Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Đầu tư phát triển tại công ty Cổ Phần Chứng Khoán Sài Gòn

các mậu dịch trường khác cũng được thành lập với ít nhiều cải tiến, tuỳ theo điều kiện của
mỗi quốc gia.
Sau một thời gian hoạt động, mậu dịch trường không còn phù hợp và không đủ sức cho
các giao dịch với ba nội dung hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, giao dịch hàng hoá được tách
ra thành "khu thương mại", giao dịch ngoại tệ tách ra thành "thị trường hối đoái", giao dịch
giá khoán động sản tách ra thành "thị trường chứng khoán" và các hợp đồng cho tương lai
được tách ra thành các "thị trường tương lai".
Như vậy, thị trường chứng khoán đã xuất hiện từ thế kỷ 15. Sự hình thành thị trường
chứng khoán cũng đồng thời với thị trường hối đoái và các loại thị trường khác.
Quá trình hình thành và phát triển thị trường chứng khoán thế giới đã trải qua những
bước thăng trầm. Thời kì huy hoàng nhất là vào những năm 1875 - 1913, thị trường chứng
khoán phát triển cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nhưng đến ngày 29/10/1929 -
được gọi là "ngày thứ năm đen tối", tức là ngày mở đầu cho cuộc khủng hoảng thị trường
chứng khoán New York đã làm cho thị trường chứng khoán New York và các thị trường
Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản khủng hoảng. Sau thế chiến thứ hai, các thị trường chứng
khoán phục hồi và phát triển mạnh. Nhưng rồi "cuộc khủng hoảng tài chính" năm 1987,
một lần nữa đã làm cho các thị trường chứng khoán thế giới suy sụp, kiệt quệ, lần này hậu
quả của nó rất lớn và nặng nề hơn cuộc khủng hoảng năm 1929, nhưng chỉ sau 2 năm thị
trường chứng khoán thế giới lại đi vào ổn định, phát triển và đã trở thành một định chế tài
chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế cuả những quốc gia có nền kinh tế phát
triển theo cơ chế thị trường.
Thị trường chứng khoán và các thị trường tài chính nói chung đã trải qua một cuộc cách
mạng thực sự trong những năm gần đây do các biến động lớn trong bối cảnh kinh tế, pháp
lý hoặc kĩ thuật. Các cuộc cải cách có nhiều hình thức khác nhau như:
Cải cách các chế độ thuế nhằm thu hút người có tiền tích luỹ tham gia vào thị trường
chứng khoán bằng cách giảm thuế thu nhập đánh vào các khoản đầu tư vào các cổ phiếu.
Thành lập một thị trường không chính thức: năm 1983 ở một số nước, thị trường không
chính thức đã được thành lập để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tầm cỡ trung bình có
thể tham gia trên thị trường chứng khoán như: các điều kiện về hành chính và tài chính
được yêu cầu ít hơn là trên thị trường chính thức.
Tạo ra các hình thức chứng khoán mới: một loạt các sản phẩm tài chính đã được xây dựng
để nhằm đáp ứng tốt hơn hình thức tài trợ qua thị trường chứng khoán cho các nhu cầu của
các nhà vay vốn. Phần lớn các sản phẩm mới về chứng khoán này tồn tại dưới hình thức
"lai tạo" bằng cách tận dụng các lợi thế của một hình thức pháp lý nào đó mà không có các
điểm bất lợi hoặc để kết hợp các ưu điểm của nguồn vốn tự có với các ưu điểm của các
chứng khoán đại diện quyền cho vay. Hình thức tư vấn tài chính này không phải lúc nào
cũng thu hút được người có tiền tích luỹ. Điều đó giải thích cho tính chất ngắn hạn hay
tính khả dụng kém của một số loại chứng khoán không hâm mộ đối với các nhà đầu tư.
Hiện đại hoá thị trường vay nợ của Nhà nước để tạo điều kiện cho Nhà nước có thể vay
vốn trên các thị trường và để giảm nhẹ bớt chi phí, thị trường tín phiếu kho bạc đã được
hiện đại hoá rất nhiều theo mô hình Mỹ: tạo ra tư cách pháp nhân cho các SVT (chuyên gia
về các tín phiếu kho bạc), kĩ thuật mới về phát hành và đấu thầu các tín phiếu, đồng nhất
các đợt phát hành trái phiếu qua việc phát hành các OAT (rái phiếu kho bạc đồng nhất).
Đổi mới kĩ thuật để tạo dựng một cơ cấu đủ hiện đại nhằm đáp ứng với sự phát triển của
việc tài trợ phí trung gian hoá, các chức năng của ngành kinh doanh thị trường chứng
khoán đã được tin học hoá mạnh mẽ. Hai cải cách lớn nhất về kĩ thuật một mặt liên quan
đến sự giao dịch (front-office)và mặt khác liên quan đế việc xử lý hành chính các nghiệp
vụ giao dịch (back-office), tạo điều kiện cho việc lưu thông các cổ phiếu giữa các tổ chức
thành viên, thông qua các nghiệp vụ chuyển khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác.
+Thành lập các thị trường biến tướng. Năm 1986, ở Pháp thành lập thị trường MATIF,
năm 1987 thành lập thị trường MONEP, các thị trường biến tướng này được lập ra để tạo
cho các tổ chức kinh tế và cho các nhà quản lý hồ sơ chứng khoán khả năng phòng ngừa
các rủi ro liên quan đến các biến động về cổ phiếu, tỷ lệ lãi suất và tỷ giá hối đoái. Các thị
trường này cũng có mục đích tăng vốn khả dụng trên thị trường giao ngay qua các khả
năng kinh doanh chênh lệch giá. Là các thị trường thực sự trong thời đại mới, các thị
trường này đã thúc đẩy việc hiện đại hoá giới tài chính và tham gia vào vào cuộc chiến
giành ngôi bá chủ tài chính ở châu Âu.

2.1 Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Chủ thể tham gia thị trường chứng khoán gồm 4 chủ thể là
Tổ chức phát hành:
Tổ chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường vốn. Nhà
phát hành chính là người cung cấp chứng khoán và các công cụ thị trường vốn khác ra thị
trường.
Tổ chức phát hành bao gồm
- Chính phủ và chính quyền địa phương là các tổ chức phát hành trái phiếu
- Các doanh nghiệp là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành cácc ông cụ tại chính như các trái phiếu,
chứng chỉ quỹ thụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ
Để phát hành chứng khoán ra công chúng thì các tổ chức phát hành phải thỏa mãn điều
kiện và thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng
khoán
Nhà đầu tư:
Nhà đầu tư chứng khoán là các bao gồm nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư là tổ chức của
cả Việt Nam và nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. Nhà đầu tư
chứng khoán có đồng thời mang hành vi của nhà đầu tư thuần túy hoặc đầu cơ chứng
khoán
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
- Công ty chứng khoán
- Quỹ đầu tư chứng khoán
- Các trung gian tài chính
Các tổ chức kinh doanh chứng khoán là các tổ chức thực hiện các nghiệp vụ môi giới tự
doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký chứng khoán, quản lý quỹ
đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán. Các cơ quan chức năng thực
hiện cấp phép hoạt động cho các tổ chức này đồng thời giám sát hoạt động của các tổ chức
nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư.
Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
Nhóm này bao gồm:
- Cơ quan quản lý Nhà nước( UBCKNN)
- Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK)
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
- Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
- Các tổ chức tài trợ chứng khoán
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm…
Cơ quan quản lý Nhà nước cụ thể là Bộ Tài chính sẽ chịu trách nhiệm trước Chính phủ về
hoạt động và phát triển thị trường tài chính trong đó có TTCK. UBCKNN sẽ là đơn vị thực
thi các quy định của cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý trên thị trường chứng khoán. Sở
giao dịch sẽ là nơi quản lý các tổ chức niêm yết trên Sở và thành viên của Sở là các công ty
chứng khoán thành viên. Tổ chức lưu ký thanh toán bù trừ hỗ trợ cho nhà đầu tư thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình.

2.2 Chức năng của thị trường chứng khoán
• Chức năng huy động vốn cho các tổ chức phát hành
Trước đây, khi mà thì trường chứng khoán chưa hình thành, các đơn vị kinh tế chỉ biết
huy động vốn thông qua ngân hàng với lãi suất cho vay thay đổi tuỳ theo lãi xuất của thị
trường. Ngày nay, khi đã có thị trường chứng khoán ngoài kênh từ ngân hàng thì các đơn
vị kể cả nhà nước cũng có thể huy động trực tiếp từ các nguồn tiết kiệm bằng cách phát
hành cổ phiếu hay trái phiếu. Thông qua thị trường chứng khoán các chủ thể phát hành có
thể huy động được vốn mà ko bị áp lực trả lãi, khi công ty làm ăn hiệu quả thì thị giá của
cổ phiếu của công ty càng tăng làm cho việc huy động vốn càng dê dàng hơn. Chính phủ
cũng có thê huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường để lấy
tiền chi tiêu cho chính phủ, đầu tư công thay vì phải phát hành thêm tiền tệ dễ gây ra hiện
tượng lạm phát.
• Đa dạng hoá các kênh đầu tư cho dân chúng
Khi có thị trường chứng khoán thì người dân sẽ có một kênh đầu tư mới ngoài những
kênh đầu tư truyền thống như gửi tiết kiệm tại ngân hàng, bất động sản, hàng hoá… hay là
cất trữ dưới dạng kim khí quý. Thị trường chứng khoán với nhiều loại cổ phiếu với mức độ
rủi ro khác nhau, kỳ vọng lợi nhuận khác nhau, thuộc hầu hết các ngành nghề trong xã hội
sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư với những khả năng tài chính khác nhau, sở thích đầu tư
khác nhau. Điều này làm cho việc sử dụng tiền của người dân được hiệu quả hơn và sẽ thu
hút lượng tiền nhàn rỗi đáng kể trong dân vào thị trường sản xuất thông qua thị trường
chứng khoán.
Không những thế thị trường chứng khoán còn có chức năng là thu hút các nhà đầu tư là
các cá nhân, tổ chức nước ngoài có nguồn tài chính khổng lồ cho nền kinh tế Việt Nam .
• Là công cụ điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Được coi là phong vũ biểu của nền kinh tế, thị trường chứng khoán là một công cụ quan
trọng để nhà nước thông qua đó biết được tình hình kinh tế trong hiện tại và tương lai gần
để có những chính sách điều chỉnh kinh tế và tiền tệ hợp lý. Ngoài ra, thông qua thị trường
chứng khoán chính phủ và các tổ chức công quyền có thể phát hành trái phiếu của mình để
huy động cho chi tiêu và đầu tư công mà không phải phát hành thêm tiền ra thị trường là
nguyên nhân của lạm phát.
• Thị trường chứng khoán góp phần điều hoà vốn giữa các ngành kinh tế giúp
cho các ngành được phát triền đồng đều
Trước hết, vốn thừa ở ngành này sẽ chuyển qua ngành khác thiếu vốn nhờ vào việc bán
lại các chứng khoán ở thị trường thứ cấp để thu hồi vốn và mua chứng khoán mới ở thị
trường sơ cấp hoặc mua đi bán lại chứng khoán trên thị trường thứ cấp để điều hoà vốn
giữa các ngành thừa với ngành thiếu vốn. Hai là, vốn đầu tư vào các ngành thường gắn với
hình thái tự nhiên đã định sẵn của các nhà xưởng máy móc thiết bị .v .v nên rất khó chuyển
hướng đầu tư. Nhờ vào thị trường chứng khoán mà nhà đầu tư có thể chuyển hướng đầu tư
một cách dễ dàng, không cần phải thông qua thị trường hàng hoá, thị trường tín dụng mà
bằng cách bán chứng khoán đó cho người khác, thu hồi vốn bằng tiền, chuyển sang mua
chứng khoán của ngành đầu tư mới. Nhờ vào vai trò của thị trường chứng khoán mà “tính
ỳ” của đầu tư vào sản xuất đã dễ bị phá vỡ, tạo ra những đông năng cho sản xuất và kinh
doanh. Cuối cùgn là vốn được tập trung vào ngành nào có lợi nhuận cao đến một lúc nào
đó sẽ gây nên hiện tượng thừa vốn của ngành đó, song lại thiếu vốn của ngành khác. Để
bình quân hoá lợi nhuận của xã hội, các ngành có lợi nhuận thấp hoặc thiếu vốn phải chọn
nhiều phương cách huy động vốn, trong đó có phương cách là phát hành cổ phiếu, trái
phiếu mới. Nhờ vào cách này, một mặt doanh nghiệp huy động thêm được vốn, mặt khác
thu hút thêm được những nhà đầu tư mới tham gia vào quản lý doanh nghiệp. Vốn, nhân
lực và quản lý là động lực cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp, là cơ sở cho cạnh tranh
lành mạnh giữa các ngành, do đó, chúng đẩy toàn bộ nền kinh tế chuyển động theo hướng
xoáy trôn ốc.
• Thị trường chứng khoán giúp đánh giá giá trị doanh nghiệp rõ ràng và công
khai
Thông qua thị trường chứng khoán, các loại hàng hoá niêm yết sẽ được đánh giá. Thị
giá của cổ phiếu và lượng cổ phiếu niêm yết cho ta biết giá trị vốn hoá thị trường của
doanh nghiệp niêm yết. Điều này cho ta căn cứ để đánh giá doanh nghiệp này với các
doanh nghiệp khác trong ngành hoặc các doanh nghiệp thuộc các ngành, lĩnh vực khác
nhau trong nền kinh tế.

II CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1. Khái niệm:
Công ty chứng khoán là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện các nghiệp vụ trên
thị trường chứng khoán. và là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hạch toán độc
lập. Công ty chưng khoán chính là cầu nối giữa cơ quan quản lý với nhà đầu tư và tổ chức
phát hành; giữa tổ chức phát hành, niêm yết với nhà đầu tư. Do đặc điểm của CTCK có thể
kinh doanh một lĩnh vực, loại hình kinh doanh chứng khoán nhất định nên có quan điểm
phân chia CTCK những loại sau:
Công ty môi giới chứng khoán: chỉ thực hiện mua bán chứng khoán cho khách hàng để
hưởng hoa hồng
Công ty bảo lãnh phát hành chứng khoán: Là công ty chứng khoán chủ yếu thực hiện
nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phí hoặc chênh lệch giá
Công ty kinh doanh chứng khoán: đây là công ty chủ yếu thực hiện đầu tư chứng khoán
qua nghiệp vụ tự doanh với vai trò như một nhà đầu tư chuyên nghiệp
Công ty trái phiếu; là công ty chứng khoán chuyên thực hiện việc mua bán trái phiếu kiếm
lợi nhuận
Công ty chứng khoán phi tập trung là công ty chứng khoán chủ yếu hoạt động trên thị
trường chứng khoán phi tập trung
Hiện tại thì tại Việt Nam các công ty chứng khoán thường hoạt động trên rất nhiều hoạt
động như hoạt động môi giới chứng khoán, hoạt động tự doanh chứng khóan, hoạt động
kinh doanh trái phiếu…tùy thuộc vào mức vốn điều lệ và chính sách hoạt động của công ty

2 Loại hình tổ chức và cơ cấu của công ty chứng khoán
2.1 Loại hình tổ chức của công ty chứng khoán
Hiện nay có 3 loại hình tổ chức cơ bản của công ty chứng khoán là: công ty cổ phần,
công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn.
Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu công ty là các cổ đông
Cổ đông chỉ chịu trahcs nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong
phạm vi số vốn đã góp vào trong doanh nghiệp
Công ty có quyền phát hành chứng khoán ra ngoài công chúng và có thể niêm yết trên
sàn giao dịch chứng khoán tập trung
Công ty hợp danh
Là loại hình công ty có từ 2 chủ sở hữu trở lên
Thành viên của công ty hợp danh gồm có: Thành viên góp vốn và thành viên hợp danh.
Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về
các nghĩa vụ của công ty. Các thành viên góp vốn không tham gia điều hành công ty thì chỉ
phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình đối với những khoản nợ của
công ty.
Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào
Công ty TNHH
Thành viên của công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
cảu doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vốn vào doang nghiệp
Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu
Do có nhiều ưu điểm nên hai loại hình tổ chức công ty là CTCP và công ty TNHH nên
hiện nay các công ty chứng khoán chủ yêu tổ chức theo hai loại hình công ty trên
2.2 Cơ cấu của công ty chứng khoán
Cơ cấu của công ty chứng khoán phụ thuộc vào các loại hình nghiệp vụ chứng khoán
mà công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanh chứng khoán của nó. Tuy
nhiên, chúng đều có đặc điểm chung là hệ thống các phòng ban chức năng được chia thành
2 nhóm là khối nghiệp vụ và khối phụ trợ
• Khối nghiệp vụ(front office) là khối thực hiên các giao dịch kinh doanh và
dịch vụ chứng khoán. Khối này đem lại thu nhập cho công ty bằng cách đáp ứng nhu cầu
của khách hàng và tạo ra các sản phẩm phù hợp với các nhu cầu đó. Tương ứng với các
nghiệp vụ do khối này phụ trách sẽ có những bộ phận phòng ban nhất định:
Phòng môi giới
Phòng tự doanh
Phòng bảo lãnh phát hành
Phòng quản lý danh mục đầu tư và quỹ đầu tư
Phòng tư vấn tài chính và đầu tư
Phòng ký quỹ
Tuy nhiên, căn cứ vào quy mô thị trường và sự chú trọng vào các nghiệp vụ mà công ty
chứng khoán có thể chuyên sâu từng bộ phận hoặc tông hợp các nghiệp vụ vào trong một
bộ phận
• Khối phụ trợ( back office) là khối không trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ
kinh doanh nhưng nó có thể không thể thiếu được trong vận hàng của công ty chứng khoán
vì hoạt động của nó mang tính chất trợ giúp cho khối nghiệp vụ. khối này bao gồm các bộ
phận như sau
Phòng nghiên cứu và phát triển
Phòng phân tích và thông tin thị trường
Phòng kế hoạch công ty
Phòng phát triển sản phẩm
Phòng công nghệ tin học(IT)
Phòng pháp chế
Phòng kế toán, thanh toán và kiểm soát nội bộ
Phòng ngân quỹ, ký quỹ
Phòng tổng hợp và hành chính nhân sự
Ngoài sự phân biệt rõ ràng hai khối như vây, do mức độ phát triển của công ty chứng
khoán và thị trường chứng khoán mà có thể có thêm các bộ phận khác như: mạng lưới chi
nhánh, văn phòng trong va ngoài nước, văn phòng đại lý….

3 Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán
3.1 nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho
khách hàng để hưởng hoa hồng. theo đó công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến
hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại SGDCK hoặc TTGDCK hoặc thị trường
OTC mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm với kết quả giao dịch của mình.
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến khách hàng các sản
phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với nhà đầu tư
mua chứng khoán và trong những trường hợp nhất định thì hoạt động môi giới sẽ trở thành
người san sẻ động viên hay chia vui cùng nhà đầu tư, giúp đỡ nhà đầu tư có những quyết
định đúng đắn nhất có thể.
3.2 Tự doanh chứng khoán
Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán tiến hành các giao dịch mua và bán
chứng khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực
hiện thông qua cơ chê giao dịch trên SGDCK hoặc thì trường OTC. Tại một số thị trường
vận hành theoc cơ chế khớp giá hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực
hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này công ty chứng khoán đóng vai trò tạo
lập thị trường ( Market maker), nắm giữ số lượng chứng khoán nhất định của một số loại
chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để hưởng chênh lệch
mệnh giá.
Mục đích của hoạt động tự doanh là thu lợi nhuận cho chính công ty thông qua hành vi
mua, bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ
môi giới chứng khoán, vừa phục vụ lệnh giao dịch của các nhà đầu tư bên ngoài đồng thời
cũng vừa phục vụ chính bản thân mình. Do vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến
xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịch cho khách hàng và giao dịch cho bản thân công
ty. Do đó, luật pháp của các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa nghiệp vụ môi giới và
tự doanh chứng khoán, công ty chứng khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng
trước. Thậm chí tại một số nước họ còn quy định riêng thành 2 loại hình công ty chứng
khoán, công ty chứng khoán là công ty môi giới thì chỉ làm nhiệm vụ môi giới còn công ty
chứng khoán là công ty tự doanh thỉ chỉ làm nhiệm vụ tự doanh chứng khoán.
Khác với nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán chỉ làm trung gian thực hiện lệnh
cho khách hang để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh công ty thực hiện bằng
chính nguồn vốn của công ty. Vì vậy, công ty chứng khoán đòi hỏi pahir có nguồn vốn lớn
và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích và đưa ra các quyết định
đầu tư hợp lý, đặc biệt là trong vai trò của các nhà tạo lập thị trường.
3.3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Để thực hiện thành công các đợt cháo bán chứng khoán ra công chúng đòi hỏi tổ chức
phát hành phải cần đến các công ty chứng khoán tư vấn cho đợt phá hành và thực hiện bảo
lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng. Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
của các công ty chứng khoán và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng số
doanh thu của công ty chứng khoán. Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc công ty
chứng khoán có chức năng bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi
chào bán chứng khoán trong giai đoạn đầu sạu khi phát hành. Tổ chức bảo lãnh phát hành
chứng khoán không chỉ có các công ty chứng khoán mà có cả các định chế tài chính là các
ngân hàng đầu tư nhưng thông thường thì các công ty chứng khoán nhận bảo lãnh phát
hành thường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường
đứng ra nhận bảo lãnh phát hành hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành sau đó chuyển
chứng khoán cho các công ty chứng khoán phân phối. Hiện nay có một số hình thức bảo
lãnh phát hành sau:
Bảo lãnh cam kết chắc chắn
Bảo lãnh cố gắng tổi đa
Bảo lãnh tất cả hoặc không
3.4 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn ủy thác của khách hàng để đầu tư vào chứng khoán thông
qua danh mục đầu tư nhằm sinh lời cho khách hàng trên cơ sở tăng lợi nhuận và bảo toàn
vốn cho khách hàng. Quản lý danh mục đầu tư là một dạng ghiệp vụ tư vấn đầu tư mang
tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư, khách hàng ủy thác tiền cho công ty chứng khoán
thay mặt mình quyết định đầu tư theo chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách
hàng chấp thuận hoặc yêu cầu.
3.5 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng
khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và
có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành đầu tư và cơ cấu
tài chính cho khách hàng.
3.6 Các nghiệp vụ phụ trợ
Lưu ký chứng khoán
Quản lý thu nhập của khách hàng
Nghiệp vụ tín dụng
Nghiệp vụ quản lý quỹ

4 Vai trò của công ty chứng khoán
4.1 Đối với các tổ chức phát hành:
Mục tiêu khi tham gia vào thì trường chứng khoán của các tôt chức phát hành là huy
động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát
hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn
phục vụ các chủ thể phát hành. Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường
chứng khoán là nguyên tắc trung gian. Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những
nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung
gian mua bán. Các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả nhà đầu tư
và tổ chức phát hành. Và khi thực hiện công việc này công ty chứng khoán tạo ra cơ chế
huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán.
4.2 Đối với nhà đầu tư.
Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, công
ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả
của các khoản đầu tư. Đối với hàng hóa thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng
chi phí . tuy nhiên, với hàng hóa đặc thù như chứng khoán thì sự biến động giá chứng
khoán là rất thường xuyên, mức độ rủi ro cao sẽ làm nhà đầu tư mất nhiều tiền của và chi
phí để nghiên cứu chứng khoán trước khi ra quyết định đầu tư. Nhưng thông qua công ty
chứng khoán, với đội ngũ nhân lực chuyên môn có chất lượng cao, có uy tín nghề nghiệp
sẽ giúp nhà đầu tư tăng hiệu quả của việc quyết định đầu tư.
4.3 Đối với thị trường chứng khoán
Đối với thị trường chứng khoán thì công ty chứng khoán có hai vai trò chính là:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét