Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Hạch toán chi phí SX và tính giá thành SP xây lắp tại cty Sông Đà 11

Khơng lê th K35 D2
- Chi phí dich vụ mua ngoài : Là số tiền trả về các loại dịch vụ mua ngoài
phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
- Chi phí bằng tiền khác : Là toàn bộ chi phí khác bằng tiền phát sinh
trong quá trình hoạt động sản xuất , kinh doanh ngoài các yếu tố trên.
Phân loại chi phí sản xuất theo cách này có tác dụng cho biết kết cấu, tỷ
trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính (phần chi phí sản xuất
kinh doanh theo yếu tố) phục vụ cho yêu cầu thông tin và quản trị doanh nghiệp,
phục vụ cho việc xây dựng phân tích định mức vốn lu động, lập kiểm tra và phân
tích tình hình thực hiện dự toán chi phí , lập dự toán chi phí sản xuất, kinh doanh
cho kỳ sau. Nó là tài liệu quan trọng dùng làm căn cứ để xác định mức tiêu hao
vật chất và thu nhập quốc dân.
* Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mục đích, công dụng của chi phí
:
Theo các phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : Là chi phí của các loại vật liệu chính,
vật liệu phụ kết cấu nên giá trị thiết bị kèm theo vật kiến trúc cần thiết để tạo
nên sản phẩm xây lắp .
- Chi phí nhân công trực tiếp : Là các khoản chi phí về lơng chính, các
khoản phụ cấp mang tính chất tiền lơng của công nhân trực tiếp tham gia vào xây
lắp công trình, hạng mục công trình.
- Chi phí sử dụng máy thi công : Là các chi phí liên quan đến việc sử dụng
máy để hoàn thành sản phẩm xây lắp. Chi phí này bao gồm : tiền khấu hao máy
móc thiết bị, thuê máy, tiền lơng công nhân vận hành máy thi công, chi phí về
nhiên liệu động lực dùng cho máy thi công để tiến hành xây lắp các công trình,
hạng mục công trình.
- Chi phí sản xuất chung : Là các chi phí liên quan tới nhiều công trình bao
gồm chi phí về tiền lơng nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lơng nh
BHXH, BHYT, KPCĐ, khấu hao TSCĐ dùng chung cho đội, chi phí vật liệu,
công cụ dùng cho quản lý đội
- Ngoài ra khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ (giá đầy đủ) thì chỉ tiêu giá
thành còn bao gồm các khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp.
Phân loại theo cách này giúp doanh nghiệp theo dõi từng khoản mục chi phí
phát sinh từ đó tiến hành đối chiếu với giá thành dự toán của công trình để có thể
nhận biết đợc từng khoản mục chi phí phát sinh ở đâu, tăng hay giảm so với dự
5
Khơng lê th K35 D2
toán để từ đó doanh nghiệp có hớng tìm ra biện pháp nhằm tiết kiệm khoản mục
chi phí trên, hạ giá thành công tác xây lắp.
Ngoài hai cách phân loại chủ yếu trên, phục vụ cho công tác quản lý và công
tác kế toán, chi phí sản xuất , kinh doanh còn có thể phân loại theo các tiêu thức
khác nh :
- Căn cứ vào chức năng của chi phí đối với hoạt động sản xuất kinh doanh :
bao gồm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí hoạt động tài chính, chi
phí hoạt động bất thờng.
- Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí sản xuất kinh doanh với khối lợng
công việc hoành thành, chi phí đợc chia ra thành hai loại : chi phí cố định và chi
phí biến đổi.
- Căn cứ vào cách thức kết cấu chi phí thì toàn bộ chi phí sản xuất kinh
doanh đợc chia thành chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm.
Mỗi cách phân loại chi phí sản xuất này đợc đáp ứng cho mục đích quản lý
hạch toán kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh ở các góc độ khác nhau. Do vậy
các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong
quản lý toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong từng thời kỳ nhất
định.
2. Giá thành sản phẩm .
2.1 Bản chất nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm .
Các chi phí sản xuất, chế tạo sản phẩm luôn luôn đợc biểu hiện ở mặt định
tính và mặt định lợng, đó vừa là mục đích cuối cùng của quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Để xây dựng nên một công trình, hạng mục
công trình thì doanh nghiệp phải xây dựng, phải đầu t vào quá trình sản xuất thi
công một lợng chi phí nhất định. Những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá
trình thi công đó luôn luôn đợc biểu hiện ở mặt định tính hay định lợng.
- Mặt định tính của chi phí đó là các chi phí hiện vật hay bằng tiền tiêu
hao trong quá trình sản xuất, thi công công trình hoàn thành.
- Mặt định lợng của chi phí thể hiện mức độ tiêu hao cụ thể của từng loại
chi phí tham gia vào quá trình sản xuất , thi công công trình hoàn thành đợc thể
hiện bằng thớc đo giá trị.
- Mục đích của sản xuất kinh doanh hay nói cách khác mục đích chi phí
của doanh nghiệp tạo nên những giá trị sử dụng nhất định để đáp ứng yêu cầu
của xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, vấn đề quan tâm trớc hết đối với các
doanh nghiệp sản xuất sản phẩm là lợi nhuận - Đó vừa là nguyên nhân, vừa là
mục đích cuối cùng của quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh trong doanh
6
Khơng lê th K35 D2
nghiệp. Để xây dựng nên một công trình, hạng mục công trình thì doanh nghiệp
xây dựng phải đầu t vào quá trình sản xuất , thi công một lợng chi phí nhất định,
đồng thời các doanh nghiệp cũng rất quan tâm đến hiệu quả của chi phí bỏ ra ít
nhất, thu đợc giá trị sử dụng lớn nhất và luôn tìm mọi biện pháp hạ thấp chi phí
nhằm mục đích thu đợc lợi nhuận tối đa.
Những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình thi công
công trình nào thì sẽ tham gia cấu thành nên giá của công trình đó.
Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác quản lý giá thành sản
phẩm là chỉ tiêu thoả mãn, đáp ứng các nội dung thông tin trên.
Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau vốn có bên trong nó.
Vậy giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất (bao gồm chi phí về
nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản
xuất chung) tính cho từng công trình, hạng mục công trình khối lợng xây lắp
hoàn thành đến giai đoạn quy ớc đã hoàn thành nghiệm thu, bàn giao và đợc chấp
nhận thanh toán.
Khác với các doanh nghiệp công nhiệp, ở doanh nghiệp xây dựng giá thành
sản phẩm xây lắp mang tính cá biệt, mỗi công trình, hạng mục công trình khi đã
hoàn thành đều có một giá thành riêng. Hơn nữa khi một doanh nghiệp nhận thầu
một công trình thì giá bán (giá nhận thầu) đã có ngày trớc khi thi công công trình
đó. Do đó giá thành thực tế của một công trình hoàn thành, khối lợng công việc
xây lắp hoàn thành chỉ quyết định tới lãi, lỗ của doanh nghiệp do thực hiện thi
công công trình đó mà thôi.
Tuy vậy, trong điều kiện hiện nay, để đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh
doanh đợc sự cho phép của Nhà nớc, một số xí nghiệp đã linh hoạt, chủ động xây
dựng một số công trình (chủ yếu là công trình dân dụng nh: nhà ở, văn phòng,
cửa hàng ) sau đó lại bán lại cho các đối tợng có nhu cầu sử dụng với giá hợp lý
thì giá thành sản phẩm xây lắp cũng là một nhân tố quan trọng để xác định giá
bán.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao
động sống, lao động vật hoá có liện quan đến công việc công trình, hạng mục
công trình đã hoàn thành, dó đó nó là một phạm trù kinh tế khách quan bởi sự
chuyển dịch của giá trị t liệu sản xuất và lao động sống đã hao phí vào sản xuất
là cần thiết tất yếu. Mặt khác giá thành là một đại lợng tính toán, là chỉ tiêu có sự
biến tớng nhất định nên ở phơng diện này, giá thành ít nhiều lại mang tính chất
chủ quan thể hiện hai khía cạnh.
- Tính vào giá thành một số khoản mục chi phí mà thực chất là thu nhập
thuần tuý của xã hội nh : BHXH, BHYT, các khoản trích nộp cấp trên, thuê vốn,
thuê tài nguyên.
7
Khơng lê th K35 D2
- Một số khoản mục chi phí gián tiếp đợc phân bổ vào giá thành của từng
loại sản phẩm hay từng sản phẩm theo các tiêu thức phù hợp.
2.2 Phân loại giá thành sản phẩm.
Giá thành hạng mục công trình hoặc công trình hoàn thành là giá thành sản
phẩm cuối cùng của sản phẩm xây lắp.
Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả hoạt động của
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng cờng năng suất lao động, tiết
kiệm vật t, hoàn thiện kỹ thuật thi công, giảm thời gian thi công, sử dụng hợp lý
vốn sản xuất vv Đều ảnh hởng trực tiếp đến mức hạ giá thành sản phẩm.
Để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá
thành cũng nh yêu cầu xây dựng giá thành công trình, hạng mục công trình đợc
xem xét dới nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau. Trong xây lắp, xây
dựng cơ bản cần phân biệt các loại giá thành nh sau :
* Theo thời điểm, nguồn số liệu để xác định, chỉ tiêu giá thành đợc phân
thành:
+ Giá thành dự toán:
Giá thành dự toán là giá thành đợc lập trớc khi sản xuất , là tổng số chi phí
tính toán để hoàn thành khối lợng xây lắp công trình, hạng mục công trình và đã
đợc xác định trên cở sở định mức và khung giá quy định cho từng loại công việc,
áp dụng theo từng vùng, lãnh thổ.
Do sản phẩm xây dựng có giá trị lớn, thời gian thi công dài mang tính đơn
chiếc, nên mỗi công trình, hạng mục công trình đều có giá trị dự toán riêng. Căn
cứ vào giá thành dự toán của từng công trình, hạng mục công trình ta có thể xác
định đợc giá thành dự toán của chúng.
Giá thành dự toán > giá trị dự toán công trình xây lắp ở phần lợi nhuận định
mức .
Giá thành dự toán
của từng công
trình, hạng mục
công trình
=
Giá trị dự toán của
từng loại công trình,
hạng mục công trình
-
Lơi nhuận
định mức
Trong đó : + Giá trị dự toán đợc xác định bằng phơng pháp lập dự toán theo
quy mô, đặc điểm, tỷ lệ, tính chất kỹ thuật và yêu cầu công nghệ
của xây dựng.
+ Lợi nhuận định mức và lãi suất tính theo tỷ lệ quy định của Nhà nớc ban
hành, tỷ lệ này là khác nhau đối với từng loại công trình, công
tác xây lắp.
8
Khơng lê th K35 D2
+ Giá thành kế hoạch công tác xây lắp :
Giá thành kế hoạch đợc lập trớc khi bớc vào sản xuất kinh doanh . Nó phản
ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp . Giá thành kế hoạch đợc xác
định xuất phát từ những điều kiện cụ thể ở mỗi đơn vị xây lắp trên cơ sở biện
pháp thi công, các định mức, đơn giá áp dụng trong đơn vị. Mối quan hệ giữa giá
thành kế hoạch và giá thành dự toán có thể biểu diễn qua công thức sau:
Giá thành kế hoạch
xây lắp
=
Giá thành dự toán
xây lắp
-
Mức hạ giá
thành dự toán
(tính cho từng công trình, hạng mục công trình )
+ Giá thành thực tế công tác xây lắp :
Giá thành thực tế là chỉ tiêu đợc lập sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản
phẩm trên cơ sở toàn bộ các hao phí thực tế liên quan để hoàn thành công trình,
hạng mục công trình, khối lợng xây lắp mà đơn vị đã nhận thầu. Giá thành thực
tế công tác xây lắp đợc xác định theo số liệu kế toán cung cấp.
Đặc điểm sản phẩm xây dựng là thi công kéo dài, do vậy để tạo điều kiện cho
việc theo dõi chặt chẽ những chi phí phát sinh ngời ta phân chia giá thành thực tế
thành : Giá thành công tác xây lắp thực tế, và giá thành công trình hoàn thành và
hạng mục công trình hoàn thành.
+ Giá thành công tác xây lắp thực tế phản ánh giá thành của một khối lợng
công tác xây lắp đạt đến một thời điểm kỹ thuật nhất định, nó cho phép chúng ta
xác định kiểm kê kịp thời, sát sao về chi phí phát sinh và đồng thời phát hiện đợc
những nguyên nhân gây tăng hay giảm chi phí.
+ Giá thành công trình, hạng mục công trình hoàn thành là toàn bộ chi phí
chi ra để tiến hành thi công một công trình, hạng mục công trình kể từ khi khởi
công trình cho đến khi kết thúc đa công trình vào sử dụng và đợc chủ đầu t (bên
A) chấp nhận.
Giá thành thực tế công tác xây lắp không chỉ bao gồm những chi phí trong
định mức mà còn có thể bao gồm chi phí thực tế phát sinh không cần thiết nh:
thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất, mất mát, hao hụt vật t, do
những nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.
* Theo phạm vi phát sinh chi phí: Giá thành đợc phân thành giá thành sản
xuất và giá thành toàn bộ.
+ Giá thành sản xuất:
Giá thành sản xuất là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí liên quan đến
việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong lĩnh vực xây lắp, xây dựng cơ bản (chi phí
nguyên vật trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công,
chi phí sản xuất chung).
+ Giá thành toàn bộ (giá thành tiêu thụ sản phẩm)
9
Khơng lê th K35 D2
Giá thành tiêu thụ sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí
phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm xây lắp (chi phí sản
xuất, chi phí quản lý và bán hàng).
* Theo đặc điểm của sản phẩm xây dựng:
Để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý về chi phí xây lắp còn đợc theo
dõi trên hai chỉ tiêu: Giá thành của khối lợng hoàn chỉnh và giá thành khối lợng
hoàn thành quy ớc.
+ Giá thành khối lợng hoàn chỉnh:
Là giá thành của những CT, HMCT đã hoàn thành, đảm bảo kỹ thuật, chất
lợng đúng thiết kế và hợp đồng, bàn giao đợc chủ đầu t nghiệm thu và chấp nhận
thanh toán.
Chỉ tiêu này cho phép ta đánh giá một cách chính xác và toàn diện hiệu quả
sản xuất, thi công trọn vẹn cho một CT, HMCT. Tuy nhiên, chỉ tiêu này không
đáp ứng đợc một cách kịp thời các số liệu cần thiết cho việc quản lý sản xuất và
giá thành trong suốt quá trình thi công công trình. Do đó, để đáp ứng đợc yêu cầu
quản lý và đảm bảo sản xuất kịp thời đòi hỏi phải xác định giá thành quy ớc .
+ Giá thành khối lợng hoàn thành quy ớc:
Là khối lợng xây lắp đợc hoàn thành đến giai đoạn nhất định và phải thoả
mãn các điều kiện sau:
. Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lợng kỹ thuật.
. Khối lợng này phải xác định đợc một cách cụ thể và đợc bên chủ đầu t
nghiệm thu chấp nhận thanh toán.
. Phải đạt đến điểm dựng ký thuật hợp lý.
Giá thành khối lợng hoàn thành quy ớc phản ánh đợc kịp thời CPSX cho đối
tợng xây lắp trong quá trình thi công xây lắp trong quá trình thi công xây lắp, từ
đó giúp Doanh nghiệp phân tích kịp thời các chi phí đã chi ra cho từng đối tợng
để có biện pháp quản lý thích hợp và cụ thể. Nhng nó lại không phản ánh đợc
một cách toàn diện, chính xác giá thành toàn bộ công trình, hạng mục công trình.
Do đó, để đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về quản lý giá thành là kịp thời, chính
xác, toàn diện và có hiệu quả thì phải sử dụng cả hai chỉ tiêu trên.
3 - Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Gắn liền với chi phí sản xuất là giá thành sản phẩm. Có thể nói chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất. CPSX
thể hiện sự tiêu hao về các chi phí trong kỳ sản xuất kinh doanh của Doanh
nghiệp, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả thu đợc về các loại chi phí
đã bỏ ra trong kỳ của Doanh nghiệp.
CPSX, GTSP có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng có thể thống nhất
hoặc không thống nhất với nhau. Nó phụ thuộc vào CPSXDD đầu kỳ và
CPSXDD cuối kỳ.
Có thể phản ánh mối quan hệ giữa CPSX và GTSP qua sơ đồ sau:
Chi phí sản xuất Chi phí sản xuất phát Chi phí sản xuất
dở dang đầu kỳ sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ
10
Khơng lê th K35 D2

Trong đó: AC: Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của công tác xây lắp thống nhất
trong trờng hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành là công trình, hạng
mục công trình đợc hoàn thành trong kỳ tính giá thành hoặc giá trị khối lợng
công việc xây lắp dở dang đầu kỳ và cuối kỳ đều bằng nhau.
Xét về mặt chất thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đều là những hao
phí lao động sống và lao động vật hoá để sản xuất và hoàn thành sản phẩm xây
lắp. Về mặt lợng, nếu chi phí sản xuất là tổng hợp những phát sinh trong một kỳ
nhất định thì giá thành sản phẩm lại là tổng hợp những chi phí chi ra gắn liền với
việc sản xuất và hoàn thành một lợng công việc xây lắp nhất định, đợc nghiệm
thu bàn giao thanh toán, giá thành sản phẩm không bao hàm khối lợng dở dang
cuối kỳ, những chi phí không liên quan đến hoạt động sản xuất, những chi phí
thực tế đã chi ra nhng cha phân bổ cho kỳ sau nhng lại bao gồm những chi phí
sản xuất dở dang cuối kỳ chuyển sang, những chi phí trích trớc vào giá thành nh-
ng thực tế cha phát sinh và những chi phí của kỳ trớc chuyển sang phân bổ cho
kỳ này.
Căn cứ vào số liệu hạch toán CPSX để tính giá thành sản phẩm. Nếu coi nh
tính giá thành sản phẩm là công việc chủ yếu trong công tác kế toán thì công tác
chi phí có tác dụng quyết định đến tính chính xác của việc tính chính xác giá
thành sản phẩm xây lắp.
4 - Sự cần thiết phải hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong Doanh nghiệp xây lắp, xây dựng cơ bản.
- Đặc điểm sản xuất xây lắp có ảnh hởng đến tổ chức kế toán:
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất độc lập có chức năng tạo ra
trang thiết bị TSCĐ cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, góp phần xây dựng cơ
sở hạ tầng xã hội, vì vậy phần lớn thu nhập quốc dân nói chung và quĩ tích luỹ
nói riêng cùng với vốn đầu t tài trợ từ nớc ngoài đợc sử dụng trong lĩnh vực cơ
bản.
So với các ngành sản xuất khác, xây dựng cơ bản có những đặc điểm kinh tế
kỹ thuật đặc trng thể hiện rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng tạo ra sản
phẩm. Hiện nay nớc ta đang tồn tại các tổ chức xây lắp nh Tổng công ty, Công
ty, Xí nghiệp, đội xây dựng thuộc các thành phần kinh tế. Tuy các đơn vị này
khác nhau về qui mô sản xuất, hình thức quản lý nhng các đơn vị này đều là
những tổ chức nhận thầu xây lắp. Sản phẩm xây lắp có đặc điểm riêng biệt khác
với các ngành sản xuất khác và ảnh hởng đến công tác tổ chức kế toán.
Quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp, từ khởi công xây dựng đến khi công
trình hoàn thành bàn giao đa vào sử dụng thờng dài, phụ thuộc vào qui mô, tính
chất phức tạp của từng công trình, quá trình thi công xây dựng này đợc chia
thành nhiều giai đoạn lại bao gồm nhiều công việc khác nhau. Các công việc này
chủ yếu đợc thực hiện ngoài trời nên chịu ảnh hởng lớn của các yếu tố nh nắng
11
A B C D
Khơng lê th K35 D2
ma, gió bão Do quá trình và điều kiện thi công không ổn định, phải di chuyển
theo địa điểm đặt sản phẩm và theo từng giai đoạn thi công công trình.
Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có qui mô
lớn kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp
lâu dài Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán nhất thiết sản
phẩm xây lắp phải lập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công). Quá trình sản
xuất sản phẩm xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thớc đo.
Thời gian sử dụng sản phẩm xâylắp rất lâu dài do đó đòi hỏi việc tổ chức
quản lý và hạch toán sao cho chất lợng công trình đảm bảo đúng dự toán thiết kế,
bảo hành công trình.
Với những đặc điểm của sản phẩm xây lắp nêu trên làm cho việc tổ chức,
quản lý, hạch toán trong xây dựng cơ bản khác với ngành khác: cụ thể là mỗi
công trình đều đợc thi công theo đơn đặt hàng riêng, phụ thuộc vào yêu cầu của
khách hàng, yêu cầu kỹ thuật của công trình đó.
- Sự cần thiết và yêu cầu của công tác quản lý và công tác kế toán chi phí
sản xuất, tính giá thành sản phẩm:
Để có thể ấn định đợc giá bán của sản phẩm thì nhất thiết ngời làm giá phải
nắm rõ đợc chi phí của mình thay đổi nh thế nào khi số lợng sản phẩm gia tăng.
Vì vậy sự biến đổi chính xác giá thành đơn vị sản phẩm đa ra thị trờng đặc biệt
quan trọng:
+ Thứ nhất: Nó là cơ sở trực tiếp để tính giá bán vì trong dài hạn Doanh
nghiệp sẽ bán sản phẩm của mình ra thị trờng với mức giá nằm trong khoảng từ
chi phí tới khả năng ngời mua có thể trả.
+ Thứ hai: Nó là căn cứ để DN có thể đặt ra các mức giá, có thể tăng hặc
giảm giá sản phẩm của mình trên cơ sở nắm vững đợc chi phí để sản xuất ra sản
phẩm đó.
Từ những vấn đề nêu trên, việc kiểm soát đợc chi phí là rất cần thiết từ đó
tạo điều kiện cho tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
đợc thuận lợi.
Hơn nữa do đặc thù của ngành xây dựng c bản, của sản phẩm xây lắp nh
trên nên quản lý về đầu t xây dựng là một quá trình khó khăn phức tạp, trong đó
tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm là một trong những mối quan
tâm hàng đầu, là nhiệm vụ quan trọng của Doanh nghiệp.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phơng pháp đấu
thầu, giao nhận thầu xây dựng. Vì vậy, để trúng thầu, đợc thi công một công
trình thì Doanh nghiệp phải xây dựng đợc giá đấu thầu hợp lý cho công trình đó
dựa trên cơ sở các định mức, đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà nớc ban hành, trên
cơ sở giá cả thị trờng và khả năng của Doanh nghiệp. Mặt khác phải đảm bảo
kinh doanh có lãi. Để thực hiện đợc các yêu cầu trên đòi hỏi phải tăng cờng công
tác quản lý kế toán nói chung, quản lý chi phí, giá thành nói riêng, trong đó trọng
tâm là công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đảm bảo
phát huy tối đa tác dụng của công tác kế toán đối với quản lý sản xuất.
12
Khơng lê th K35 D2
II - Tổ chức hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành
sản phẩm trong các Doanh nghiệp xây lắp, xây dựng
cơ bản.
1 - Đối tợng và phơng pháp hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm:
Đặc điểm của sản xuất xây lắp có ảnh hởng đến tổ chức công tác kế toán
trong đơn vị xây lắp thể hiện chủ yếu ở nội dung, phơng pháp trình tự hạch toán
chi phí sản xuất, phân loại chi phí, cơ cấu giá thành xây lắp.
Để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đợc xác định kịp
thời đòi hỏi công việc đầu tiên mà các nhà quản lý phải xác định đối tợng hạch
toán chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản phẩm. Đây là vấn đề có tầm
quan trọng đặc biệt cả trong lý luận cũng nh trong thực tiễn hạch toán và là nội
dung cơ bản nhất của tổ chức hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản
phẩm.
Tổ chức hạch toán quá trính sản xuất trong Doanh nghiệp xây lắp bao gồm
hai giai đoạn kế tiếp nhau và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đó là giai đoạn
hạch toán chi tiết chi phí sản xuất phát sinh theo từng sản phẩm, nhóm sản phẩm,
theo đơn đặt hàng, giai đoạn công nghệ, phân xởng, đội và giai đoạn tính giá
thành sản phẩm, công trình, hạng mục công trình theo đơn đặt hàng đã hoàn
thành, theo đơn vị tính giá thành qui định.
Nh vậy xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định
giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và đối tợng
chịu chi phí. Còn xác định đối tợng tính giá thành sản phẩm chính là việc xác
định sản phẩm, khối lợng công việc xây lắp hoàn thành đòi hỏi phải tính giá
thành đơn vị.
1.1 - Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất.
Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có thể là công trình, hạng mục công
trình, các giai đoạn công việc của hạng mục công trình, nhóm các hạng mục
công trình, các đơn đặt hàng
Xác định đối tợng hạch toán CPSX là căn cứ để mở biểu, khoản, sổ chi tiết,
tổ chức công tác hạch toán ban đầu, tập hợp CPSX theo từng đối tợng để tăng c-
ờng công tác quản lý sản xuất và thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong DN.
Xác định đúng đối tợng tập hợp CPSX và giảm bớt khối lợng công tác kế toán,
đảm bảo cho việc tính giá thành sản phẩm đợc chính xác.
1.2 - Đối tợng tính giá thành sản phẩm.
Đối tợngtính giá thành sản phẩm là các công trình, hạng mục công trình đã
hoàn thành, các giai đoạn công việc đã hoàn thành, các khối lợng xây lắp có tính
dự toán riêng đã hoàn thành. Từ đó xác định phơng pháp tính GTSPXL làm căn
cứ để kế toán các phiếu tính giá thành sản phẩm đợc chính xác.
2 - Phơng pháp hạch toán CPSXXL:
2.1: Tổ chức tính giá thành sản phẩm:
Phơng pháp tính giá thành sản phẩm là một phơng pháp hoặc hệ thống ph-
ơng pháp sử dụng số liệu về chi phí sản xuất để tính toán ra tổng giá thành và giá
13
Khơng lê th K35 D2
thành đơn vị của sản phẩm công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành, giai
đoạn công việc đã hoàn thành, khối lợng xây lắp có tính dự toán riêng đã hoàn
thành, nó mang tính thuần tuý kỹ thuật tính toán chi phí cho từng đối tợng tính
giá thành.
Cùng với việc xác định phơng pháp tính giá thành ta phải xác định đợc kỳ
tính giá thành.
Kỳ tính giá thành là mốc thời gian mà bộ phận kế toán giá thành phải tổng
hợp số liệu để tính giá thành thực tế cho các đối tợng tính giá thành. Kỳ tính giá
thành phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức sản xuất, chu kỳ sản xuất sản phẩm và
hình thức nghiệm thu bàn giao khối lợng sản phẩm hoàn thành. Cụ thể kỳ tính
giá thành trong ngành xây lắp nh sau:
- Đối với các Xí nghiệp khai thác cát, đá, sỏi, Xí nghiệp sản xuất cấu kiện
bê tông, gạch ngói, vôi chu kỳ sản xuất ngắn thì kỳ tính giá thành là hàng tháng
(vào cuối mối tháng).
- Đối với những Doanh nghiệp mà sản phẩm là những công trình, vật kiến
trúc, thì kỳ tính giá thành là thời gian sản phẩm xây lắp đợc coi là hoàn thành và
đợc nghiệm thu bàn giao cho bên A. Hiện nay kỳ tính giá thành cho các công
trình xây lắp đợc xác định nh sau:
+ Đối với những công trình nhỏ, thời gian thi công ngắn (dới 12 tháng) thì
khi nào công trình hoàn thành toàn bộ thì khi đó Xí nghiệp xây lắp mới tính giá
thành thực tế cho công trình đó.
+ Với những công trình xây lắp có thời gian thi công kéo dài (trên 12 tháng)
thì chỉ khi nào có một bộ phận công trình có giá trị sử dụng đợc nghiệm thu bàn
giao thì lúc đó Xí nghiệp xây lắp mới tính giá thành thực tế của bộ phận đó.
+ Với những công trình xây lắp có thời gian kéo dài trong nhiều năm mà
không tách ra đợc từng bộ phận công trình nhỏ đa vào sử dụng thì từng phần việc
xây lắp lớn đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý theo thiết kế kỹ thuật có ghi trong
hợp đồng giao nhận thầu thi công thì sẽ đợc bàn giao thanh toán và Xí nghiệp
tính giá thành thực tế cho khối lợng bàn giao.
Tuỳ theo từng đặc điểm của từng đối tợng tính giá thành, mối quan hệ giữa
đối tợng tập hợp và chi phí sản xuất với đối tợng tính giá thành mà kế toán phải
lựa chọn sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phơng pháp thích hợp để tính giá thành
cho từng đối tợng.
Trong các Doanh nghiệp xây lắp, thờng áp dụng các phơng pháp tính giá
thành sau:
+ Phơng pháp tính giá thành giản đơn (phơng pháp tính giá thành trực tiếp):
Đây là phơng pháp đợc sử dụng phổ biến trong các Doanh nghiệp xây dựng
hiện nay vì đối tợng đợc tính giá thành phù hợp với đối tợng chi phí sản xuất, kỳ
tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo, hơn nữa cách tính lại dễ dàng.
Theo phơng pháp này, tập hợp tất cả chi phí sản xuất trực tíếp cho một công
trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành chính là giá
thành của công trình, hạng mục công trình ấy.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét