Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Các phương pháp nghiên cứu quần xã thực vật


5
nhiên, phải chú ý tuỳ loài cây mà thu thập các bộ phận quan trọng nhất để làm tiêu bản
và giám định tên được dễ dàng. Đối với cây thân cỏ dùng kéo cắt một đoạn cành có đủ
lá, hoa, quả. Đối với cây thân rễ có củ, có thể dùng xẻng nhỏ đào cả cây hay lấy một
phần của nó. Mẫu cần thu hái của các loài tre nứa và các lóng tre và mo thân từ đốt thứ
5 đến thứ 7 và ghi rõ đặc điểm, cách mọc c
ủa thân ngầm. Mẫu của các loài song mây
phải có cả tan mây và roi mây.
-Thu mẫu cây mọc dưới nước (thuỷ sinh): Nếu nước cạn thì lội xuống để thu trực
tiếp các mẫu cây thuỷ sinh. Dùng xẻng nhỏ đào cả thân và rễ, sau đó tỉa bớt để có thể
làm mẫu. Nếu nước sâu trù đi thuyền vớt các loài trôi nổi trên mặt nước, hoặc dùng
móc để thu các loài sống bám, sống lơ lửng
- Thu m
ẫu các cây sống bám (bì sinh): Đối với nhóm cây sống nhờ, sống bám,
cây hoại sinh (nấm, địa y, phong lan, tầm gửi ) ta dùng dao nhỏ hay cưa cắt lấy cả
một phần cây chủ. Cây chủ đôi khi rất cần cho nghiên cứu chi tiết.
- Thu mẫu các loài cây có giá trị kinh tê: Đối với những cây có giá trị kinh tế
cao như cây làm thuốc, cây cho tinh dầu, cho nhựa mủ, gỗ quý thì ngoài phần thu
bình thường như các loài cây khác, cần lấy bổ sung các bộ phận có công d
ụng để sau
đó có đủ nguyên liệu phân tích các thành phần lí hoá học của cây.
1.1.2.2. Điều tra nghiên cứu theo ô tiêu chuẩn
Khác với điều tra theo tuyến, điều tra theo ô tiêu chuẩn giúp cho người nghiên
cứu xác định được diện tích điều tra, ghi chép dữ liệu một cách cụ thể và chi tiết hơn.
Những nội dung cần nghiên cứu trong ô tiêu chuẩn bao gồm: Thống kê thành phần loài
và từ đó đánh giá về
độ đầy của loài trong quần xã, đánh giá vai trò từng loài trong
quần xã, đánh giá về sự sinh trưởng, phát triển và tái sinh của từng loài.
- Có 2 loại ô tiêu chuẩn: ô tiêu chuẩn tạm thời và ô tiêu chuẩn cố định. Việc lựa
chọn ô tiêu chuẩn loại nào còn tuỳ thuộc vào yêu cầu của nghiên cứu. Thông thường
với nội dung như trên thì cần làm cả 2 loại ô tiêu chuẩn.
- Phương pháp đặt ô tiêu chuẩn: Có thể chọn một trong 3 ph
ương pháp là ngẫu
nhiên, theo hệ thống xác định trước trên bản đồ và chọn điển hình trong quần xã.
-Hình dạng, kích thước và số lượng ô tiêu chuẩn: Tuỳ theo yêu cầu, nội dung
nghiên cứu và sử dụng phương pháp đặt ô mà diện tích ô có thể khác nhau, nguyên tắc
chung là diện tích ô nhỏ thì số lượng phải lớn, còn diện tích lớn thì số lượng có thể
giảm. Làm ô tiêu chuẩn tốn kém nhiều công sức nên khi dùng ô tiêu chuẩn làm
phương pháp nghiên cứu thì th
ường kết hợp làm với nhiều nội dung, nó không chỉ đáp
ứng các yêu cầu về số lượng mà cả chất lượng, về tái sinh, về cấu trúc và động thái của
quần xã
Đối với 2 phương pháp ngẫu nhiên và hệ thống thì diện tích ô tiêu chuẩn thuộc
loại nhỏ. Với cây gỗ diện tích ô tiêu chuẩn thường là 100 - 400m
2
, cây bụi 14 - 24m
2
,
thảm cỏ là 1m
2
. với thảm dưới rừng dùng các phương pháp tương ứng của kiểu thảm,
số lượng thường là 5 ô nhỏ trong ô cây gỗ.

6
Với phương pháp làm ô tiêu chuẩn điển hình thì nguyên tắc là làm thử từ nhỏ đến
lớn dần, đến khi diện tích tăng nhưng số loài trong ô không tăng nữa thì diện tích đạt
được đầu tiên đó gọi là diện tích tiêu biểu, nó thay đổi theo kiểu thảm và theo vùng.
Sử dụng phương pháp này số ô có thể giảm, số lượng cụ thể hoàn toàn phụ thuộc
vào mức độ đồng nhất của quầ
n xã.
- Đối với nhóm thực vật ngoại tầng thường kết hợp cùng với nghiên cứu trong
các ô theo các kiểu thảm chính.
- Phương pháp thu mẫu, ghi chép trong ô tiêu chuẩn cơ bản như phần trên đã nói.
Với ô tiêu chuẩn có yêu cầu đặc biệt hơn là không chỉ ghi số loài mà cả số cá thể của
từng loài (hoặc số chồi với nhóm hoà thảo và xa thảo) phân bố của nó theo không gian
và cả thời gian (mẫu biểu đi
ều tra xem ở chương 9 mục 9.3).
1.2. CÔNG TÁC NỘI NGHIỆP
1.2.1. Xử lí mẫu vật
Sau một ngày lấy mẫu cần đeo nhãn cho mỗi mẫu (hình 1). Nhãn có thể chỉ ghi
số hiệu mẫu của tác giả còn các thông tin khác sẽ ghi vào sổ riêng hoặc ghi phiếu mô
tả gồm đầy đủ các mục như sau (Xem khung mô tả của Nguyễn Nghĩa Thìn):

PHIẾU MÔ TẢ CÂY
- Số hiệu: - Ngày thu hái: - Người thu hái:
- Nơi lấy (ghi rõ khu rừng, làng bản, xã, huyện, tỉnh):
- Tên thông thường:
- Tên khác (ghi đầy đủ các tên dân tộc):
- Tên khoa học: - Họ:
- Khu vực sinh trưởng (ghi các dạng sinh cảnh):
- Nơi mọc (sườn, đỉnh, chân đồi, núi, độ cao):
- Số lượng (nhiều, trung bình, ít)
- Các loài cây mọc cùng:
- Đặc tính sinh thái chủ yếu:
- Hình dạng tán lá:
Khi non: Khi trưởng thành:
- Cành:
Cách mọc: Hình dạng:
Lông và màu sắc lông:
Hình dáng thân (tròn, thẳng, có bánh vè ):
-Vỏ:
Độ dày: Màu sắc: Nhựa mủ:

7
-Chiều cao cây:
Cả ngọn: Dưới cành:
- Đường kính cây (ngang ngực):
Trung bình: Lớn nhất (quan sát được):
-Lá (hình dáng, màu sắc, kích thước của lá non và lá già):
-Cụm hoa:
Loại: Màu sắc: Kích thước:
- Các đặc điểm khác:
Hoa: Màu sắc (đài, tràng) Kích thước:
Quả: Màu sắc Kích thước:
Công dụng (điều tra nhân dân):
- Xử lí khô: Sau khi đã đeo nhãn, mỗi mẫu đặt gọn trong một tờ báo cỡ lớn gập 4
với kích thước 30 x 40cm, vua ngay ngắn nhưng chú ý trên mẫu phải có lá sấp, lá ngửa
để có thể quan sát dễ dung cả 2 mặt lá mà không phải lật mẫu.
Đối với hoa nên dùng các mảnh báo nhỏ để ngăn cách chúng với các hoa hay lá
bên cạnh phòng khi sấy dễ bị dính vào các bộ phận khác của cây.
Đối với quả to cần cắt thành lát theo 2 hướng: c
ắt dốc và cắt ngang thành từng lát
để thấy quả có bao nhiêu ô và các lát đó phải có nhãn riêng và mang cùng một số hiệu.
Đối với lá to thì chỉ lấy từng phần đại diện và các phần đó cũng mang cùng một
số hiệu. Sau đó xếp nhiều mẫu thành chồng, cứ 5 - 7 mẫu nên chèn một tấm nhôm
lượn sóng để thông thoáng và giữ nhiệt giúp cho mẫu chóng khô và không phải thay
giấy báo hằng ngày như trước đây, sau đó dùng đôi cặ
p ô vuông (mắt cáo) để ốp ngoài
ép chặt mẫu và bó lại. Nếu mẫu có quả to hay cành to, khi ép nhớ chèn các tờ báo
xung quanh để nâng cao mặt bằng sao cho mẫu tiếp theo nằm trên mặt phẳng. Giữa
các mẫu chèn càng nhiều báo càng tất. Cách bó xem ở hình 2. Bó mẫu đưa phơi nắng
hoặc sấy trên bếp than hay tủ sấy. Nếu không có tấm nhôm, hằng ngày phải thay giấy
báo mới để mẫu chóng khô và không bị ẩm tránh cho mẫu bị hỏng.
- Xử lí
ướt: Khi không có thời gian và điều kiện làm mẫu ngay trong ngày, chúng
ta chỉ ép mẫu tạm thời giữa hai tờ báo gập đôi, không chèn ngay, ghi đầy đủ các thông
số lên nhãn. Sau khi đã làm mẫu xong chúng ta không dùng cặp mắt cáo để ép mẫu
hay chỉ ép một thời gian ngắn sao cho chúng đủ thời gian ổn định vị trí, sau. đó bỏ cặp
và dùng giấy báo bọc ngoài, bó chặt lại rồi cho các bó mẫu đó vào túi polyetylen cỡ
lớn. Mỗi túi lớn có thể chứ
a nhiều bó mẫu, dùng cồn đủ cho thấm ướt các tờ báo và
buộc chặt lại để chuyển về nơi có điều kiện sấy khô. Cách làm đó có thể giữ cho mẫu
trong khoảng một tháng mà không cần phải sấy ngay. Mục đích là để giết các enzym
chống rụng lá.

8

- Xử lí và sấy khô: Khi mẫu được chuyển về phòng thí nghiệm việc đầu tiên cần
tiến hành là xử lí kịp thời. Trước hết dùng các tờ báo mới rồi lần lượt mang từng vật
mẫu ra, rải đều trên tờ báo nhân dân hay các tờ báo khác được gập 4 có kích thước 30
x 40cm, vuốt cho các lá phẳng ra và đảm bảo lá luôn luôn có mặt lá sấp và mặt ngửa.
Dùng các tờ báo mới khác phủ lên. Lớp phủ càng dày càng tốt để vậ
t mẫu phẳng. Cứ
sau 5 - 6 mẫu chèn thêm một tấm nhôm lượn sóng. Khoảng 15 - 20 mẫu dùng hai cặp
mắt cáo rồi buộc lại cho chặt (Hình 3). Các mẫu sau khi đã bó chặt cho ra nắng phơi
hoặc cho vào tủ sấy để sấy khô. Điều kiện không có tủ sấy chúng ta tự làm lấy một hộp
nhôm trống trên và dưới (hộp giữ nhiệt), ở giữa bên trong có một gờ và lót một lưới
thép rồi đặt bó mẫ
u lên, phía dưới dùng bếp điện hay bếp than để hun nóng (Hình 4).
Sấy liên tục khoảng một tuần thì các mẫu sẽ khô. Nếu dùng tấm nhôm lượn sóng


9
xen giữa bó mẫu thì hằng ngày không cần thay giấy báo.
Tốt nhất giữa đợt nên thay một lần báo mới. Sau khi mẫu đã khô, các mẫu được
lấy ra đặt giữa các tờ báo rồi xếp thành bó và buộc lại để chờ định tên.
1.2.2. Xác định tên khoa học
Sau khi đã sấy khô chúng ta có thể xác định tên khoa học ngay trước khi chưa
ngâm tẩm thuốc chống côn trùng và nấm hoặc có thể tiến hành việ
c ngâm tẩm xong và
xây dựng thành các bìa mẫu hoàn chỉnh sau đó mới tiến hành việc phân tích mẫu. Cách
tiến hành thứ hai thường không thích hợp bởi khi làm việc chúng ta tiếp xúc với các
chất độc hại, ít nhiều ảnh hưởng tới sức khoẻ. Ở đây chúng ta áp dụng cách thứ nhất
tức là sau khi đã sấy mẫu khô không qua giai đoạn xử lí độc với ba lí do: Điều kiện khí
hậu lạnh ít côn trùng phá hoại, phòng lưu giữ
mẫu hiện đại đảm bảo độ kín với mức độ
ẩm xâm nhập vào rất thấp và hằng năm người ta có thể cho hạ nhiệt độ xuống thấp để
tiêu diệt các côn trùng và trứng của chúng hoặc phun thuốc độc sau khoảng một tháng
đóng kín, sau đó làm sạch rồi mới sử dụng.
1.2.2.1. Các dấu hiệu hình thái
Trước khi phân tích và định loại, việc làm quen các thuật ngữ về hình thái là cầ
n
thiết. Những dấu hiệu đó được thể hiện qua chương 2.
1.2.2.2. Phân chia mẫu theo họ và chi
Trước khi phân tích các mẫu cây khô lưu ở các bảo tàng thực vật hay các phòng
mẫu cây khô (bách thảo = Herbarium) với đầy đủ tên khoa học, ta mang mẫu đã thu so
với bộ mẫu lưu để có tên sơ bộ. Nếu các mẫu hoàn toàn giống nhau thì chúng ta tạm
yên tâm với các tên đó và xếp riêng. Những mẫu còn nghi ngờ trù tiếp tục phân tích cụ
th
ể và tra tên khoa học theo khoá xác định.
Trường hợp không thể xác định được tên khoa học của loài cây có thể gửi tiêu
bản về các phòng tiêu bản sau đây nhờ các nhà phân loại thực vật có kinh nghiệm giám
định:
- Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (đường Hoàng
Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội).
- Bảo tàng Thực vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (19 Lê
Thánh Tông, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).
- Phòng Tiêu b
ản thực vật, Viện Điều tra Quy hoạch rừng (Thanh Trì - Hà Nội
- Phòng Tiêu bản thực vật, Trường Đại học Lâm nghiệp (Xuân Mai, Hà Tây).
- Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Sinh học nhiệt đới (85 Trần Quốc Toàn, Quận 3,
TP. Hồ Chí Minh).
1.2.2.3. Phân tích mẫu
Để tra tên khoa học, đầu tiên phải tiến hành phân tích các mẫu đã thu thập. Khi
phân tích trên mẫu khô phải lấy từ hoa ra cho vào ống nghiệm cùng với ít nước vừa đủ
ngập hoa và
đun sôi để mẫu trở lại trạng thái bình thường. Hai tay với 2 kim nhọn tách

10
từ từ các bộ phận của hoa dưới kính lúp để quan sát và vẽ hình. Khi phân tích chú ý
một số nguyên tắc như sau:
- Phân tích từ tổng thể bên ngoài đến các chi tiết bên trong.
- Phân tích từ cái lớn đến cái nhỏ.
- Phân tích đi đôi với ghi chép và vẽ hình.
1.2.2.4. Vẽ hình
Vẽ hình được dành cho các nhà phân loại. Vẽ hình trước hết tự mình vừa phân
tích vừa vẽ để đảm bảo độ chân thực của nó. Lấy một tờ gi
ấy kẻ ô li để lên bàn lúp sau
đó để bản kính chồng lên (có thể dán ngay vào mặt dưới bản kính), mẫu được để lên
bản kính đó và tiến hành phân tích từng bộ phận của hoa được các ô li chỉ rõ kích
thước của chúng. Trong lúc đó lấy một tờ giấy vẽ có kẻ ô vuông tuỳ ý và từ đó điều
chỉnh vị trí của các bộ phận theo chiều của ô li trên bàn lúp và vẽ lên tờ giấy ô vuông
để vẽ chúng lên
đó, cứ mỗi ô vuông trên giấy vẽ tương ứng với ô li trên bàn lúp. Sau
khi vẽ xong đặt các đoạn chỉ rõ tỉ lệ của từng bộ phận trên bản vẽ theo sự tương ứng
giữa ô li với ô vuông tức là 1 ô li là nam thì cạnh 1 ô vuông tương ứng là 1mm.
Song song với vẽ hình chúng ta tiến hành chụp ảnh qua lúp hay quan sát và chụp
ảnh qua lúp gắn với màn hình máy tính.
1.2.2.5. Tra tên khoa học
Sau khi đã phân tích, chúng ta tiến hành tra tên khoa học dựa theo các khoá xác
định lượng phân hoặc vừ
a phân tích vừa tra khoá.
Chú ý một số nguyên tắc khi tra tên như sau:
- Hoàn toàn khách quan và trung thành với các mẫu thực, không phụ thuộc vào
các tên giám định sẵn hay tên do các tác giả xác định trước đây.
- Khi tra khoá luôn luôn đọc 2 đặc điểm đối nhau cùng một lúc để dễ dàng phân
định giữa các cặp dấu hiệu.
Xác định tên loài: Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học phải tuân theo
các nguyên tắc nhất định.
Các tài liệu chính dùng trong quá trình xác định tên khoa học gồm:
- Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1991 - 1993, 1999 - 2000).
- Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988).
- Vân Nam thực vật chí (Trung Văn).
- Thực vật chí đại cương Đông Dương (Lecomte, 1907 - 1952. Flore Générale de
IIndochine).
Thực vật chí Cam-pu-chia, Lào, Việt Nam (Aubréville A.et al., 1960 - 1997.
Flore du Camboge, du Laos et du Vietnam).
- Flora of China và Flora of China - Illustration (Wu Zheng-yi and P.Re van,
1994 - 2000).

11
- Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, 6 tập (Lê Khả Kế chủ biên, 1969 - 1975).
- Thực vật chí Việt Nam, NXB Khoa học - Kĩ thuật, Hà Nội (gồm nhiều tập,
Nguyễn Tiến Bản và tập thể).
- Khoá xác định và phân loại họ Thầu dầu Việt Nam (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999).
- Identification guide to Vietnamese Orchids (Orchidaceae Juss.) (Averyanov L.
V., 1991).
- Lan Việt Nam (Nguyễn Thiện Tịch, 2001).
- Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002).
Sau khi đã có tên khoa học, cần kiểm tra l
ại bằng các bản mô tả đã được giới
thiệu trong các bộ thực vật chí hay các sách chuyên khảo. Nếu mẫu đúng với bản mô
tả thì chép đầy đủ tên khoa học của cây kèm theo tên tác giả và tên họ của mẫu cây đó,
sau đó các mẫu được nhập vào phòng Mẫu cây khô (Herbarium) để xử lí tiếp theo.
- Chỉnh lí tên khoa học: Sau khi đã có tên khoa học cần chỉnh lí lại tên khoa học
theo Luật danh pháp quốc tế của Grenter et al (1994) và tên chi theo cu
ốn Vascular
Plant Families and Genera của Brummitt (1992) vì đây là cuốn sách tổng hợp khá đầy
đủ các chi trên toàn thế giới và tên loài theo bộ 3 tập Danh mục các loài thực vật Việt
Nam.
- Kiểm tra tên khoa học: Khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lại các tên
khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót. Điều chỉnh họ và chi
theo hệ thống của Erummitt trong "Vascular Plant Families and Genera" (1992), điều
chỉnh tên loài theo các tài liệu "Cây cỏ Việt Nam" củ
a Phạm Hoàng Hộ (1999 - 2000),
"Tạp chí sinh học - chuyên đề thực vật" (1994 - 1995), "Danh mục các loại thực vật
Việt Nam" (2002 - 2003) và chỉnh tên tác giả theo tài liệu "Authors of Plant Names"
của Brummitt R.K & C.E. Powell (1992).
Cần kiểm tra tên khoa học vì khi xác định tên khoa học, chúng ta sử dụng các
bảng tra theo nhiều nguồn khác nhau và mỗi nguồn sử dụng các hệ thống khác nhau,
khối lượng ác ngành, lớp, bộ và họ không giống nhau, cho nên điều trước tiên cần có
tính chất nhất quán, để dễ
so sánh và đánh giá.
- Bổ sung thông tin: Việc xác định các thông tin về đa dạng sinh học của các loài
về dạng sống, về yếu tố địa lí, về công dụng và tình trạng đe doạ, bảo tồn, ngoài các tài
liệu trên, còn sử đụng các tài liệu khác như:
- 1900 cây có ích (Trần Đình Lí, 1993).
- Sách đỏ Việt Nam (1994).
- Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997)
- Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2001).
- Cây c
ỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi - Trần Hợp, tập I - 1999), tập II - 2002.
- Tài nguyên thực vật Đông Nam Á (PROSEA).

12
- Từ điển thực vật thông dụng (Võ Văn Chi, 2003)
- Danh mục các loài thực vật Việt Nam (2001 - 2005)
1.2.2.6. Xây dựng bảng danh mục thực vật
Lập danh mục thực vật là một trong các mục tiêu quan trọng nhất của công tác
điều tra hệ thực vật trong một vùng, một tỉnh hoặc một khu bảo tồn. Bảng danh mục
thực vật được xây dựng theo hệ thống phân loại c
ủa Brummitt (1992). Danh mục thực
vật là một bảng thống kê toàn bộ các loài thực vật đã gặp hoặc thu được tiêu bản trong
khu vực điều tra. Để phục vụ các hoạt động lưu trữ số liệu quốc gia, trao đổi thông tin
và các hoạt động nghiên cứu đa dạng sinh học, cách lập danh mục được thực hiện
thống nhất theo các mẫu hướng dẫn sau:
Bảng 1. Mẫu danh m
ục của vùng điều tra

Ghi chú:
- Cột (2): Ghi tên khoa học của các ngành, họ thực vật và xếp theo các ngành
thực vật từ thấp đến cao. Trong các ngành, xếp các họ theo thứ tự chữ cái a, b, c. Trong
các họ xếp theo các chi và loài theo thứ tự chữ cái a, b, c.
- Cột (3): Thống kê tên thông thường và tên dân tộc.
Tên thường gọi nhất để đầu tiên.
- Cột (4): Ghi các loại sinh cảnh với các kí hiệu như sau: Rừng gỗ nguyên sinh
(Rn), Rừng gỗ thứ sinh (Rt), Rừng phục h
ồi (Rp), Rừng tre nứa (Rtn), Thảm cây bụi
(Tb), Thảm cỏ (Tc), Đất nông nghiệp (Đn), Đất nương rẫy (Đr), Đất ngập mặn (WI).
- Cột (5): Dạng sống theo cách phân loại Raunkiaer (1934), hoặc Hoàng Chung
(2004).
- Cột (6): Mức độ quý hiếm ghi theo phân hạng của IUCN (2000), theo Sách đỏ
Việt Nam, Phần thực vật, NXB Khoa học và Kĩ thuật, 2005 và theo Nghị định 48 CP.
- Cột (7): Giá trị sử dụng của loài thực vật đó trên mọi phươ
ng diện (gỗ, tinh dầu,
làm thuốc ) và có thể tham khảo các tài liệu đã xuất bản hoặc điều tra kinh nghiệm sử
dụng của người dân địa phương.
- Cột (8): Các yếu tố địa lí (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999, 2004, 2005).

13
Chương 2
CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
DẠNG SỐNG THỰC VẬT

Thực vật trong quá trình sống phải thích nghi với môi trường sống, điều này nó
thể hiện ra không chỉ qua tổ hợp thành phần loài mà còn qua tổ hợp về dạng sống của
nó. Rõ ràng, hệ sinh thái là do các loài trong mối tương quan với các nhân tố sinh thái
tạo nên. Vì vậy, nghiên cứu tổ hợp dạng sống của một vùng góp phần quan trọng đánh
giá đặc điểm sinh thái vùng đó. Người đầu tiên đề cập đến khái ni
ệm dạng sống của
thực vật là Warming (1901). Từ đó đến nay đã tồn tại nhiều cây phân loại dạng sống,
nguyên tắc để mô tả và phân chia dạng sống thực vật đó là tìm những phản ứng biểu
hiện qua hình đáng bên ngoài của thực vật với môi trường sống, sự khác nhau chỉ là sử
dụng bao nhiêu dấu hiệu để làm tiêu chuẩn phân chia.
2.1. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DẠNG S
ỐNG THỰC VẬT
Tất cả trang bị, các phương pháp điều tra, thu thập mẫu, xử lí mẫu ngoài thiên
nhiên cơ bản giống như nghiên cứu thành phần loài. Để phục vụ cho mục đích phân
loại dạng sống và đặc biệt là mức độ đi sâu mà có bổ sung cho phương pháp:
- Với cây gỗ: Cần mô tả, vẽ (hay chụp ảnh) toàn bộ cây trướng thành, theo dõi sự
biến đối qua bốn mùa, đặc bi
ệt thời kì khô, rét trong năm.
- Với cây bụi nhỏ, nửa bụi và cây thảo cần lấy cả phần dưới đất và lấy trọn vẹn
một cá thể, trên cơ sở đó mô tả, chụp ảnh, đồng thời theo dõi phản ứng của từng loài
với các trạng thái mùa.
- Đồng thời với quá trình lấy mẫu, theo dõi sự biến đổi thực vật cần mô tả đặc
điể
m môi trường sống của nó theo cả 4 mùa.
2.2. PHÂN CHIA DẠNG SỐNG
Căn cứ vào số mẫu vật thu được, những tư liệu ghi chép và mô tả ngoài thiên
nhiên, hình vẽ, ảnh chụp và cả những tư liệu về sự biến động của các điều kiện môi
trường qua các mùa trong năm, đặc biệt trên cơ sở nhu cầu của nhà nghiên cứu cần
mức độ chi tiết nào, sẽ sử dụng hệ
thống phân loại nào để xây dựng dạng sống. Từ
những yêu cầu trên, nhà nghiên cứu phải xây dựng cho mình một bảng mẫu phiếu mô
tả với hệ thống các tiêu chuẩn cần sử dụng. Sau đó tiến hành mô tả chính thức cho
từng loài rồi sắp xếp nó vào các kiểu dạng sống - bảng dạng sống.
2.3. GIỚI THIỆU TÓM TẮT MỘT SỐ DẠNG "PHÂN LOẠI DẠNG SỐNG"
- Bả
ng phân loại dạng sống hiện được nhiều người dùng hơn cả là của Ratnkiaer
(1934), sử dụng bảng này tương đối dễ làm, trong bảng phân loại này ông đã dùng vị
trí chồi so với mặt đất và đặc điểm của nó trong thời kì khó khăn nhất cho sự sinh
trưởng của thực vật làm cơ sở phân loại. Gồm các kiểu chính sau:

14
1. Chồi trên mặt đất (Phanerophytes), chồi tạo thành ở những cây này phải nằm
trên độ cao nào đó (từ 25cm trở lên), thuộc vào nhóm này gồm các cây gỗ, cây bụi.
2. Chồi mặt đất (Chamaetophytes), chồi hình thành ở độ cao không lớn so với
mặt đất (dưới 25cm). Thuộc nhóm này có cây bụi nhỏ, cây nửa bụi, những cây dạng
gối, rêu sống trên mặt đất.
3. Cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes), chồi được tạo thành nằm sát mặ
t đất,
thuộc nhóm này gồm nhiều cây thảo sống lâu năm.
4. Cây chồi ẩn (Cryptophytes), chồi được hình thành nằm dưới đất, thuộc nhóm
thực vật địa sinh (cây thân hành, thân củ, thân rễ) hoặc cây mọc từ đáy ao hồ.
5. Cây một năm (Therophytes), trong mùa bất lợi nó tồn tại ở dạng hạt, thuộc
nhóm cây một năm.
Trên cơ sở 5 kiểu dạng sống trên Raunkiaer còn chia ra các nhóm, gồm tất cả 30
nhóm.
Phân chia dạng s
ống của Raunkiaer dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực
vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là. kết quả
tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên. Thuộc vào những đặc điểm này
có hình dạng ngoài của thực vật, đặc điểm qua đông, sinh s
ản
Bảng phân loại dạng sống của Xêrêbriacốp (1964) mang tính chất sinh thái học
hơn của Raunkiaer. Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái sinh
thái Xêrêbriacốp sử dụng cả những dấu hiệu như ra quả nhiều lần hay một lần trong cả
đời của cá thể, bao gồm các kiểu sau:
Ngành A: Thực vật thân gỗ sống trên đất, bì sinh
Kiểu 1. Cây gỗ
Lớp 1: Cây gỗ hình thành tán với các cành dài
Lớp phụ 1: Cây g
ỗ hình thành tán trên mặt đất
Lớp phụ 2: Cây gỗ hình thành tán, bán bí sinh (nhiệt đới)
Lớp 2: Cây gỗ dạng hoa thị, hình thành trên những chồi rút ngắn, với lá dạng hoa
thị (gặp ở nhiệt và á nhiệt đới)
Lớp 3: Cây gỗ thân mọng nước không có lá (các loại xương rồng)
Kiểu 2: Cây bụi
Kiểu 3: Cây bụi nhỏ
Ngành B: Cây bán mộc (nửa gỗ)
Kiểu 4: Cây nửa bụi hay nửa bụi nhỏ
Ngành C: Cây thảo
Kiể
u 5: Cây thuộc thảo đa trục
Lớp 1: Cây thảo đa trục, sống lâu năm nhưng thân không mọng nước
Lớp phụ 1: Hệ rễ cái phát triển

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét