mặt pháp lý. Ví dụ, Luật Thơng mại Việt nam 1997 Điều 49 qui định hình
thức của hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật qui định phải đợc lập thành
văn bản thì phải tuân theo qui định đó, trong khi đó luật của Pháp cho phép ký
kết hợp đồng bằng miệng. Hay nh về nội dung của hợp đồng thì Luật Thơng
mại Việt nam 1997 qui định các điều khoản về tên hàng, số lợng, qui cách
chất lợng, giá cả, phơng thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao nhận hàng
là các điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá. Theo luật Pháp thì
điều khoản chủ yếu chỉ bao gồm tên hàng, số lợng, qui cách chất lợng, giá cả
và phơng thức thanh toán.v.v
Bên cạnh đó, tranh chấp trong ngoại thơng còn phát sinh trong quá trình
thực hiện hợp đồng ngoại thơng. Hợp đồng sau khi đợc ký kết là cơ sở pháp lý
qui định quyền và nghĩa vụ của các bên. Bản chất của hợp đồng là đem lại lợi
ích cho tất cả các chủ thể tham gia. Song quyền lợi của các bên chỉ đợc đảm
bảo trong chừng mực mà nghĩa vụ của các bên qui định trong hợp đồng phải đ-
ợc thực hiện đầy đủ và chính xác. Tuy quan hệ hợp đồng là quan hệ hai bên
cùng có lợi nhng do quyền lợi của các bên lại khác nhau nên việc một trong
các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình tất
yếu làm ảnh hởng đến quyền lợi của bên kia. Khi quyền lợi của các bên không
đợc đảm bảo thì tranh chấp phát sinh là điều không thể tránh khỏi. Ví dụ,
trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng, khi ngời bán vi
phạm nghĩa vụ giao hàng hay ngời mua vi phạm nghĩa vụ trả tiền hàng thì đều
ảnh hởng đến quyền lợi của bên kia và dẫn đến tranh chấp xảy ra. Nh vậy, sự
khác nhau về quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng là
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp.
2. Đặc điểm của tranh chấp trong ngoại thơng
Vì tranh chấp trong ngoại thơng cũng là một tranh chấp nên tranh chấp
trong ngoại thơng có những đặc điểm của một tranh chấp thông thờng. Tranh
5
chấp trong ngoại thơng cũng có ít nhất là hai bên tranh chấp, có đối tợng tranh
chấp, có nội dung tranh chấp, tranh chấp có thể đợc giải quyết giữa các bên
với nhau hoặc do một cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Bên cạnh đó, tranh chấp trong ngoại thơng còn mang một số đặc điểm
của hợp đồng mua bán ngoại thơng do chúng cùng liên quan và có ảnh hởng
quan trọng đến hoạt động ngoại thơng. Các đặc điểm đó nh sau:
Thứ nhất, tranh chấp trong ngoại thơng có yếu tố quốc tế. Yếu tố quốc tế
của tranh chấp trong ngoại thơng thể hiện ở chỗ các bên tranh chấp có trụ sở
thơng mại đặt ở các nớc khác nhau.
Thứ hai, tranh chấp trong ngoại thơng mang tính thơng mại. Tất cả các
tranh chấp trong ngoại thơng đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt
động buôn bán, cụ thể là hoạt động buôn bán với nớc ngoài.
Thứ ba, cơ quan giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng là toà án hay
trọng tài của một nớc nào đó đợc coi là toà án hay trọng tài nớc ngoài.
Thứ t, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng là luật nớc
ngoài đối với ít nhất là một trong các bên hoặc với tất cả các bên.
Thứ năm, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng rất đa
dạng và phức tạp: luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán quốc tế và các án lệ.
Các bên có thể thoả thuận lựa chọn nguồn luật thích hợp để áp dụng trong việc
giải quyết tranh chấp trong hợp đồng ngoại thơng hoặc thoả thuận sau khi ký
kết hợp đồng. Việc áp dụng nguồn luật nào cũng có thể do pháp luật qui định.
ii/ giải quyết tranh chấp trong ngoạI thơng
1. Nhận xét chung
6
Bất kỳ một hợp đồng nào trong lĩnh vực ngoại thơng nếu đợc các bên đ-
ơng sự thực hiện đúng thì không xảy ra tranh chấp và do đó cũng không cần
việc giải quyết tranh chấp. Nhng trong thực tế sự tranh chấp gần nh là một ng-
ời bạn đồng hành với hoạt động ngoại thơng. Khi tham gia vào hợp đồng mua
bán ngoại thơng các bên đều không muốn tranh chấp phát sinh, nhng do nhiều
nguyên nhân khách quan cũng nh chủ quan mà tiêu biểu nhất là sự đối lập
quyền lợi giữa các bên, tranh chấp vẫn thờng xảy ra. Có tranh chấp phát sinh
cũng có nghĩa là tranh chấp đó phải đợc giải quyết thoả đáng. Nh vậy, giải
quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là khâu cuối cùng không thể thiếu
đợc của cả một quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng trong ngoại thơng.
Về mặt lý luận cũng nh thực tiễn, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh
trong ngoại thơng thờng đợc tiến hành theo hai phơng pháp và cũng là hai giai
đoạn, đó là khiếu nại và đi kiện.
Khiếu nại là biện pháp thờng đợc sử dụng trớc tiên đem lại hiệu quả cao
đồng thời tạo thuận lợi cho các bên trong việc giải quyết tranh chấp. Khi tranh
chấp không thể giải quyết đợc bằng khiếu nại, bên bị vi phạm mới nên đi kiện.
Việc đi kiện có thể đa ra toà án hoặc trọng tài tuỳ theo qui định trong hợp
đồng, theo luật định hay theo sự thoả thuận của hai bên. Biện pháp này có hiệu
lực thi hành cao hơn nhng lại tốn kém thời gian, tiền bạc và dễ làm xấu đi mối
quan hệ buôn bán của các bên. Tuy nhiên, nhiều khi để bảo vệ quyền lợi của
mình, việc đi kiện với bên bị vi phạm là cần thiết.
2. Giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng bằng khiếu nại và đặc
điểm
2.1. Khái niệm
7
Khiếu nại là việc giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên có liên quan
bằng con đờng thơng lợng và đàm phán trực tiếp giữa hai bên và nếu thơng l-
ợng có kết quả thì tranh chấp đợc giải quyết tốt đẹp.
Đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán ngoại thơng, hợp đồng
bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, khiếu nại là bắt buộc nếu điều đó đợc qui
định cụ thể trong hợp đồng hoặc trong luật áp dụng cho hợp đồng. Khi hợp
đồng hoặc luật áp dụng cho hợp đồng không có qui định gì về khiếu nại thì
khiếu nại không phải là bắt buộc, bên có quyền lợi bị vi phạm có thể bỏ qua b-
ớc khiếu nại mà đi kiện ngay.
Đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đ-
ờng biển thì điều ớc quốc tế và luật liên quan của các nớc không qui định bắt
buộc phải khiếu nại rồi mới đi kiện, mà có thể đi kiện ngay ra toà án hoặc
trọng tài thơng mại. Tuy vậy, trong thực tế các bên đơng sự thờng tiến hành
khiếu nại nhau trớc, rồi sau đó mới đi kiện nếu nh khiếu nại không đợc thoả
mãn. Sở dĩ trớc hết cần phải tiến hành khiếu nại chứ cha đi kiện ngay vì các
bên đơng sự là những ngời hiểu rõ tranh chấp cho nên dễ dàng nhân nhợng với
nhau, rút ngắn đợc thời gian giải quyết tranh chấp, không bị đọng vốn và lệ
phí giải quyết tranh chấp đỡ tốn kém.
Mặc dù khiếu nại có thể là bắt buộc hoặc không bắt buộc tuỳ theo qui
định trong hợp đồng hoặc trong luật áp dụng cho hợp đồng và khi hợp đồng
hoặc trong luật áp dụng cho hợp đồng không có qui định gì về khiếu nại thì
khiếu nại không phải là bắt buộc, bên có quyền lợi bị vi phạm có thể bỏ qua b-
ớc khiếu nại mà đi kiện ngay, nhng trớc tiên các bên tranh chấp nên giải quyết
tranh chấp phát sinh trong ngoại thơng bằng khiếu nại. Luật pháp nhiều nớc
qui định khiếu nại là phơng thức bắt buộc đầu tiên để giải quyết tranh chấp.
Cụ thể, khoản 1 điều 239 Luật thơng mại Việt nam 1997 đã qui định : Tranh
chấp thơng mại trớc hết phải đợc giải quyết thông qua thơng lợng giữa các
8
bên. Khi đó, khiếu nại là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp ở các mức
cao hơn là Toà án và Trọng tài.
Khiếu nại là một khâu rất quan trọng trong hoạt động ngoại thơng cho
nên ngời làm công tác xuất nhập khẩu cần nắm vững kiến thức về nghiệp vụ
ngoại thơng cũng nh kiến thức pháp lý về khiếu nại.
Trong hoạt động thơng mại và hàng hải quốc tế, khiếu nại liên quan đến
nhiều bên nh ngời bán, ngời mua, ngời chuyên chở, ngời thuê chở, ngời gửi
hàng, ngời nhận hàng, ngời uỷ thác, ngời nhận uỷ thác, ngời bảo hiểm v.v
Song khiếu nại ngời bán hàng, ngời chuyên chở hàng hoá bằng đờng biển, ng-
ời bảo hiểm hàng hoá là những trờng hợp hay xảy ra nhất.
2.2. Đặc điểm
Để có thể tiến hành giải quyết thành công tranh chấp trong ngoại thơng
bằng phơng pháp khiếu nại các bên cần tuân thủ chặt chẽ thời hạn khiếu nại và
thủ tục khiếu nại.
a) Thời hạn khiếu nại
Thời hạn khiếu nại là một khoảng thời gian nhất định cho phép các bên
tiến hành giải quyết tranh chấp với nhau bằng con đờng khiếu nại.
Thời hạn khiếu nại đợc chia làm hai loại: thời hạn khiếu nại theo luật định
và thời hạn khiếu nại qui ớc.
Thời hạn khiếu nại theo luật định là thời hạn khiếu nại đợc qui định trong
luật mà các bên đơng sự phải tuân theo, không đợc làm khác đi. Thời hạn
khiếu nại đợc qui định trong điều ớc quốc tế về hợp đồng mua bán ngoại thơng
là thời hạn khiếu nại luật định. Ví dụ, Điều 49 Công ớc La Hay 1964 về mua
bán quốc tế những động sản hữu hình qui định thời hạn khiếu nại về phẩm
chất hàng hoá là 1 năm kể từ lúc ngời mua thông báo cho ngời bán biết về
hàng không phù hợp. Hay nh Điều 39 Công ớc Viên của Liên hợp quốc về
9
mua bán quốc tế hàng hoá thời hạn khiếu nại về hàng không phù hợp là 2 năm
kể từ ngày hàng đã thực sự đợc giao cho ngời mua.
Thời hạn khiếu nại qui ớc là thời hạn khiếu nại do các bên qui định trong
hợp đồng. Việc qui định thời hạn khiếu nại ngắn hay dài do các bên tự thoả
thuận quyết định. Thông thờng, thời hạn khiếu nại qui ớc ngắn hơn thời hạn
khiếu nại luật định, thậm chí là rất ngắn. Chẳng hạn, hợp đồng mẫu của tập
đoàn mua bán gỗ thông Bắc Âu qui định thời hạn khiếu nại chỉ là 7 ngày.
Luật Thơng mại Việt nam 1997 đề cập đến cả thời hạn khiếu nại luật định
và thời hạn khiếu nại qui ớc. Điều 241 khoản 2 Luật Thơng mại Việt nam qui
định thời hạn khiếu nại do các bên thoả thuận trong hợp đồng, trong trờng hợp
không có thoả thuận thì thời hạn khiếu nại đợc qui định nh sau:
- Ba tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lợng hàng hoá;
- Sáu tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về qui cách, chất lợng
hàng hoá; trong trờng hợp hàng hoá có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là
ba tháng kể từ ngày hết thời hạn bảo hành;
- Ba tháng kể từ khi bên vi phạm theo hợp đồng đối với khiếu nại về các
hành vi thơng mại khác.
Khi qui định thời hạn khiếu nại cần xác định vị trí của mình, có u thế hay
không; cần căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá, căn cứ vào khoảng
cách xa gần giữa ngời bán và ngời mua, mức độ hiện đại của phơng tiện giao
thông, để qui định là dài hay ngắn.
Trong trờng hợp cả hợp đồng lẫn luật áp dụng cho hợp đồng đều không
qui định gì về thời hạn khiếu nại thì thông thờng đó là một khoảng thời gian
hợp lý kể từ ngày bên bị vi phạm biết đợc hoặc đáng lẽ ra phải biết đợc quyền
lợi của mình bị vi phạm. Do vậy, trong trờng hợp này khi phát hiện ra quyền
lợi của mình bị vi phạm, bên bị vi phạm phải nhanh chóng lập bộ hồ sơ khiếu
nại để gửi đi trong thời gian nhanh nhất và hợp lý.
10
Các bên tranh chấp cần phải đặc biệt chú ý tới thời hạn khiếu nại. Nếu bên
bị vi phạm bỏ lỡ thời hạn khiếu nại thì sẽ mất quyền khiếu nại và hoặc mất
quyền đi kiện, quyền thắng kiện, còn bên vi phạm có quyền bác khiếu nại nếu
thấy thời hạn khiếu nại đã hết.
Để thấy rõ tác hại của việc bỏ lỡ thời hạn khiếu nại chúng ta xem xét ví dụ
sau:
Một công ty của Việt nam mua bông của một công ty của Xuđăng.
Hợp đồng qui định một số nội dung chính nh sau:
- Số lợng: 650 MT bông cấp 4 và 3249 MT bông cấp 6
- Thời hạn giao hàng: tháng 11 và 12 năm 1978
- Thời hạn khiếu nại: 30 ngày sau khi dỡ hàng đối với khuyết tật rõ rệt
và 90 ngàyđối với khuyết tật không rõ rệt.
Quá trình thực hiện hợp đồng diễn ra nh sau:
+ Ngày 29/01/1979, tàu đến cảng Việt nam.
+ Ngày 05/02/1979, phía Việt nam yêu cầu Vinacontrol giám định hàng.
+ Ngày 24/02/1979, bên Việt nam nhận đợc biên bản giám định của
Vinacontrol và gửi th nhắc nhở phía Xuđăng về phẩm chất hàng, đề nghị
tránh lặp lại chuyến sau.
+ Ngày 01/03/1979, bên Việt nam gửi th cho phía Xuđăng tiếp tục phàn
nàn về phẩm chất hàng.
+ Ngày 12/03/1979, bên Việt nam gửi cho phía Xuđăng biên bản giám
định do Vinacontrol cấp.
+ Ngày 08/05/1979, phía Việt nam khiếu nại đòi giảm giá với số tiền là
732.250 USD.
Kết quả: phía Xuđăng từ chối đơn khiếu nại. Lý do là đối với bông các
khuyết tật về màu sắc, tạp chất, độ ẩm là khuyết tật rõ rệt. Theo nh qui định về
thời hạn khiếu nại đối với khuyết tật rõ rệt trong hợp đồng thì trong vòng 30
ngày sau khi dỡ hàng (07/02/1979) ngời mua phải gửi cho ngời bán bộ hồ sơ
11
khiếu nại hợp lệ. Nhng mãi đến ngày 08/05/1979, khi đã hết thời hạn khiếu
nại, ngời mua mới gửi đơn khiếu nại. Do đó, yêu sách của ngời mua đã bị từ
chối. Qua vụ việc trên ta thấy việc tuân thủ thời hạn khiếu nại là vô cùng quan
trọng. Bỏ lỡ thời hạn này, bên Việt nam đã phải gánh chịu thiệt hại, mặc dù
bên nớc ngoài vi phạm điều kiện về chất lợng hàng.
b) Thủ tục khiếu nại
Việc giải quyết tranh chấp trong ngoại thơng bằng phơng pháp khiếu nại
muốn đạt đợc hiệu quả cao thì ngời khiếu nại cũng phải tuân thủ thủ tục khiếu
nại.Thủ tục khiếu nại là bên khiếu nại phải gửi cho bên bị khiếu nại một bộ hồ
sơ khiếu nại đầy đủ và hợp lệ. Bên bị khiếu nại sẽ xem xét, nghiên cứu rồi trả
lời có thoả mãn yêu cầu của bên khiếu nại không.
Bộ hồ sơ khiếu nại mà bên khiếu nại gửi cho bên bị khiếu nại bao gồm:
đơn khiếu nại và các chứng từ kèm theo.
Đơn khiếu nại đợc lập bởi ngời khiếu nại. Đơn khiếu nại phải hợp lệ. Tính
hợp lệ đợc thể hiện ở những điểm sau:
+ Về hình thức: Đơn khiếu nại phải đợc làm thành văn bản, ghi rõ tiêu đề
là Đơn khiếu nại và nêu rõ tên, địa chỉ đầy đủ của ngời khiếu nại và ng-
ời bị khiếu nại.
+ Về nội dung: Đơn khiếu nại phải nêu rõ nội dung khiếu nại, tức là ngời
khiếu nại khiếu nại ai (tên, địa chỉ, số tài khoản, ), khiếu nại về vấn đề
gì. Một điều quan trọng là trong đơn ngời khiếu nại phải nêu ra yêu sách
cụ thể đối với ngời bị khiếu nại. ở đây, ngời khiếu nại tính toán và phải
nêu rõ các chi phí, thiệt hại cần đ ợc bồi thờng. Nội dung này rất cần
thiết vì nó là cơ sở để ngời bị khiếu nại xem xét xem có nên thoả mãn yêu
sách của ngời khiếu nại hay không, và nó cũng là cơ sở để ngời khiếu nại
có thể đòi đợc các chi phí, thiệt hại mà mình phải gánh chịu.
12
Ngoài những yêu cầu nh trên, đơn khiếu nại hợp lệ cũng cần phải rõ ràng,
ngắn gọn, lịch sự trong cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, lời lẽ trong đơn hợp
tình, hợp lý và có sức thuyết phục cao thì việc khiếu nại mới có thể thành
công.
Các chứng từ kèm theo có vai trò rất quan trọng trong quá trình khiếu nại.
Các chứng từ này là toàn bộ các th từ, điện tín trao đổi giữa các bên từ khi kí
kết, thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thơng cho đến khi phát sinh và giải
quyết tranh chấp để làm bằng chứng cho việc khiếu nại. Trong mỗi một trờng
hợp khác nhau, bộ hồ sơ khiếu nại bao gồm các chứng từ khác nhau, nhng
thông thờng bao giờ cũng có:
- Hợp đồng mua bán ngoại thơng và các văn bản sửa đổi, bổ xung hợp
đồng.
Chứng từ này là cơ sở để xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên, do
đó cũng là cơ sở để xác định mức độ vi phạm hợp đồng của các bên.
- Th tín dụng L/C và các văn bản sửa đổi, bổ xung L/C.
Khi hợp đồng qui định thanh toán bằng th tín dụng thì việc nộp L/C trong
bộ hồ sơ khiếu nại là cần thiết. Nếu ngời mua là ngời khiếu nại, bộ hồ sơ
khiếu nại có L/C chứng tỏ ngời mua đã sẵn sàng thanh toán mà ngời bán
không thực hiện nghĩa vụ thì lỗi là ở ngời bán. Còn nếu ngời mua mở L/C
không phù hợp với hợp đồng thì khi ngời bán khiếu nại ngời bán sẽ nộp
L/C trong bộ hồ sơ khiếu nại để chứng minh việc mở L/C sai với hợp
đồng.
- Vận đơn.
Có thể là vận đơn đờng biển (Bill of lading), vận đơn đờng sắt (Railway
bill), vận đơn hàng không (Airway bill) tuỳ theo hàng hoá đ ợc chuyên
chở bằng phơng tiện gì. Vận đơn phản ánh tình trạng bên ngoài của hàng
hoá khi đợc giao cho ngời chuyên chở và số, trọng lợng hàng đợc giao,
ngày giao hàng Trên vận đơn có ghi chi tiết về việc giao hàng là cơ sở
13
để so sánh và xác nhận thực tế giao hàng so với hợp đồng. Các bên có thể
dùng vận đơn để làm căn cứ khiếu nại những ngời có liên quan nếu tranh
chấp có liên quan đến việc giao hàng.
- Biên bản giám định phẩm chất và số, trọng lợng.
Biên bản giám định là văn bản, chứng từ do ngời mua lập ra ở bến đến.
Biên bản giám định phẩm chất và số, trọng lợng có ghi những kết luận
của cơ quan giám định có thẩm quyền về chất lợng, số, trọng lợng hàng
hoá thực tế đã giao. Trong trờng hợp kết quả giám định không phù hợp
với hợp đồng thì ngời mua có quyền dựa vào đó để khiếu nại ngời bán về
việc giao hàng không phù hợp về chất lợng, số, trọng lợng. Tuy nhiên, các
bên cần chú ý đến giá trị pháp lý của biên bản giám định. Về tính chất
pháp lý có 2 loại biên bản giám định: biên bản giám định có tính quyết
định và biên bản giám định không có tính quyết định. Chỉ có biên bản
giám định có tính quyết định mới có thể ràng buộc các bên một cách chặt
chẽ. Các biên bản giám định khác rất dễ bị phía bên kia bác bỏ.
Ngoài ra, trong bộ hồ sơ khiếu nại còn có thể bao gồm các th từ giao dịch
qua lại giữa các bên mua và bán.
Tuy nhiên, các tranh chấp trong ngoại thơng thờng rất phức tạp và đa
dạng, do đó tuỳ từng trờng hợp cụ thể mà các bên lựa có thể thêm hay bớt các
chứng từ để lập bộ hồ sơ khiếu nại phù hợp.
2.3. Ưu điểm và của giải quyết tranh chấp bằng khiếu nại
Giải quyết tranh chấp bằng con đờng khiếu nại thờng đem lại hiệu quả rất
cao và có nhiều u điểm vì những lý do sau:
- Phơng pháp này thể hiện thái độ tôn trọng của bên bị vi phạm đối với
bên vi phạm nên bên vi phạm cũng sẽ phải suy nghĩ và cố gắng giải
quyết tranh chấp một cách hợp tình hợp lý nhất.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét