
Khủng hoảng thường có nguyên nhân từ sự mất cân đối nội tại trong
nền kinh tế, nhưng như Minsky nói nó có thể là bất cứ sự kiện gì: công
nghệ mới, công cụ mới, chính sách mới, giá dầu, v.v. Tuy nhiên cần biết
Vũ Quang Việt | Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng 10
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
rõ nguyên nhân và biểu hiện mới có thể tìm bài thuốc chữa. Khủng hoảng
ở Mỹ là một cuộc khủng hoảng tài chính do các hoạt động rủi ro nhằm
tăng cường nợ, làm giầu nhanh, đã đẩy giá trị tài sản lên quá cao so với
giá trị thật của nó; khi sụp đổ, sự điều chỉnh đã làm giảm giá trị xuống quá
mức; cầu gồm cả chi tiêu của dân chúng và đầu tư của doanh nghiệp giảm
mạnh. Điều này đòi hỏi chi tiêu kích cầu của nhà nước như chi tiêu vào
xây dựng hạ tầng, tăng thời gian hưởng thất nghiệp. Ở Mỹ, việc kích cầu
đầu tư xây dựng hạ tầng không đáng kể. Đảng Cộng hòa lại còn ép chính
phủ cắt chi tiêu. Nền kinh tế kéo dài trì trệ.
Khủng hoảng của Việt Nam cũng tương tự như Mỹ về chính sách cho
phép tăng cường hoạt động rủi ro, kết quả là giá chứng khoán và nhà cửa
nâng lên rất cao. Về nhà cửa, giá cao hơn nhiều nước phát triển. Nhưng
nguyên nhân cơ bản gây ra khủng hoảng ở Việt Nam là hoàn toàn khác
nguyên nhân ở Mỹ, những hoạt động rủi ro, đẩy mạnh cầu là hoàn toàn từ
phía nhà nước, chứ không phải doanh nghiệp tư nhân. Đó là chính sách
tăng tín dụng và tiền tệ quá trớn nhằm phục vụ quốc doanh và tư nhân sân
sau, đầu tư của nhà nước quá cao, vượt quá rất nhiều tiềm năng phát triển
của nền kinh tế. Khi đi vào khủng hoảng, dân cư ở Việt Nam không giảm
cầu như đã xảy ra ở Mỹ. Chính sách tiếp tục kích cầu thêm ở Việt Nam
sau hai lần thất bại kể từ năm 2006 chỉ làm nền kinh tế mất cân đối thêm.
Những điều này sẽ được phân tích thêm phần khủng hoảng kinh tế Mỹ
và Việt Nam ở dưới.
1. Phân tích các cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ
10
Mất cân đối trong nền kinh tế thị trường có nguyên nhân nội tại trong
nền kinh tế thị trường. Đây là điều bình thường. Từ năm 1854 đến nay, ta
thấy ở Mỹ có tất cả 33 cuộc khủng hoảng, trung bình cứ bốn năm rưỡi
một cuộc khủng hoảng (coi bảng 2). Kể từ năm 1945 đến nay khủng
hoảng không biến mất nhưng độ đậm đặc tái phát giảm xuống, trung bình
sáu năm mới có một cuộc khủng hoảng. Riêng từ năm 1990-2006 thời
Clinton và Bush con cầm quyền thì chỉ có hai cuộc khủng hoảng, tức là
tám năm một lần. Và hai cuộc khủng hoảng này lại rất ngắn, chỉ khoảng
tám tháng, thay vì trung bình là 16 tháng. Chính vì lý do trên, nhiều nhà
kinh tế, đặc biệt là Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Alan Greenspan,
tại vị gần 20 năm đã vỗ ngực cho rằng sự hiểu biết về kinh tế đã cho phép
họ quản lý nền kinh tế vĩ mô tuyệt vời hơn, năng suất tiềm năng sẽ cao.
(Năng suất tính một cách đơn giản tăng trung bình 1,5% năm sau khi khử
10
Phần này trích từ Vũ Quang Việt, Học từ khủng hoảng để cải cách, Thời Báo
Kinh tế Sài Gòn, 4/1/2013,
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/68677/Hoc-tu-khung-hoang-
de-cai-cach.html.
Vũ Quang Việt | Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng 11
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
tốc độ tăng lao động là 2% năm). Greenspan lại cố giữ lãi suất quá thấp
trong khi giá thị trường chứng khoán và địa ốc lên ngoài sức tưởng tượng
của nhiều người. Đùng một cái, vào năm 2007, chỉ sau khi Greenspan về
hưu chưa đầy một năm, kinh tế Mỹ suy sụp.
11
Các nhà lý thuyết kinh tế đều thấy rằng cái thực sự làm kinh tế phát
triển sau khi lao động đã toàn dụng (chỉ có nghĩa là về mặt cơ cấu không
thể giảm thất nghiệp xuống thấp hơn) là việc tăng năng suất trong các hoạt
động tạo ra hàng hóa và dịch vụ. Mà tăng năng suất là kết quả của tiến bộ
về khoa học về kỹ thuật, là biết trang bị lao động với tri thức kỹ thuật tiên
tiến, là biết tổ chức sản xuất hợp lý, là biết chọn lựa đầu tư vốn đúng đắn
nhằm đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường, và để đạt được những điều
trên thì phải thiết lập được một thể chế bảo đảm có tự do cạnh tranh,
không có chính sách phân biệt đối xử đối với người sản xuất, không vì lợi
ích phe nhóm.
Tài chính, theo nghĩa tiền tệ, tín dụng, cổ phiếu, trái phiếu và các công
cụ tài chính khác đều là công cụ mang tính trung gian (financial
intermediary). Hoạt động tài chính là hoạt động trung gian
(intermediation), có nhiệm vụ làm cho việc trao đổi hàng hóa thuận lợi,
nhanh chóng và làm cho việc tích tụ vốn tài chính hữu hiệu hơn, và do đó
làm cho nhiều của cải được sản xuất hơn trong một chu kỳ sản xuất so với
nếu không có chúng. Gọi là trung gian bởi vì chúng không thật sự tạo ra
của cải, nhưng làm tăng khả năng sản xuất của những người sản xuất ra
của cải, và do đó thị trường cần đến họ và chi trả cho sự đóng góp của họ,
cũng như chi trả cho các dịch vụ cần thiết khác cho sản xuất như luật sư,
kế toán viên.
Tuy nhiên, khi những nhà tài chính làm giàu cho chính họ qua những
trò chơi tài chính bất thường thì đó là lúc họ tạo ra được trò đánh bạc, tập
hợp được đông đảo dân chúng say sưa làm giàu và vượt khỏi sự kiểm soát
của bất kể một thể chế nhà nước, thường lại được nhà nước tiếp tay, hoặc
ít ra làm lơ với trò đánh bạc của họ. Trò đánh bạc này, nói cho nôm na dễ
hiểu, là trò “móc túi”của cải từ người khác cho vào túi họ. Họ làm giàu
không vì đồng lương do dịch vụ trung gian đưa lại mà vì đã thành công
trong việc tạo ra được sự lên giá một cách vô lý cho những tờ giấy tài
chính hay tài sản phi tài chính không do sản xuất tạo ra khác.
Biểu hiện của sự bất thường này là giá một tờ cổ phiếu lúc trước kia
mua 10 đồng bây giờ có thể bán với giá 100 đồng chẳng hạn, mà không
phản ánh gì lợi nhuận do sức sản xuất tăng trong tương lai của nó. Hay
việc lên giá gấp nhiều lần của một cơ sở địa ốc (thực chất là đất thôi, một
tài sản phi tài chính không do sản xuất tạo ra) - không phải là vì địa điểm
cũ bỗng trở thành điểm thương mại đắc địa mà chỉ vì tâm lý đánh bạc. Giá
11
Coi chi tiết về cuộc khủng hoảng ở đây:
http://en.wikipedia.org/wiki/Financial_crisis_of_2007%E2%80%932008.
Vũ Quang Việt | Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng 12
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
nhà trở thành phi lý khi một người có đồng lương rất cao từ sản xuất dù
làm cả đời cũng không thể mua được, và nếu đem kinh doanh cho thuê
không thể bù đắp được chi phí. Khi biểu hiện lên giá không chỉ xảy ra với
một vài công ty có khả năng kỹ thuật mới và do đó có khả năng tạo ra thị
trường mới như Google, Apple mà xảy ra với toàn bộ nền kinh tế thì
không chóng thì chầy bong bóng sẽ vỡ. Khi bong bóng vỡ, những kẻ ma
mãnh tài chính lại được nhà nước đứng ra cứu bằng chính tiền thuế của
dân vì sợ khủng hoảng sẽ trầm trọng hơn. Chỉ có người dân bình thường
là thiệt.
Nhìn nền kinh tế nói chung, lý thuyết kinh tế đã vạch ra là giá, lãi và
tốc độ phát triển về dài hạn phải đi đôi với nhau. Không thể có tỷ lệ lãi
hay lợi nhuận thực trong dài hạn (sau khi khử lạm phát) - gọi chung là lãi
suất - vượt quá khả năng tăng GDP. Nếu GDP tiềm năng tăng 3% thì lãi
suất cũng sẽ ở khoảng 3%. Lãi suất có thể là hàn thử biểu để xem xét tình
hình kinh tế. Giá trị của cố phiếu trên thị trường có quá đà hay không tùy
thuộc vào lãi suất thực sự chúng có thể tạo ra. Thí dụ lãi suất (lãi/giá tài
sản) 3,5% thì giá tài sản/lãi (số nghịch đảo) hay là tỷ số P/E là 29. Thông
thường, chỉ số giá nếu điều hành khéo tăng khoảng 3% một năm, lãi suất
theo giá hiện hành phải là 6,5% và tỷ số P/E tính theo giá hiện hành là 15.
Số liệu về tốc độ tăng GDP, giá và tỷ số P/E nói ở trên phản ánh kinh
tế Mỹ tính từ năm 1929-2010. Nhìn vào bảng 1 về chỉ số P/E trên thị
trường Mỹ ta thấy là khi chỉ số giá cố phiếu (P/E) vượt mức trung bình
khoảng 15-20 thì khủng hoảng nổ ra, và khi cao tới mức 30 hay 45 thì
bong bóng tất vỡ mạnh. Chỉ số P/E quá cao có nghĩa là người đầu tư đã
quá hồ hởi bởi những “phân tích”ăn theo của giới truyền thông để sẵn
sàng chấp nhận mua giá cao với kỳ vọng phát triển vượt bực trong tương
lai sẽ xảy ra để họ có được mức lãi cao, hoặc bán lại với giá cao hơn. Khi
lãi thực tế tiếp tục quá thấp, P/E trở nên quá cao, đưa đến sự sụp đổ của
giá cổ phiếu.
Vũ Quang Việt | Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng 13
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
Như đã nói, ở Mỹ, GDP tăng bình quân năm, từ năm 1970 đến nay, là
3,5%, và có khuynh hướng giảm. Nhưng có khoảng thời gian bốn năm, từ
năm 1997-2000, GDP tăng vượt trội lên 4-5% năm. (Nguyên nhân GDP
tăng vượt trội thời điểm này cũng là điều nên xem xét, trong đó có ảnh
hưởng của giá nhập khẩu giảm mạnh). Lúc đó, cũng là lúc Clinton nắm
chính quyền, các nhà kinh doanh tài chính hồ hởi cho rằng nền kinh tế Mỹ
đã bước vào giai đoạn mới với năng suất tăng cao chưa từng thấy vì sự
phát triển của công nghệ thông tin, mặc dù các nhà phân tích kinh tế
không tìm thấy năng suất vượt trội này. Clinton và Alan Greenspan, Chủ
tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), cũng hùa theo đám đông.
Để mở rộng cho việc huy động tư bản dễ dàng, năm 1999 Clinton và
các nhà hoạt động tài chính đưa ra quốc hội xóa bỏ đạo luật Glass-
Steagall ra đời năm 1933 nhằm xóa bỏ các kiểm soát hoạt động tài chính.
Ngân hàng thương mại được phép tham gia tất cả mọi hoạt động tài chính
đầy rủi ro như kinh doanh cổ phiếu và các công cụ tài chính phái sinh mới
(financial derivatives), mà không có luật lệ, quy định kiểm tra thật giả,
nhằm bảo vệ khách hàng. Luật hạn chế lãi suất tiết kiệm cũng bị xóa. Tất
cả các thay đổi trên là nhằm mở cửa cho tự do cạnh tranh bằng lãi suất để
thu hút vốn. Thị trường chứng khoán tăng kỷ lục, chỉ số giá cổ phiếu trên
lãi (P/E) đạt chỉ số gần 45. Sau đó, việc phải đến đã đến, nền kinh tế rơi
vào khủng hoảng mạnh vào năm 2007. Tình trạng xảy ra không khác mấy
so với đại khủng hoảng bắt đầu từ năm 1929.
2. Phân tích về khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam
Lý do chính đưa đến khủng hoảng kinh tế là chính sách kích cầu của
chính nhà nước bắt đầu từ năm 2006 và cũng đã tiềm ẩn trước đó. Việt
Nam như vậy trong rất nhiều năm có tỷ lệ đầu tư so với GDP thuộc loại
Vũ Quang Việt | Khủng hoảng và hệ thống tài chính tín dụng 14
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2013
cao nhất thế giới ngoài Trung Quốc. Tỷ lệ tăng tiền, tín dụng và do đó gây
ra lạm phát (trên cơ sở tăng giá tiêu dùng) cao nhất thế giới, và không có
ngoại trừ (coi bảng 3). Chỉ nhìn vào tình trạng đầu tư quá trớn so với để
dành của nền kinh tế trong suốt thời gian 2007-2010 là ta nhận ngay ra
vấn đề. Đầu tư cao hơn để dành, nhiều năm đạt đến mức 16-17% GDP
(xem số liệu ở bảng 4 ở dưới). Để giải quyết thì chỉ có hai cách: vay mượn
nước ngoài, đồng thời phát hành tiền tệ tín dụng ghê gớm để rồi ngày
càng nợ như chúa chổm và lạm phát phi mã như những năm vừa qua. Với
lạm phát phi mã, hối suất không được điều chỉnh theo đã khiến hàng hóa
nước ngoài rẻ, tạo ra nhập siêu lớn chưa từng thấy, đạt đỉnh 18 tỷ US vào
năm 2008 (coi bảng 3).
Bảng 3. Tốc độ tăng tiền, tín dụng và chỉ số giá tiêu dùng, nhập
siêu hàng năm
2006 2007 2008 2009 2010 2011
Tốc độ tăng cung tiền 34% 46% 20% 29% 33% 12%
Tốc độ tăng tín dụng 25% 50% 28% 46% 32% 14%
Lạm phát (CPI) 7.1% 8.3% 23.1% 5.9% 10.0% 18.6%
Tỷ lệ thay đổi hối suất 0.9% 0.7% 1.2% 4.7% 9.1% 10.1%
Nhập siêu (tỷ US) -5.1 -14.2 -18.0 -12.9 -12.6 -9.8
Nguồn: ADB
Bảng 4. Tỷ lệ đầu tư so với GDP
2000-2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
(1) Đầu tư/GDP 33% 36% 37% 43% 40% 38% 39% 33%
(2) Để dàng/GDP 28% 28% 26% 23% 23% 23% 24%
Khác biệt (1)&(2) 7% 9% 17% 16% 16% 16% 8%
Chính vì đầu tư quá trớn mà nợ công ngày càng tăng. Khu vực công
theo như định nghĩa trong Hệ thống Tài khoản Quốc gia của Liên Hợp
Quốc gồm khu vực dịch vụ nhà nước (chính phủ) và doanh nghiệp nhà
nước.
12
Với định nghĩa này nợ công có thể lên tới 129 tỷ USD (bằng
106% GDP vào năm 2011), trong đó nợ của doanh nghiệp là 62.1 tỷ.
12
United Nations, System of National Accounts 2008, para. 22.15,
http://unstats.un.org/unsd/nationalaccount/docs/SNA2008.pdf “The public sector
includes general government and public corporations.”Đoạn 22.15 viết: “Khu
vực công bao gồm dịch vụ chính phủ và doanh nghiệp quốc doanh.”Doanh
nghiệp quốc doanh bao gồm cả doanh nghiệp mà nhà nước nắm quyền quyết định
tối hậu dù không nắm đa số tỷ lệ cổ phiếu quyết định. Thường thì nếu nhà nước
nắm 51% cổ phiểu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó được xếp vào doanh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét