LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Qui hoạch phát triển ngành than việt nam giai đoạn 2006-2015": http://123doc.vn/document/1053345-qui-hoach-phat-trien-nganh-than-viet-nam-giai-doan-2006-2015.htm
hiện đại cho ngành Dựa vào các chỉ tiêu này có thể đưa ra nhận định
chung về tiềm năng và khả năng phát triển ngành ( nhanh, trung bình, yếu),
xác định vai trò của ngành trong hệ thống kinh tế, vai trò thu hút lao động
của ngành, khả năng hiện đại hoá công nghệ ( tiên tiến, trung bình, lạc
hậu)
b) Đánh giá các nhân tố đầu vào cho phát triển ngành
Những nhân tố đầu vào cho phát triển ngành gồm: điều kiện tự nhiên,
nguyên liệu, cung cấp điện, nước, lao động. Cần đánh giá mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố đầu vào đối với sự phát triển của ngành. Từ đó đưa ra
được các kết luận cụ thể: Mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến
phát triển ngành (là thuận lợi hay khó khăn); khả năng cung cấp nguyên
liệu cho sản xuất ngành ( bao gồm cả nguyên liệu từ khoáng sản và nguyên
liệu nông lâm ngư nghiệp) là dồi dào hay khan hiếm; đánh giá nguồn vốn
đầu tư, lao động lành nghề cung cấp cho ngành là nhiều hay ít.
c) Phân tích ảnh hưởng của bối cảnh thế giới đến phát triển ngành
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế đến sự phát triển
của ngành phải quan tâm đến những vấn đề: Ý kiến của các chuyên gia
chuyên ngành; quan điểm của các chuyên gia kinh tế đánh giá chung về
ngành;khảo sát các số liệu cơ bản theo các chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động
của ngành trên phạm vi thế giới và khu vực; xếp hạng mức độ cạnh tranh
của sản phẩm. Từ đó rút ra được các nhận định cơ bản về tình hình phát
triển của ngành trên thế giới (nhanh/ chậm), xu thế phát triển của ngành
trên thế giới và khu vực( then chốt/ bình thường), tình hình cạnh tranh sản
phẩm của ngành trên thế giới và trong nước tác động đến phát triển ngành
trong tương lai là mạnh/ trung bình hay yếu.
d) Đánh giá chung về thuận lợi, khó khăn và hướng khai thác
Tổng hợp các phân tích trên để đưa ra những kết luận chính:
5
- Những thuận lợi, khó khăn của ngành ( cơ hội và thách thức).
- Hướng khai thác trong tương lai ( phát triển hay không phát triển).
2.2. Đánh giá hiện trạng qui hoạch phát triển ngành
Mục đích của việc phân tích, đánh giá hiện trạng qui hoạch phát triển
ngành là: Đánh giá toàn bộ hiện trạng ngành theo các chỉ tiêu cơ bản như
khai thác tài nguyên, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu ngành, phân bố theo lãnh
thổ, đầu tư, lao động, công nghệ ; Đưa ra kết luận về kết quả đạt được,
những khó khăn gặp phải, những nguyên nhân chính và hướng giải quyết.
Việc đánh giá hiện trạng ngành cần tránh mô tả chung chung về thành tích
và hạn chế mà phải đảm bảo đạt được một số yêu cầu sau:
- Đánh giá trình độ phát triển ngành trong tương quan với các ngành
cũng như đối với cùng ngành trên thế giới.
- Đánh giá bối cảnh chung và mức độ cạnh tranh của ngành, sản phẩm
trong nền kinh tế quốc dân.
- Rút ra bài học (những qui luật phát triển) của ngành trong thời gian
qua. Xác định những điểm cần phải phát huy hoặc cần phải khắc phục
trong giai đoạn tới.
- Đánh giá được sự phân bố ngành, cơ cấu ngành theo vùng lãnh thổ
đưa ra nhận xét về sự hợp lý hay chưa.
- Những kết luận rút ra từ phân tích, đánh giá hiện trạng qui hoạch
phát triển phải là một trong những cơ sở để đề ra mục tiêu và phương
hướng cần khắc phục và phát huy trong giai đoạn tới.
a) Đánh giá kết quả công tác qui hoạch phát triển ngành trong 5-10 năm
- Đánh giá qui mô, tốc độ tăng trưởng ngành: Thông qua các chỉ tiêu
tính toán về: Giá trị sản xuất, số lượng các loại nguyên liệu cung cấp cho
ngành, nhịp độ tăng trưởng GTSX, GDP, nhịp độ tăng trưởng GDP, diện
tích, năng xuất, sản lượng các sản phẩm chủ yếu của ngành, nhịp độ tăng
trưởng của các sản phẩm chủ yếu, qua các năm. Từ đó đưa ra các kết luận
6
cơ bản về qui mô phát triển của ngành trong thời gian qua; mức độ phát
triển của ngành trong giai đoạn vừa qua; khả năng cạnh tranh.
- Đánh giá về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành: Mục đích chính là
tính toán đóng góp của ngành trong toàn bộ nền kinh tế, đồng thời xác định
sự chuyển dịch sự đóng góp đó qua các năm của ngành. Thông qua các chỉ
tiêu tính toán: tỷ trọng GTSX, GDP của ngành trong tổng GTSX, GDP cả
nền kinh tế; cơ cấu GTSX, GDP, vốn đầu tư, lao động theo các sản phẩm
hoặc theo các phân ngành, theo các mốc thời gian; đánh giá và phân tích
kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành. Từ đó đưa ra các nhận định
chính về qui mô sản xuất ngành trong nền kinh tế, cơ cấu các phân ngành,
so sánh cơ cấu qua các mốc để đưa ra kết luận về hướng chuyển dịch cơ
cấu ngành.
b) Đánh giá hiện trạng ngành
- Đánh giá trình độ và khả năng phát triển khoa học - công nghệ của
ngành: Đối với các ngành sản xuất công nghệ đóng vai trò quyết định trong
quá trình phát triển. Trong điều kiện hội nhập toàn cầu đổi mới công nghệ
mang lại khả năng cạnh tranh cao. Đánh giá mức độ hiện đại hoá công nghệ
cho ngành sẽ được tính toán từ các chỉ tiêu: thống kê trang thiết bị theo các
thế hệ công nghệ ( cũ/mới); tỷ lệ trang bị hiện đại/đơn vị sản phẩm; tỷ lệ
trang bị hiện đại/GTSX ngành; tình hình nghiên cứu và triển khai (R&D)
của ngành. Từ đó đưa ra những kết luận cơ bản đánh giá mức độ hiện đại
hoá của ngành, trình độ trang bị công nghệ mới, khả năng đổi mới công
nghệ cho ngành.
- Đánh giá về hoạt động đầu tư cho phát triển ngành: Sử dụng các chỉ
tiêu: Tổng số vốn đầu tư và cơ cấu đầu tư cho ngành qua các năm theo các
phân ngành; tốc độ tăng vốn đầu tư cho ngành qua các năm; cơ cấu vốn đầu
tư theo các sản phẩm hoặc theo các phân ngành ( vốn đầu tư theo nguồn
cung cấp, trong nước- nước ngoài, nhà nước và ngoài quốc doanh ); suất
đầu tư ( vốn đầu tư/ GTSX); khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư trong
7
ngành; hệ số ICOR theo các năm và theo sản phẩm hoặc phân ngành. Để
đưa ra được các kết luận về qui mô đầu tư, cơ cấu đầu tư theo ngành, theo
nguồn, hiệu quả đầu tư.
- Nguồn nhân lực cho ngành: Thống kê số lao động, phân loại trình độ
và khả năng cung ứng lao động cụ thể cần tính toán: số lượng lao động
trong ngành qua các năm, theo các sản phẩm hoặc các phân ngành ( số lao
động trong ngành theo mức độ đào tạo: lao động phổ thông/ lao động qua
đào tạo; công nhân/kĩ sư/thợ lành nghề ); năng suất lao động qua các năm;
thu nhập của lao động trong ngành qua các năm; đánh giá khả năng đào tạo
nguồn nhân lực cho phát triển ngành. Rút ra các kết luận về tình hình lao
động cho phát triển ngành giai đoạn qua ( thiếu hay dư thừa), cơ cấu lao
động theo trình độ đào tạo đã hợp lý hay chưa, năng suất lao động là cao
hay thấp.
c) Đánh giá hiện trạng phân bố ngành trên các vùng lãnh thổ
Khảo sát và đánh giá sự phát triển của ngành trên các vùng lãnh thổ
thông qua các số liệu thống kê về:
- Số lượng cơ sở sản xuất của ngành theo các vùng;
- GTSX ( GDP) ngành theo các vùng, tốc độ tăng trưởng của GTSX
(GDP) ngành theo các vùng;
- Cơ cấu ngành và các phân ngành theo các vùng lãnh thổ;
- Các khu công nghiệp tập trung trên các vùng.
Từ đó đưa ra những nhận xét về tính hợp lý của tình hình phân bố
ngành, khai thác nguồn lực của các vùng, hiệu quả hoạt động của các khu
công nghiệp khu tập trung khai thác.
d) Tổng hợp đánh giá chung
Sau những phân tích và nhận xét cụ thể về các mặt trên của ngành ta
đưa ra các kết luận chung về tính hợp lý trong công tác qui hoạch hiện tại
của ngành, những điểm mạnh và những tồn tại chủ yếu cần khắc phục.
Đồng thời nêu được nguyên nhân của các thành công và hạn chế đó.
8
2.3. Luận chứng phương hướng phát triển
Trước tiên cần dự báo được các yếu tố tác động đến phát triển ngành,
trong đó có phân tích, dự báo đầy đủ yếu tố thị trường và yêu cầu về năng
lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Các nội dung dự báo bao gồm: dự
báo khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào cho phát triển ngành như
nguyên, nhiên, vật liệu, điện nước, ; Dự báo về khả năng đổi mới công
nghệ của ngành; Dự báo nhu cầu và khả năng cung cấp vốn đầu tư; Dự báo
về nhu cầu và khả năng cung cấp lao động theo các trình độ đào tạo. Dựa
vào các dự báo này làm căn cứ để đưa ra định hướng qui hoạch phát triển
đảm bảo tính cân đối trong qui hoạch phát triển ngành
Trong phần này phải đưa ra được quan điểm và mục tiêu phát triển
ngành trong thời kì qui hoạch. Ngoài những quan điểm, mục tiêu có tính
chất định hướng của phát triển kinh tế nói chung cần nêu ra những quan
điểm, mục tiêu thật cụ thể đối với ngành tuỳ thuộc vào vị trí, đặc thù và bối
cảnh lịch sử của ngành. Nội dung quan điểm phát triển của ngành phải phù
hợp với quan điểm phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, thể hiện sự
lựa chọn những vấn đề ưu tiên cho ngành, quan điểm hội nhập trong cơ chế
thị trường. Đối với mục tiêu còn tuỳ thuộc vào từng ngành cụ thể, song cần
thể hiện được sự phát triển bền vững, trước tiên là mục tiêu hiệu quả, mục
tiêu đáp ứng những nhu cầu xã hội và đảm bảo ổn định môi trường. Những
mục tiêu cụ thể bao gồm các chỉ tiêu về số lượng về tốc độ tăng trưởng,
doanh thu, xuất khẩu, lao động, đầu tư, của ngành
Phải đưa ra phương hướng phát triển ngành theo các tiêu chí chung và
các sản phẩm đặc biệt chú ý đến các sản phẩm chủ lực. Nêu được hướng đi
và các chỉ tiêu định lượng theo hướng đi ra của ngành, tìm kiếm thị trường
cho các sản phẩm.
Cuối cùng là đưa ra luận chứng về các phương án qui hoạch phát triển
cho ngành. Các phương án phát triển cần phải thể hiện được khả năng phát
triển theo hướng hiện đại hoá trong điều kiện hội nhập, xác định rõ vai trò
9
của nhà nước trong quản lý ngành, nêu bật được khả năng cạnh tranh của
ngành trong cơ chế thị trường, hiệu quả kinh tế ngành. Cần đưa ra được 2-3
phương án để lựa chọn, các phương án đi liền với các điều kiện ở mức độ
thấp/ trung bình/ cao. Các phương án cần thể hiện được các chỉ tiêu về nhịp
độ tăng trưởng của GTSX, GDP, doanh thu, xuất khẩu, phải thể hiện
được cơ cấu hợp lý của các phân ngành và các sản phẩm. Đặc biệt phải thể
hiện được ý đồ sắp xếp phân bổ các cơ sở sản xuất của ngành theo vùng
lãnh thổ. Đồng thời thể hiện được nhu cầu về vốn đầu tư theo các nguồn,
nhu cầu về lao động theo trình độ đào tạo. Từ việc tính toán các chỉ tiêu và
phân tích kĩ lưỡng các phương án phải cuối cùng phải lựa chọn được
phương án hợp lý cho qui hoạch. Rút ra các kết luận về:
- Tăng trưởng kinh tế ngành trong giai đoạn qui hoạch;
- Cơ cấu ngành, phân ngành, cơ cầu vùng;
- Phân bố các cơ sở sản xuất của ngành theo vùng;
- Phân bố các cơ sở sản xuất trong các khu công nghiệp;
- Chọn các sản phẩm mũi nhọn và hướng phát triển các sản phẩm mũi
nhọn ấy ở đâu (vùng nào). Mạng lưới sản xuất, phân phối, tiêu thụ.
Đối với luận chứng phương án phân bổ ngành trên các vùng lãnh thổ,
nhất là đối với các công trình then chốt cần đưa ra các kết luận về: Các cơ
sở sản xuất của ngành và qui mô của chúng theo các vùng (đặc biệt là các
công trình then chốt); Phân bố nguồn vốn đầu tư theo vùng; Phân bố lao
động theo trình độ đào tạo theo vùng; Cơ cấu ngành, sản phẩm chủ lực và
các điều kiện chủ yếu đảm bảo mục tiêu qui hoạch được thực hiện (đầu tư,
công nghệ, lao động).
2.4. Các giải pháp và tổ chức thực hiện qui hoạch
Nội dung này đưa ra các giải pháp cần thiết để thực hiện các mục tiêu
của qui hoạch và xác định khả năng thực hiện các giải pháp đó. Các giải
pháp đưa ra phải thoả mãn được các tiêu chí: tiết kiệm năng lượng, tiết
10
kiệm vốn, tạo nhiều việc làm, đổi mới công nghệ. Không nêu dàn trải các
giải pháp mà tìm những giải pháp chủ yếu nhất để thực hiện qui hoạch,
không nêu chung chung mà cần có tính toán cụ thể khả năng thực hiện các
giải pháp đó. Phải đưa ra được tiến độ thực hiện cho các thời kì qui hoạch
và đề xuất những chương trình lớn, những dự án kêu gọi đầu tư xây dựng.
Cụ thể đối với những giải pháp về vốn đầu tư cần phải nêu rõ nhu cầu
về vốn đầu tư. Xác định khả năng huy động vốn: Từ nguồn vốn trung ương,
vốn địa phương, vốn doanh nghiệp,vốn huy động trong dân, vốn huy động
từ nước ngoài. Cần tính toán cơ cấu vốn hợp lý và các giải pháp huy động
để đáp ứng yêu cầu;
Các giải pháp về chính sách, cơ chế cần chú trọng đến các cơ chế tổ
chức sản xuất có hiệu quả;
Giải pháp về khoa học công nghệ cần nêu rõ những yêu cầu và biện
pháp trang bị, đổi mới công nghệ hiện đại;
Cần nêu rõ nhu cầu nguồn nhân lực, cơ cấu nguồn nhân lực và khả
năng đáp ứng nguồn nhân lực trong từng giai đoạn qui hoạch đồng thời gắn
với xây dựng các cơ sở đào tạo, dạy nghề tại khu vực sản xuất và khuyến
khích doanh nghiệp tổ chức đào tạo;
Đối với danh mục công trình, dự án đầu tư trọng điểm và tổ chức thực
hiện, qui hoạch phải xác định được danh mục các dự án đầu tư dài hạn và
xây dựng những dự án ưu tiên, cần thiết cho những giai đoạn 1 đến 5 năm
trước mắt.
Về tổ chức thực hiện, qui hoạch phải được thông báo cho các cấp địa
phương và công khai cho người dân được biết về các nội dung của qui
hoạch khi mà qui hoạch được phê duyệt. Phải phân tích trách nhiệm giữa
các cấp ngành liên quan như bộ chủ quản, các ngành liên quan, các tổ chức
quốc tế khác trong việc thực hiện qui hoạch. Phải xây dựng được cơ chế
điều hành phối hợp giữa các cấp. Phối hợp trong việc kiểm tra, giám sát
thực hiện qui hoạch
11
2.5. Phần phụ lục
Đây là phần cuối cùng bao gồm hệ thống các bảng biểu số liệu và biều
đồ miêu tả hiện trạng phát triển ngành và dự báo khả năng phát triển ngành
trong thời kì qui hoạch. Ngoài ra có thể có các phụ biểu về hiệu quả đầu tư,
tính cạnh tranh của ngành.
II. Sự cần thiết phải lập qui hoạch phát triển ngành than
1. Sơ lược về lịch sử ngành than
Công tác khai thác mỏ than nước ta đã được bắt đầu cách đây 168
năm. Dưới triều Minh Mệnh, tháng 12- 1839, Tổng đốc An Hải là Tôn Thất
Bật đã dâng sớ xin triều đình cho thuê dân công lập công trường để khai
thác than ở núi An Lăng (xã An Thọ, huyên Đông Triều). Thời đó nghề đào
than hết sức đơn sơ, chỉ lấy than ở điểm lộ.
Công tác đi tìm mỏ được người Pháp quan tâm và tiến hành đầu tiên ở
Bắc Kì vào những năm 1881-1883. Đến cuối năm 1888 toàn bộ khu mỏ
Quảng Ninh đã trở thành thuộc địa của Pháp và được phân chia cho các tập
đoàn tư bản Pháp khai thác. Cuối năm 1906 ở vùng thượng du Bắc Kì
nhiều điểm than được phát hiện và tổ chức khai thác như Đồng Đỏ ( Hà
Tĩnh), Khe Bố ( Nghệ An), Làng Cẩm, Quán Triều ( Thai Nguyên), Từ
đây công nghiệp khai thác than ra đời, đây là ngành công nghiệp ra đời sớm
nhất và phát triển nhanh nhất. Những năm 20 của thế kỷ XX, bên cạnh các
công ty khai thác than của Pháp, một số nhà tư bản Việt Nam cũng đã đầu
tư khai thác mỏ như: Bạch Thái Bưởi, Pham Kim Bảng, Nguyễn Hữu Thu,
Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, ngành khai thác than chia làm
2 vùng: ở vùng tự do, công tác khai thác than và quản lý mỏ do Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam quản lý; Trong vùng bị tạm chiếm Công ty SFCT
khôi phục và mở rộng khai thác. Khi vùng Quảng Ninh được hoàn toàn giải
phóng, căn cứ theo Hiệp định đã kí kết với công ty Than Bắc Kì của Pháp
12
thì công ty này nhượng lại tất cả máy móc, thiết bị, dụng cụ, vật tư dự trữ
cho Việt Nam và Chính phủ trả dần hàng năm cho Pháp bằng than.
Khi đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, 5-8-1964, Vùng mỏ
bị đế quốc Mĩ tấn công ác liệt, cán bộ và công nhân vùng mỏ quyết tâm sản
xuất tha thời chiến, tổ chức sơ tán thiết bị máy móc, vừa sản xuất , vừa
chiến đấu. Thợ mỏ bắn rơi nhiều máy bay Mĩ, binh đoàn than và Tây
Nguyên được thành lập. Thời kì 1965-1974 ngành than đã sản xuất được
29,7 triệu tấn than. Sau ngày miền Nam được giải phóng, sản lượng than
tăng dần, đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế và giữ vai trò
then chốt trong việc đảm bảo an toàn năng lượng quốc gia. Bước vào thời
kì đổi mới, nhất là sự ra đời của Tổng công ty Than Việt Nam (10-10-
1994), cán bộ công nhân viên ngành than đã mạnh dạn thay đổi tư duy kinh tế.
Trải qua lịch sử khai thác hơn 100 năm từ thời thuộc Pháp, sau những
năm hoà bình lập lại, trong qua trình khôi phục và phát triển kinh tế, việc
khôi phục khai thác than tại Quảng Ninh đóng một vai trò quan trọng. Việc
tổ chức lực lượng kĩ thuật trong đó lực lượng thiết kế và tư vấn kinh tế là
một biện pháp xây dựng và phát triển ngành than.
2. Vai trò của ngành than
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và phát triển của toàn thế giới, Việt
Nam cũng đang có những biến chuyển to lớn. Với sự kiện ra nhập tổ chức
thương mại thế giới WTO và tổ chức thành công hội nghị ASEAM năm
2006 Việt Nam đã chứng tỏ với thế giới con đường đi mở cửa, thông
thoáng của mình. Chúng ta đã trở thành một thành viên phát triển không
tách rời nền kinh tế thế giới. Đây thực sự là một bước đi đúng đắn, nó thể
hiện ở sự đổi mới đang diễn ra hàng ngày từ mọi góc cạnh, diện mạo của
nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao vào loại nhất nhì thế giới. Chúng ta
đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh để đi lên một nước công nông
nghiệp hiện đại. Trong giai đoạn này công nghiệp và dịch vụ sẽ phát triển
13
nhanh hơn nông nghiệp. Sự phát triển công nghiệp với tốc độ cao đòi hỏi
tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Hiện nay sự khan hiếm năng lượng, cạn kiệt
tài nguyên là một vấn đề toàn cầu chứ không riêng gì Việt Nam. Các nguồn
năng lượng sạch đã được đầu tư nghiên cứu và khai thác nhưng sản lượng
còn nhỏ không thể nào thay thế được những nguồn năng lượng truyền
thống. Đặc biệt ở Việt Nam, chúng ta chưa có điều kiện ( cả về vốn và kĩ
thuật) để khai thác sử dụng những nguồn năng lượng này. Trong điều kiện
như vậy thì những nguồn năng lượng truyền thống: than, dầu khí, thuỷ điện
đóng vai trò chủ chốt quyết định sự phát triển của nền kinh tế. Việt Nam là
một nước nhiệt đới sự phân hoá thời tiết thành hai mùa mưa và khô rất rõ
rệt nên nguồn thuỷ điện cung cấp là không ổn định. Thêm vào đó là sự tăng
trưởng nóng của nền kinh tế đòi hỏi năng lượng cao phục vụ cho sinh hoạt
và sản xuất. Chính vì vậy vai trò của ngành than càng trở nên quan trọng
hơn đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Việt Nam có may mắn là một trong những nước được thiên nhiên ưu
đãi có trữ lượng than lớn và chất lượng tương đối tốt. Ngành công nghiệp
khai thác than đã có lịch sử hơn 100 năm phát triển, ngày nay đã được đầu
tư hơn về kĩ thuật và vốn mang lại hiệu quả kinh tế lớn, đóng góp đáng kể
vào GDP cả nước.
Than với công nghiệp điện
Hiện nay Việt Nam có 17 nhà máy nhiệt điện cung cấp khoảng 30%
sản lượng điện cho cả nước. Nguyên liệu than sử dụng cho nhiệt điện
chiếm khoảng 30-50% tổng sản lượng ngành than. Những con số đã phần
nào cho thấy vai trò của ngành than đối với ngành công nghiệp điện. Đặc
biệt là trong tình trạng thiếu điện trầm trọng như hiện nay thì 30% tổng sản
lượng điện cả nước quả thực là một con số vô cung ý nghĩa. Trong giai
đoạn tới ngành than còn tính tới việc tăng cường cung cấp than cho nhiệt
điện để đảm bảo năng lượng cho phát triển kinh tế đất nước trong cả
phương án tăng trưởng bình thường và tăng trưởng cao.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét