3.Lợi ích của quan hệ thơng mại Việt Nam-Mỹ.
Việt Nam và Mỹ đều có chung một mục tiêu cơ bản là thúc đẩy thơng mại phát
trriển ,tạo dựng cơ hội tham gia vào thị trơng của nhau trên cơ sở bình đẳng cùng
có lợi .
Đối với Mỹ :
Việt Nam theo đánh giá của Mỹ ,là một nớc đang hớng nhanh tới nền kinh tế thị
trờng .Mỹ không còn con đờng nào khác là nhannh chóng xác lập sự có măt của họ
trên thị trờng Việt Nam. Bên cạnh đó,Việt Nam còn nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú và đa dạng, trong đó nhiều loại có giá trị kinh tế lớn lại có một nguồn
nhân lực dồi dào, một thị trờng tiêu thụ cũng lớn. Việt Nam lại là nớc nằm trong
một khu vực phát triển năng động nhất thế giới, có thời cơ thuận lợi để hội nhập và
giao lu kinh tế khu vực cũng nh sẽ tham gia vào các tổ chức kinh tế quan trọng.
Nhận thấy đợc cơ hội đó, Việt Nam cũng đang u tiên đẩy mạnh quan hệ kinh tế
với hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và các nớc trong khu vực Châu á
-Thái Bình Dơng. Nền kinh tế Việt Nam thành công nằm trong sự quan tâm của
Mỹ bởi họ có thêm thị trờng mới để tăng cờng buôn bán đầu t,tăng cờng ảnh hởng
của mình đối với khu vực Châu á -Thái Bình Dơng cũng nh tạo dựng một hình ảnh
mới của Mỷ khu vực Đông Nam á -Việt Nam đã và đang từng bớc trở thành một
nhân tố đáng kể để Mỹ phải tính đến trong chiến lợc kinh tế Châu á-Thái Bình D-
ơng.
Đối với v iệt n am :
Hợp tác sâu, rộng hơn nữa về kinh tế, thơng mại với Mỹ cũng là một trong
những mục tiêu của Việt Nam. Bởi có thể nói Mỹ là một nền kinh tế hùng hậu và
hiệu quả nhất. Sản xuất công nghiệp của Mỹ chiếm 20% sản lọng công nghiệp thế
giới. Lao động nông nghiệp tuy chỉ chiếm 2% dân số nhng xuất khẩu các sản phẩm
nông nghiệp mỗi năm đạt 50 tỷ USD. Hiện nay, Mỹ là một trong số những thị trờng
xuất khẩu lớn nhất thế giới chiếm 13,5% thị trờng xuất khẩu thế giới. Mặc dù là
một nớc công nghiệp phát triển với nền công nghiệp hiện đại điện tử tin học
viễn thông phát triển mạnh, Mỹ vẫn là nớc xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ hai trên thế
giới, xuất khẩu gạo lớn th ba thế giới và nông sản Mỹ chiếm 21% khối lợng nông
sản nói chung của thế giới. Tuy vậy, Mỹ cũng là nớc nhập khẩu chiếm thị phần lớn
trên thế giới khoảng 15% kim ngạch của thế giới. Mỹ hiện vẫn là nuớc nhập khẩu
thuỷ sản và hàng dệt may lớn nhất thế giới.
Bên cạnh đó, Mỹ là một quốc gia chi phối hầu hết các tổ chức kinh tế quốc
tế nh: Tổ chức Thơng mại thế giới ( WTO), Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức tiền
tệ quốc tế (IMF) bởi Mỹ là nớc có tiềm lực về tài chính, đóng góp nhiều. Nh vậy
ta thấy, thị trờng Mỹ to lớn, công nghệ hiện đại và trí thức quản lý tiên tiến là yếu
tố đẩy sự tăng trởng của nhiều quốc gia trên thế giới.Việt Nam sẽ có đợc một thị tr-
ờng xuất khẩu mới, một thị trờng công nghệ và quản lý có ý nghĩa đặc biệtđối với
quá trình công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nớc.
Chơng II.
hiệp định thơng mại việt nam -mỹ và triển vọng
quan hệ thơng mại giữa hai nớc
1 Thực trạng quan hệ thơng mại Việt Nam - Mỹ thời
gian qua
A. Giai đoạn trớc khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.
Trớc năm 1975.
Vào thời kỳ này, Mỹ có quan hệ với chính quyền Sài Gòn cũ. Kim ngạch
buôn bán không lớn, chủ yếu là hàng nhập khẩu bằng viện trợ của Mỹ để phục vụ
cho cuộc chiến tranh xâm lợc. Xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chỉ bao gồm một
số mặt hàng nh cao su, gỗ, hải sản, đồ gốm với số lợng ít ỏi.
Từ tháng 5/1964, Mỹ thực thi lệnh cấm vận đối với miền Bắc nớc ta. Khi
Việt Nam thống nhất đất nớc, Mỹ đã mở rộng lệnh cấm vận đối với toàn bộ lãnh
thổ Việt Nam trong tất cả các lĩnh vực thơng mại, tài chính, tín dụng ngân hàng
Mỹ còn khống chế các nớc đồng minh và các tổ chức quốc tế nhằm ngăn cản, thao
túng các mối quan hệ kinh tế thơng mại của họ với Việt Nam.
Mặc dù vậy, thông qua con đờng trực tiếp hoặc gián tiếp, Việt Nam vẫn có
quan hệ kinh tế và viện trợ phát triển với nhiều nớc, nhiều tổ chức kinh tế và tổ
chức phi chính phủ, trong đó có Mỹ. Nhiều công ty Mỹ vẫn gián tiếp xuất hàng vào
nớc ta.
Theo số liệu thống kê của Việt Nam, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ thời
kỳ 1986-1990 hầu nh không có gì. Còn kim ngạch nhập khẩu trị giá khoảng 5 triệu
USD
Những năm đầu thập kỷ 90.
Trong những năm này, quan hệ hai nớc đã có nhiều nét khởi sắc cả về lĩnh
vực ngoại giao cũng nh lĩnh vực thơng mại, hai bên cùng hớng tới các mối quan hệ
hữu nghị và hợp tác vì lợi ích của cả hai bên.
Bắt đầu từ năm 1990, Việt Nam đã xuất đợc một lợng hàng trị giá khoảng
5.000 USD sang Mỹ. Con số này tăng lên đến 9.000 USD vào năm 1991, 11.000
USD vào năm 1992 và 58.000 USD vào năm 1993. Nhập khẩu của Việt Nam bị
cấm vận vô cùng chặt chẽ đến mức những chiếc máy tính IBM 360/50 do Mỹ trang
bị cho chính quyền Sài Gòn cũ cũng không thể kiếm đợc phụ tùng thay thế, phần
lớn phải nhập tạm của Liên Xô. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn nhập khẩu từ Mỹ một l-
ợng hàng trị giá gần 7 triệu USD thời kỳ 1991-1993.
Cũng trong thời kỳ này, lệnh cấm vận của Mỹ vẫn không ngăn đợc một số
nớc Châu Mỹ có quan hệ với Việt Nam nh Canada, Cuba Giá trị kim ngạch nhập
khẩu từ các nớc này của Việt Nam 1991-1993 là 65,2 triệu USD. Giá trị xuất khẩu
của Việt Nam sang các nớc này còn lớn hơn, đạt 73,2 triệu USD.
Bắt đầu từ tháng 4/1992, Mỹ thực hiện dỡ bỏ một loạt các hạn chế đối với
Việt Nam. Mỹ cho phép lu thông bu chính viễn thông Mỹ-Việt Nam, cho phép xuất
sang Việt Nam những mặt hàng phục vụ cho nhu cầu cơ bản của con ngời và bãi bỏ
hạn chế đối với việc các tổ chức phi chính phủ Mỹ viện trợ nhân đạo cho Việt
Nam. Đặc biệt Mỹ còn cho phép các công ty Mỹ đợc lập văn phòng đại diện và ký
các hợp đồng kinh tế ở Việt Nam, nhng chỉ đợc giao dịch kinh doanh sau khi bỏ
lệnh cấm vận.
Tháng 7/1993, Mỹ tuyên bố không can thiệp vào các tổ chức tài chính quốc
tế, trớc hết là IMF, WB, ADB (Ngân hàng phát triển Châu á). Tháng 10/1993,
quan hệ giữa ta với các tổ chức tài chính quốc tế đã đợc nối lại.
B. Giai đoạn sau khi lệnh cấm vận bị huỷ bỏ.
Ngày 3/2/1994, Tổng thống Mỹ B. Clinton chính thức tuyên bố bãi bỏ lệnh
cấm vận đối với Việt Nam. Sau đó, Bộ Thơng mại Mỹ đã chuyển Việt Nam từ
nhóm Z (gồm Bắc Triều Tiên, Cuba và Việt Nam) lên nhóm Y - ít hạn chế thơng
mại hơn (gồm Liên Xô cũ, các nớc thuộc khối Vacsava cũ, Anbani, Mông Cổ, Lào,
Campuchia và Việt Nam). Bộ Vận tải và Bộ Thơng mại Mỹ cũng bãi bỏ lệnh cấm
tàu biển và máy bay Mỹ vận chuyển hàng hoá sang Việt Nam, cho phép tàu biển
mang cờ Việt Nam đợc vào cảng Mỹ nhng phải thông báo trớc 3 ngày.
Hơn một năm sau, ngày 11/7/1995, Tổng thống B. Clinton tuyên bố công
nhận ngoại giao và bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam. Các giới chức Việt Nam
cũng nêu rõ quan điểm của mình về những vấn đề đặt ra trong quan hệ Việt-Mỹ.
Tiếp đó là chuyến viếng thăm chính thức Việt Nam của Ngoại trởng Mỹ W.
Christopher ngày 5/8/1995. Chuyến viếng thăm đã mở ra một trang mới trong quan
hệ giữa hai nớc. Hai bên nhất trí đẩy mạnh quan hệ kinh tế thơng mại và xúc tiến
những biện pháp cụ thể để tiến tới ký kết Hiệp định Thơng mại làm nền tảng cho
các hoạt động buôn bán song phơng.
Tháng 10/1995, nhân dịp sang Mỹ để dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập
Liên Hợp Quốc, Chủ tịch nớc Lê Đức Anh đã tiếp xúc với nhiều quan chức cao cấp
trong Hội nghị về bình thờng hoá quan hệ, bớc tiếp theo trong quan hệ Việt-Mỹ
do Hội đồng Thơng mại Mỹ tổ chức. Một chủ đề lớn đợc thảo luận tại Hội nghị này
là xem xét khả năng Mỹ dành cho Việt Nam quy chế MFN trong buôn bán.
Năm 1997, quan hệ Việt-Mỹ tiếp tục ghi nhận những bớc tiến quan trọng.
Hai nớc đã thoả thuận thiết lập quan hệ song phơng về bản quyền. Kim ngạch xuất
khẩu hàng năm của Mỹ về các mặt hàng cần đợc bảo hộ bản quyền lên tới hơn 200
tỷ USD. Trong khi đó loại hàng này vẫn cha tìm đợc chỗ đứng trên thị trờng Việt
Nam do hai nớc cha có Hiệp định về bản quyền. Ngày 7/4/1997, trong chuyến
thăm Việt Nam của Bộ trởng Tài chính Mỹ Robert Robin, hai nớc đã xử lý đợc số
nợ 145 triệu USD từ thời Chính quyền Sài Gòn. Đây là bớc đi quan trọng tiến tới ký
kết Hiệp định Thơng mại Việt-Mỹ. Ngày 9/5/1997, Đại sứ đầu tiên của Việt Nam
tại Mỹ cũng nh Đại sứ đầu tiên của Mỹ tại Việt Nam đã tới thủ đô hai nớc để thực
hiện nhiệm kỳ của mình. Việc này đã thể hiện nỗ lực của cả hai Chính phủ
trong việc cải thiện hơn nữa quan hệ hai nớc.
Ngoài ra, hàng trăm đoàn đại biểu Mỹ bao gồm rất nhiều thơng gia lần lợt
đến Việt Nam với mong muốn tìm hiểu thị trờng và thiết lập quan hệ làm ăn lâu dài
tại Việt Nam.
Những thành quả ban đầu trong quan hệ thơng mại giữa hai nớc.
Cuộc triển lãm Vietexport 94 - San Francisco là triển lãm hàng xuất khẩu
đầu tiên của Việt Nam đợc tổ chức tại Mỹ. Triển lãm đã gây ra một tiếng vang lớn
trong d luận Mỹ. Tham gia triển lãm có 70 doanh nghiệp Việt Nam để giới thiệu về
các mặt hàng nông sản, thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc, da giày, thuỷ sản, đồng
thời giới thiệu về các luật lệ kinh doanh và tập quán buôn bán của hai bên. Kết quả
của cuộc triển lãm không chỉ là các thoả thuận hợp tác kinh doanh, khối lợng hàng
hoá giao dịch, số lợng hợp đồng, mà còn tạo ra một cơ hội tốt cho các doanh
nghiệp và nhân dân Mỹ hiểu thêm về tiềm năng kinh tế của Việt Nam.
Việt Nam và Mỹ đều có chung một mục đích là hợp tác để thúc đẩy hơn nữa
sự phát triển nền kinh tế thơng mại. Do vậy, Mỹ hớng tới Việt Nam nh hớng tới
một thị trờng đông dân đầy tiềm năng trong việc tiêu thụ các mặt hàng công
nghiệp, đặc biệt là hàng điện tử, tin học, viễn thông. Còn Việt Nam hớng tới Mỹ
nh một thị trờng tiêu thụ khổng lồ có nền công nghệ kỹ thuật hiện đại và có nguồn
vốn dồi dào vào bậc nhất thế giới.
Mặc dù cha có con số thống kê chính xác hàng hoá của Mỹ chiếm bao nhiêu
thị phần ở Việt Nam, song có thể thấy hầu hết các hãng nổi tiếng nh Microsoft,
Nikon, Kodak, Caltex, Esso, Pepsi, Coca-Cola đều có mặt tại Việt Nam. Mặc dù
đặt chân đến thị trờng Việt Nam muộn hơn các nớc khác, song Mỹ đã nhanh chóng
chiếm đợc cảm tình của ngời dân Việt Nam nhờ vào chiến lợc Marketing độc đáo,
chất lợng sản phẩm cao.
Theo số liệu của Bộ Thơng mại Mỹ, kim ngạch buôn bán Việt-Mỹ đã tăng
trởng đáng kể từ năm 1994 đến năm 2000, duy chỉ có năm 1997 là giảm sút so với
năm 1996 do hàng hoá không đợc hởng MFN rất khó xâm nhập sâu hơn vào thị tr-
ờng Mỹ.
1 9 9 4
1 9 9 5
1 9 9 6
1 9 9 7
1 9 9 8
1 9 9 9
2 0 0 0 *
X u ấ t k h ẩ u
N h ậ p k h ẩ u
T ổ n g c ộ n g
222.4
452
924
650
827.6
899.7
1077.4
1 7 2
2 5 2
6 1 6
2 7 8
2 7 4 . 2
2 9 0 . 7
3 9 3 . 9
50.4
200
308
372
553.4
609
683.5
N g u ồ n:
B ộ T h ư ơ n g m ạ i M ỹ
Đ ơ n v ị: T r iệ u U S D
* : s ố liệ u ư ớ c tín h
b i ể u đ ồ 1: k im n g ạ c h b u ô n b á n v i ệ t - m ỹ
Về xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ.
Về hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, mãi đến cuối năm 1994, EPCO
là hãng đi tiên phong với 2.150 triệu USD tôm, cà phê xuất sang California. Năm
1996, doanh số hàng xuất sang Mỹ của EPCO đạt xấp xỉ 8 triệu USD. Cùng với
EPCO, bia Sài Gòn đã xuất đợc sang Mỹ 13.455 thùng bia chai ngay từ năm đầu
tiên khi bỏ cấm vận. Bia Sài Gòn hiện đã có mặt ở các tiểu bang Colorado,
Washington, Oregon, Kansas, Virginia với chất lợng đợc đánh giá cao hơn hẳn
bia Trung Quốc vốn đã có mặt từ lâu. Năm 1995, hãng Bitis cũng đã đặt văn
phòng đại diện tại New York để mở rộng buôn bán hàng giày dép sang Mỹ.
Cho dù cha đợc hởng quy chế MNF mà nay gọi là Quan hệ thơng mại bình
thờng (NTR), xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ vẫn tăng nhanh chóng từ hơn 50
triệu USD năm 1994 đến 609 triệu USD năm 1999 và ớc tính năm 2000 là hơn 683
triệu USD. Năm 1994 và 1995, hàng nông nghiệp Việt Nam xuất sang Mỹ chiếm
76% tổng kim ngạch xuất khẩu, còn lại là hàng phi nông nghiệp. Nh vậy, cơ cấu
mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản.
Trong nhóm này, cà phê chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu. Hàng công nghiệp
nhẹ cũng bắt đầu xâm nhập vào thị trờng này, chủ yếu là hàng dệt, may. Những
năm tiếp sau, hàng nông nghiệp xuất khẩu giảm dần, nhờng chỗ cho các mặt hàng
khác. Nhóm hàng giày dép nổi lên nh một điểm sáng với kim ngạch vợt cả nhóm
hàng dệt may. Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đã có bớc chuyển biến
tích cực. Từ năm 1996, ta bắt đầu xuất khẩu dầu thô sang Mỹ và đạt trị giá hơn 80
triệu USD, báo hiệu sự tăng mạnh mặt hàng này trong tơng lai. Tuy xuất hiện muộn
nhng giá trị mặt hàng này nhanh chóng chiếm vị trí thứ hai, chỉ sau cà phê.
Bên cạnh đó, mặt hàng hải sản cũng tỏ ra ngày càng có triển vọng tại thị tr-
ờng Mỹ với tốc độ tăng nhanh và ổn định qua các năm. Kỹ thuật chế biến cũng
ngày càng đợc nâng cao, góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này.
Những năm trở lại đây, quan hệ thơng mại giữa Việt Nam và Mỹ đã có bớc phát
triển vợt bậc. Khối lợng hàng hoá trao đổi tăng lên nhiều, chất lợng hàng hoá Việt
Nam do phải cọ xát với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng Mỹ nên đã đợc cải
thiện đáng kể. Cho tới nay, Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chủ yếu là 5 mặt hàng
chủ lực sau
Bảng 1: 5 mặt hàng xuất khẩu chính từ Việt Nam sang Mỹ.
Đơn vị: triệu USD.
Mặt hàng
1994 1995 1996 1997 1998 1999
8 tháng
đầu năm
2000
Cá và thuỷ hải sản 5,8 19,6 33,9 46,4 80,5 108,1 161,6
Hạt tiêu, gia vị, cà
phê, chè
31,2 146,5 110,9 108,5 147,6 117,7 99,4
Năng lợng, khoáng
sản, dầu
1,1 0,0 93,4 36,7 104,7 100,6 37,8
Quần áo len 2,4 15,1 20,0 21,0 21,3 24,9 22,7
Giày dép 0,1 3,3 39,1 97,7 114,9 145,8 86,4
Tổng cộng 40,6 184,5 297,3 310,3 469 496,6 407,9
Nguồn: Cơ quan thông tin thơng mại toàn cầu.
Nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ.
Ngay từ năm đầu tiên sau khi Mỹ huỷ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam,
hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ đã tăng mạnh về số lợng và phong phú, đa
dạng về chủng loại. Nếu năm 1993 chỉ có 4 nhóm hàng của Mỹ đợc phép xuất sang
Việt Nam thì ngay năm sau đó, con số này đã tăng lên 35 nhóm hàng. Các mặt
hàng Mỹ xuất khẩu chủ yếu sang Việt Nam là máy móc, thiết bị, phân bón, máy
móc xây dựng, ô tô, thiết bị viễn thông.
Xét về cơ cấu hàng nhập khẩu, nhóm hàng máy móc, thiết bị nói chung
chiếm phần lớn tổng kim ngạch nhập khẩu từ Mỹ. Điều này phản ánh đúng định h-
ớng nhập khẩu của ta cũng nh định hớng xuất khẩu của Mỹ. Nhóm mặt hàng
nguyên nhiên vật liệu cũng chiếm phần kim ngạch đáng kể, chủ yếu là phân bón,
bông, sợi, xăng dầu, sắt thép, một số loại hoá chất , những mặt hàng mà trong nớc
cha sản xuất đợc hay sản xuất cha đáp ứng đợc nhu cầu tiêu thụ. Hàng tiêu dùng,
các mặt hàng nông sản thực phẩm cũng đợc nhập từ Mỹ nhng với kim ngạch thấp
hơn nhiều.
Nh vậy, chỉ trong vòng hơn 5 năm sau khi Mỹ chính thức bãi bỏ lệnh cấm
vận Việt Nam, quan hệ thơng mại giữa hai nớc đã có sự thay đổi lớn cả về số lợng
và cơ cấu xuất nhập khẩu. Buôn bán giữa hai nớc gia tăng nhanh chóng do Việt
Nam đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng đợc miễn thuế vào Mỹ nh cà phê, hay các
mặt hàng có thuế suất rất thấp nh hàng may mặc Còn Mỹ xuất khẩu nhanh chóng
vào thị trờng Việt Nam cũng một phần nhờ vào chính sách thơng mại mở cửa bình
đẳng, không phân biệt đối xử của Việt Nam. Biểu thuế nhập khẩu của Việt Nam
chỉ có một loại thuế suất duy nhất đánh vào mỗi loại hàng hoá không phân biệt
xuất xứ. Chính vì vậy, Mỹ đã có ngay sự cạnh tranh bình đẳng với các bạn hàng
truyền thống của Việt Nam.
2. Lộ trình đi tới Hiệp định Thơng mại Việt Mỹ.
Hiệp định Thơng mại Việt-Mỹ đợc ký kết là kết quả của một quá trình đàm
phán lâu dài và phức tạp. Nguyên nhân cơ bản của quá trình đàm phán lâu dài này
là do những khác biệt giữa hai nớc về chế độ chính trị, xã hội, cơ chế kinh tế
Hiệp định đã thể hiện quyết tâm và nỗ lực của cả hai bên trong việc tìm ra
một tiếng nói chung đối với vấn đề hợp tác thơng mại. Các bên đã trải qua tất cả 11
vòng đàm phán diễn ra tại Hà nội và Washington.
Trong ba vòng đàm phán đầu tiên, các bên chỉ tìm hiểu về cơ chế, chính
sách, luật định của nhau. Việt Nam và Mỹ đều đa ra những thông tin về khung luật
pháp có liên quan đến quan hệ thơng mại mà các bên cần xem xét và nghiên cứu.
Nh vậy, cả hai sẽ có điều kiện để hiểu thêm về luật chơi của phía đối tác.
Trong các vòng đàm phán từ vòng thứ 4 đến vòng thứ 7, hai bên đã trao đổi
tổng thể quan điểm của mình về vấn đề thơng mại hàng hoá, sở hữu trí tuệ, thơng
mại dịch vụ và đầu t. Những vấn đề nêu lên trong dự thảo Hiệp định phù hợp với
GATT năm 1994, trừ một số vấn đề liên quan đến quan hệ song phơng và có một
số vấn đề cao hơn GATT. Ví dụ nh đầu t không hề dợc đề cập tới trong GATT.
Trong vòng đàm phán thứ 8 Việt Nam đã đa ra một số đề xuất đợc xây dựng
trên cơ sở các nguyên tắc của WTO, đồng thời đa ra một lộ trình hợp lý để thực
hiện các nguyên tắc của WTO trong bối cảnh Việt Nam là một nớc đang phát triển
và đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế.
Vòng 9 là cuộc gặp mặt cấp Bộ trởng. Hiệp định đã đợc thoả thuận về mặt
nguyên tắc.
Trong vòng đàm phán thứ 10, các bên thảo luận về các vấn đề kỹ thuật.
Vòng 11 các bên hoàn tất Hiệp định và đến ngày 13/7/2000 diễn ra lễ ký
chính thức Hiệp định Thơng mại Việt-Mỹ.
Một số nội dung quan trọng liên quan đến thơng mại đợc đề cập trong hiệp
định:
Thuế: Ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực, mỗi bên dành ngay lập tức và vô
điều kiện cho hàng hoá có xuất xứ hoặc đợc xuất khẩu từ lãnh thổ của bên kia sự
đối sử dành cho hàng hoá tơng tự từ bất kỳ nớc thứ ba nầo khác trong tất cả các
vấn đề liên quan tới thuế xuất khẩu hay nnhập khẩu.
Phí:Không bên nào, dù trực tiếp hay gián tiếp, đợc quy định bất kỳ một loại
thuế hay phí nội địa nào đối với hàng hoá của bên kia nhập khẩu vào lãnh thổ nớc
mình cao hơn mức áp dụng cho hàng hoá tơng tự trong nớc.
Các biện pháp phi thuế: Các quy định về kỹ thuật không đợc soạn thảo, ban
hành hoặc áp dụng để tạo ra những trở ngại không cần thiết cho thơng mại quốc tế.
Những quy định này chỉ đợc đa ra trong trờng hợp :
-Do yêu cầu về an ninh quốc gia.
-Ngăn ngừa những hành vi lừa đảo.
-Bảo vệ sức khoẻ và an toàn cho con ngời,đời sống và sức khoẻ động thực
vật hoặc môi trờng.
Quyền kinh doannh :Mỗi bên theo quy định của Hiệp định, phải dành cho
công nhân và công ty bên kia quyền sản xuất, quyền kinh doanh xuất nhập khẩu
hàng hoá theo lộ trình mà hai bên đã thoả thuận .
Vấn đề trị giá tính thuế hải quan: Trong vòng hai năm kể từ khi Hiệp định có
hiệu lực, các bên áp dụng hệ thống định giá hải quan trên cơ sở giá giao dịch của
hàng nhập khẩu để tính thuế hoặc của hàng hoá tơng tự, chứ không dựa vào giá trị
của hàng hoá theo nớc xuất xứ, hoặc giá trị đợc xác định một cách võ đoán, không
có cơ sở. Giá trị giao dịch ở đây là thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho
hàng hoá kkhi đợc xuâts khẩu sang nớc nhập khẩu.
Quyền tự vệ trong kinh doanh: Đây là một công cụ quan trọng để bảo vệ thị
trờng trong nớc.Trong trờng hợp hàng hoấ nớc ngoài ồ ạt và thị trờng,giảm giá, bán
phá giá hanngf hoá lầm suy sụp nền kinh tế thì mỗi bên có thể đa ra các biện
pháp để tự vệ.
3. Triển vọng quan hệ thơng mại hàng hoá Việt-Mỹ
sau khi ký kết Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ
A. Nhu cầu của thị trờng Mỹ.
Là một cờng quốc về kinh tế với số dân trên 271,8 triệu ngời, Mỹ là một thị
trờng khổng lồ và đầy tiềm năng. Chính sách thơng mại của Mỹ rất rộng mở, chỉ
trừ một số ít mặt hàng có hạn ngạch, còn lại các công ty của Mỹ đều đợc quyền
xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng. Chính vì vậy, họ luôn tìm kiếm những cơ
hội kinh doanh mới nhằm mở rộng hợp tác kinh tế-thơng mại với các quốc gia trên
thế giới. Việt Nam, một đất nớc có số dân gần 80 triệu ngời với nguồn lao động rẻ
và dồi dào đợc họ xem nh một địa chỉ dừng chân đáng tin cậy.
Xu thế nhập siêu hàng năm của Mỹ ngày càng lớn, chủ yếu là do sự tăng tr-
ởng kinh tế đều qua các năm và sự thay đổi cơ cấu kinh tế của Mỹ.
Có thể thấy Mỹ là một thị trờng có dung lợng lớn và đa dạng. Các mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu của Mỹ gồm máy móc, thiết bị, các mặt hàng công nghiệp, thiết
bị vận tải các loại, hoá chất, nông sản và các hàng hoá khác. Trong cơ cấu hàng
nhập khẩu của Mỹ, hàng tiêu dùng chiếm một vị trí quan trọng, khoảng 20% tổng
kim ngạch nhập khẩu.
Theo dự báo chiến lợc của Mỹ, nền kinh tế Mỹ sẽ còn phát triển mạnh trong
những năm đầu của thế kỷ XXI. Tốc độ tăng trởng GDP hàng năm khoảng 3%-4%
và xuất nhập khẩu khoảng 5%-10%.
Nh vậy, Mỹ là một thị trờng lý tởng cho tất cả các nớc trên thế giới, từ các nớc
phát triển nh Châu âu, Nhật Bản đến các nớc đang phát triển nh ấn Độ, Trung
Quốc và các nớc nghèo nh Campuchia, Banglades đều có thể xuất khẩu hàng vào
Mỹ. Theo báo cáo của thơng vụ Việt Nam tại Mỹ, hiện Việt Nam đang đứng hàng
thứ 76 về tổng kim ngạch buôn bán với Mỹ và đứng thứ 71 trong tổng số 229 nớc
xuất khẩu vào Mỹ. Tuy nhiên, tỷ trọng hàng hoá Việt Nam mới chỉ chiếm 0,05%
tổng giá trị nhập khẩu của Mỹ, một con số còn rất khiêm tốn.
Chất lợng hàng hoá xuất khẩu vào Mỹ cũng rất linh hoạt, không quá khắt khe
nh ở Châu âu hay Nhật BảnTuy nhiên, hàng hoá chất lợng cao của các nớc này
cũng có thể bày bán ở các cửa hàng đắt tiền và trung bình. Đây thực sự là một
thuận lợi cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là khi Hiệp định Thơng
mại Việt-Mỹ vừa đợc ký kết và sắp tới sẽ đợc phê chuẩn.
B. Dự báo khả năng xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trờng Mỹ trong tơng
lai.
B.1. Triển vọng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ.
Thị trờng Mỹ là đích đến của hàng hoá tất cả các nớc trên thế giới. Nhiều nớc
trên thế giới đã tích cực khai thác thị trờng này một cách có hiệu quả. Theo dự
đoán của các chuyên gia nghiên cứu về thơng mại, đến hết năm 2000, tổng kim
ngạch Việt-Mỹ có thể lên tới 2 tỷ USD (tăng hơn hai lần năm 1999) trong đó Việt
Nam xuất khẩu 1,2 tỷ USD và nhập khẩu 0,8 tỷ USD. Trong những năm tiếp theo,
buôn bán giữa Việt Nam và Mỹ sẽ tiếp tục tăng trởng cao, đặc biệt là Việt Nam có
thể phát huy đợc thế mạnh của mình trong việc xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực,
tận dụng những lợi thế do hiệp định Việt-Mỹ đem lại.
Nhóm hàng nông sản.
* Cà phê, chè, quế, hạt tiêu, gia vị (HS 09).
Đặc điểm của nhóm hàng này là có nhu cầu cao trên thị trờng Mỹ và mức
thuế nhập khẩu bằng 0 hoặc rất thấp. Ngoài ra, mặt hàng này phụ thuộc vào sản l-
ợng, thời tiết, giá ở Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên, chúng ta có lợi thế là đợc
u đãi về khí hậu, diện tích canh tác có thể mở rộng thêm và đặc biệt là chi phí nhân
công thấp hơn các nớc trong khu vực, một số sản phẩm đạt năng suất cao hơn các
nớc trong khu vực. Vì vậy, định hớng xuất khẩu các mặt hàng bình quân có thể
tăng 15% mỗi năm và tới năm 2010 dự kiến đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 350
triệu USD.
Cà phê (HS 0901). Tổng nhập khẩu của Mỹ đối với các loại cà phê
năm 1992 là 1,612 tỷ USD, bình quân mỗi năm tăng 17%. Chỉ có năm 1998 là
giảm một chút so với năm 1997, từ 3,726 tỷ USD còn 3,237 tỷ USD. Năm 1999
tăng lên 3,9 tỷ USD. Dự kiến trong vòng 10 năm tới, nhu cầu nhập khẩu của Mỹ sẽ
tăng khoảng 10% giá trị mỗi năm.
Năm 1999, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Mỹ đạt 89 triệu
USD, đứng thứ 7 về giá trị nhập khẩu cà phê vào thị trờng Mỹ. Hiện nay Việt Nam
đang là nớc xuất khẩu nhiều cà phê thứ 4 trên thế giới (chủ yếu là cà phê Robusta
và một ít Arabica). Trong vòng 10 năm tới (đến năm 2010), nếu đảm bảo đợc chất
lợng và giá cả cạnh tranh, xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Mỹ có thể tăng t-
ơng đơng với mức tăng của nhu cầu thị trờng Mỹ và có thể đạt trên 300 triệu USD
vào năm 2010. Tuy nhiên, do thị trờng Mỹ tiêu thụ chủ yếu là cà phê Arabica nên
nếu chơng trình trồng cà phê đang tiến hành ở miền Bắc Việt Nam thành công thì
cà phê của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội thâm nhập vào thị trờng Mỹ.
Chè các loại (HS 0902). Hàng năm Mỹ nhập khẩu các loại chè
xanh và đen, trung bình 130 triệu USD mỗi năm, trong đó hơn 80% là chè đen (HS
090240). Hiện nay, mức tiêu thụ chè đen ở Mỹ ngày càng tăng, thay thế dần một
phần tiêu thụ cà phê. Hai nớc xuất khẩu chè vào Mỹ nhiều nhất là Achentina và
Trung Quốc. Năm 1999, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1 triệu USD chè vào Mỹ, lọt
vào Top 15 nớc xuất khẩu chè đen vào Mỹ.
Trong giai đoạn 2000-2010, Việt Nam có thể tăng đều đặn 20% giá trị mỗi
năm do đợc xuất khẩu trực tiếp mà không phải qua trung gian và có thể đạt tới 3
triệu USD năm 2010.
Quế. Hàng năm Mỹ nhập khẩu khoảng trên dới 30 triệu USD trị giá quế các
loại. Năm cao nhất là năm 1996 với giá trị nhập khẩu trên 36,4 triệu USD. Tuy
nhiên những năm gần đây, giá trị nhập khẩu đã giảm xuống còn khoảng 26 triệu
mỗi năm.
Việt Nam xuất khẩu quế sang thị trờng Mỹ từ năm 1994 và đạt mức cao nhất
là 878.000 USD vào năm 1996. Năm 1998 giảm 22% còn 596.000 USD và năm
1999 tăng 20% so với năm 1998, đạt khoảng 700.000 USD. Việt Nam đứng hàng
thứ ba trong số các nớc xuất khẩu quế vào Mỹ. Thứ hạng này khó có thể thay đổi vì
hai nớc đứng đầu là Indonesia và Sri Lanka có kim ngạch xuất khẩu lớn hơn rất
nhiều lần, còn các nớc khác thì có trị giá thấp hơn nhiều. Trong giai đoạn 2000-
2010, trị giá xuất khẩu quế của Việt Nam có thể tăng 300%-400%, đạt khoảng trên
3 triệu USD vào năm 2010.
Hạt tiêu (HS 0904). Hàng năm Mỹ nhập khẩu một số lợng lớn hạt
tiêu cha xay và đã xay. Năm 1992, Mỹ nhập khẩu trên 112 triệu USD, bình quân
mỗi năm tăng khoảng 28%. Hai nớc xuất khẩu hạt tiêu nhiều nhất vào thị trờng Mỹ
là Indonesia và ấn Độ.
Việt Nam thâm nhập vào thị trờng hạt tiêu của Mỹ chậm hơn quế, nhng từ
năm 1997 đã đánh dấu sự tăng nhanh về trị giá xuất khẩu, đạt 2,1 triệu USD. Năm
1998 tăng 71% lên 3,6 triệu USD, năm 1999 đạt khoảng 8 triệu USD, đứng thứ 9
trong số các nớc xuất khẩu hạt tiêu vào Mỹ.
Trung Quốc và Tây Ban Nha tuy đứng trên Việt Nam về giá trị xuất khẩu hạt
tiêu vào Mỹ nhng hai nớc này lại không có nhiều lợi thế nh Việt Nam. Ngoại trừ
điều kiện thời tiết, khí hậu thuận lợi thì lợi thế của Việt Nam vẫn là chi phí cho các
yếu tố đầu vào nh đất đai, nhân công thấp, vì vậy giá thành hạt tiêu của Việt Nam
có sức cạnh tranh trên thị trờng Mỹ. Trong những năm tới, khả năng xuất khẩu mặt
hàng này sang Mỹ của Việt Nam bình quân hàng năm có thể tăng khoảng 25%-
30% và dự kiến đạt tới 30 triệu USD vào năm 2010.
Các mặt hàng gia vị khác (HS 0909, 0910). Giá trị xuất
khẩu những mặt hàng này của Việt Nam sang thị trờng Mỹ những năm qua cha
nhiều. Cả năm 1998 đạt 33.000 USD, sang năm 1999 có tăng hơn, đạt 150.000
USD.
Trong những năm tới, Việt Nam có thể tăng xuất khẩu mặt hàng này sang thị
trờng Mỹ do ở Mỹ có nhiều ngời dân gốc Châu á và có nhiều công ty nhỏ của Việt
kiều nhập khẩu vào Mỹ. Dự kiến năm 2010 Việt Nam có thể đạt trị giá xuất khẩu 1
triệu USD mặt hàng này vào thị trờng Mỹ.
* Gạo. Mỹ là nớc nhập khẩu gạo lớn trên thế giới, đồng thời cũng là một nớc
có lợng gạo xuất khẩu lớn, đứng thứ 4 trên thế giới.
Mặc dù bị tính thuế nhập khẩu, mặt hàng gạo có thể coi là một trong những
mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế do chính sách nới lỏng của Chính phủ Mỹ. Trớc
kia, do Việt Nam cha đợc hởng NTR nên gạo nhập vào Mỹ phải chịu một mức thuế
là 0,055 USD/kg. Còn bây giờ, Việt Nam sẽ chỉ phải chịu mức thuế suất là 0,021
USD/kg vì đã ký kết đợc Hiệp định Thơng mại với Mỹ. Mức thuế suất đánh vào
gạo nh vậy là rất thấp, chỉ mang tính chất tham khảo chứ không vì mục đích kinh tế.
Trớc năm 1994, Mỹ không nhập khẩu gạo của Việt Nam. Năm 1994, Việt
Nam bắt đầu xuất khẩu 4,51 triệu USD gạo sang thị trờng Mỹ với t cách là nguồn
xuất khẩu lớn thứ 3 trong tổng kim ngạch nhập khẩu 103 triệu USD gạo của Mỹ.
Đến năm 1998, con số này tăng lên 39 triệu USD. Song cả năm 1999, Việt Nam chỉ
xuất đợc 4,9 triệu USD do chủng loại gạo không thích hợp. Nhng vì sao Mỹ là một
quốc gia tham gia xuất khẩu gạo vào loại lớn trên thế giới lại phải nhập khẩu của
Việt Nam? Thực ra, khách hàng Mỹ mua gạo của Việt Nam không phải để tiêu thụ
trong nớc mà để xuất sang Châu Phi theo các chơng trình viện trợ của Chính phủ
Hoa Kỳ và làm môi giới. Qua đó, Việt Nam có thể rút ra hai điểm cần lu ý sau:
- Việt Nam muốn chiếm đợc thị trờng nhập khẩu gạo của Mỹ thì phải nâng
chất lợng gạo lên nữa, đặc biệt chú trọng khai thác gạo đặc sản nh tám thơm, nàng
hơng
- Mỹ rất chú trọng yếu tố thời gian giao hàng - đây chính là yếu tố cạnh tranh
trong các hợp đồng xuất khẩu gạo của Mỹ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét