Trong quá trình sản xuất kinh doanh có rất nhiều loại chi phí khác nhau
cả về nội dung, tính chất, công dụng, vai trò của từng khoản mục chi phí.
Phân loại chi phí sản xuất là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng
nhóm khác nhau theo những đặc trưng nhất định.
Có rất nhiều cách phân loại chi phí, mỗi cách phân loại này đều góp
phần phục vụ cho công tác quản lý hạch toán, kiểm tra, kiểm soát chi phí phát
sinh. Phân loại chi phí có tác dụng đáng kể kiểm tra, phân tích quá trình phát
sinh chi phí và hình thành giá thành sản xuất sản phẩm nhằm mục đích tiết
kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
a. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Chi phí được chia thành 7 loại:
Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng vào sản xuất kinh
doanh ( trừ giá trị vật liệu không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
Chi phí nhiên liệu: ( trừ số không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu
hồi)
Chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: Phản ánh tổng số tiền
lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân viên
chức.
Chi phí khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải
trích trong kì của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kì.
Chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ: Phản ánh phần BHXH, BHYT, KPCĐ
trích theo tỉ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp lương phải trả công
nhân viên chức.
5 5
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài
dùng vào sản xuất kinh doanh.
Chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa
phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong
kì.
* Cách phân loại này có tác dụng hữu hiệu trong quản lý chi phí sản xuất
kinh doanh, nó cho biết kết cấu, tỉ trọng của từng loại chi phí mà doanh
nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh để lập bảng thuyết minh
báo cáo tài chính, phục vụ nhu cầu thông tin và quản trị doanh nghiệp, định
mức vốn lưu động cũng như việc lập, kiểm tra và dự toán chi phí.
b. Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong quá trình tính giá
thành sản phẩm
Dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng loại đối
tượng đồng thời để thuận tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được
phân chia theo ba khoản mục:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu thạm gia trực tiếp vào sản xuất, chế tạo
sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, phụ cấp lương và các
khoản trích cho các quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ theo tỉ lệ với tiền lương phát
sinh.
Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân
xưởng sản xuất( trừ CPNVLTT, CPNCTT).
* Đây là một cách phân loại có tác dụng tốt cho công tác quản lý chi phí
sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản phẩm,
6 6
phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất làm tài liệu tham khảo để lập
mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch gía thành sản phẩm cho kì sau.
c. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lượng công
việc, sản phẩm hoàn thành
Để phục vụ cho việc lập kế hoạch và kiểm soát chi phí, đồng thời làm
căn cứ để ra quyết định kinh doanh toàn bộ chi phí được phản ánh theo quan
hệ với khối lượng sản phẩm, công việc hoàn thành trong kì. Theo cách phân
loại này, chi phí được chia thành biến phí và định phí.
Biến phí: Là những chi phí có sự thay đổi về lượng tỷ lệ thuận với sự
thay đổi về khối lượng sản phẩm trong kì. Thuộc loại chi phí này như chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp. Tuy nhiên, các chi phí
biến đổi tính trên một đơn vị sản phẩm lại có tính cố định.
Định phí: Là những chi phí không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản
xuất ra như chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt bằng. Các chi
phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu số lượng sản
phẩm thay đổi.
Cách phân loại này có ý nghĩa lớn đối với các nhà quản trị doanh
nghiệp, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý càn
thiết để hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
d. Phân loại theo nội dung cấu thành chi phí
Với cách phân loại này, chi phí được chia làm 2 loại:
Chi phí đơn nhất: Là chi phí một yếu tố duy nhất cấu thành, điển hình
cho loại chi phí này là chi phí về tiền lương công nhân sản xuất.
Chi phí tổng hợp: Là chi phí do nhiều yếu tố khác nhau tập hợp lại theo
cùng một công dụng như chi phí sản xuất chung, bao gồm nhiều yếu tố chi
7 7
phí khác nhau phát sinh trong phạm vi phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản
cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài. Cách phân loại này giúp cho việc nhận
thức vị trí của từng loại chi phí sản xuất trong việc hình thành giá thành sản
phẩm để tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với từng
loại.
e. Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và
mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí
Với mục đích phục vụ cho việc xác định phương pháp kế toán tập hợp
và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng có liên quan một cách đúng
đắn, hợp lý, chi phí sản xuất được chia làm hai loại:
Chi phí trực tiếp: Có quan hệ trực tiếp với việc sản xuất ra một loại sản
phẩm. Kế toán căn cứ vào số liệu chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng
đối tượng chịu chi phí.
Chi phí gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến việc sản xuất nhiều
loại sản phẩm. Với các chi phí này, kế toán phải tiến hành phân bổ cho các đối
tượng có liên quan theo một tiêu chuẩn nhất định thích hợp.
1.2 Giá thành sản phẩm
1.2.1 Khái niệm
Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất tính cho một khối lượng
sản phẩm( công việc, lao vụ) nhất định đã hoàn thành.
Giá thành sản xuất sản phẩm chỉ gồm những chi phí tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất tiêu thụ mà phải được bồi hoàn để tái
sản xuất ở doanh nghiệp chứ không bao gồm những chi phí phát sinh trong kì
kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí được đưa vào giá thành sản
phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho
8 8
sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản
đơn hao phí lao động sống.
1.2.2 Phân loại giá thành sản xuất
Với mục tiêu đáp ứng các yêu cầu của quản lý, hạch toán và kế hoạch
giá thành cũng như xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được xem xét dưới
nhiều góc độ khác nhau. Căn cứ vào lý luận và thực tế doanh nghiệp, giá
thành được phân chia thành các loại khác nhau.
a. Phân loại theo thời gian và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành được phân thành 3 loại: giá thành kế
hoạch, giá thành định mức, giá thành thực tế.
Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xác định trước khi bước vào kinh
doanh trên cơ sở giá thành thực tế kì trước và các định mức, các dự toán chi
phí của kì kế hoạch. Giá thành luôn là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là
căn cứ để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá
thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Giá thành định mức: Được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản
phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các
định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kì kế hoạch. Giá
thành định mức lại được xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành
tại từng thời điểm nhất định trong kì kế hoạch nên giá thành định mức luôn
luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi định mức của các định mức chi phí
trong quá trình thực hiện kế hoạch hạ giá thành. Giá thành định mức là công
cụ quản lý định mức doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định hiệu
quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động sản xuất, giúp cho doanh nghiệp đánh giá
9 9
đúng đắn các giải pháp kinh tế kĩ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong
quá trình sản xuất nhằm tối đa hoá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên cổ phần hoá cơ
sở số liệu chi phí thực tế phát sinh và tập hợp được trong kì. Giá thành thực tế
là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong
việc tổ chức các giả pháp kinh tế kĩ thuật để thực hiện quá trình sản xuất sản
phẩm, là cơ sở xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
* Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý, giám sát chi phí,
xác định được các nguyên nhân vượt, hụt định mức chi phí trong kì hạch toán.
Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
b. Phân loại giá thành theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo cách phân loại này, giá thành được chia thành giá thành sản xuất và
giá thành tiêu thụ
Giá thành sản xuất( giá thành công xưởng): Là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong
phạm vi phân xưởng sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Giá thành sản xuất được dùng
để ghi sổ cho sản phẩm hoàn thành nhập kho hoặc đã giao cho khách hàng.
Giá thành sản xuất là cơ sở để tính toán giá vốn hàng bán và lãi gộp cho
doanh nghiệp.
Giá
thành
sản xuất
=
Chi phí
NVL trực
tiếp
+
Chi phí
nhân công
trực tiếp
+
Chi phí sản
xuất chung
10 10
Giá thành tiêu thụ( giá thành toàn bộ): Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các
khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ thành phẩm.
Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Giá thành
toàn bộ của
sản phẩm
tiêu thụ
=
Giá thành
sản xuất
của sản
phẩm
+
Chi phí
quản lý
doanh
nghiệp
+
Chi phí tiêu
thụ sản
phẩm
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả
kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh
doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng, từng
loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu, ít
khi được áp dụng.
1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Trong một quá trình sản xuất kinh doanh, việc tập hợp chi phí và định
giá thành sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng, chúng có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Chi phí sản xuất biểu hiện mặt hao phí, giá thành sản phẩm biểu
hiện mặt kết quả. Số liệu tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở để tính giá thành
sản phẩm
Hay nói cách khác, việc tính giá thành sản phẩm phải dựa trên các thông
tin thu thập được về chi phí sản xuất.
11 11
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đều giống nhau về chất, đều bao
gồm các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra
trong quá trình chế tạo sản phẩm.
Bên cạnh đó, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có những ưu
điểmkhác biệt nhất định: Chi phí sản xuất luôn gắn với thời kì phát sinh còn
chi phí giá thành lại gắn với khối lượng sản phẩm hoàn thành.
Chi phí sản xuất không chỉ liên quan đến các sản phẩm hoàn thành mà
còn liên quan đến các sản phẩm dở dang cuối kì và sản phẩm hỏng, còn giá
thành sản phẩm không liên quan đến sản phẩm dở dang cuối kì và sản phẩm
hỏng nhưng lại liên quan đến giá trị sản phẩm dở dang cuối kì trước chuyển
sang. Tổng giá thành sản phẩm thường không trùng với tổng chi phí sản xuất
phát sinh trong kỳ.
Tổng giá
thành sản
phẩm hoàn
thành
=
Chi phí sản
xuất dở
dang đầu kì
+
Chi phí
sản xuất
phát sinh
trong kì
-
Chi phí sản
xuất phát
sinh trong
kì
Khi giá thành sản phẩm dở dang đầu kì bằng giá trị sản phảm dở dang
cuối kì hoặc các ngành không có sản phẩm dở dang thì :
Tổng giá thành sản
phẩm hoàn thành
=
Tổng chi phí phát
sinh trong kì
12 12
Như vậy, có thể thấy nếu việc tập hợp chi phí phát sinh trong kì không
chính xác sẽ ảnh hưởng lớn tới việc tính giá thành sản phẩm, gây khó khăn
cho công tác quản lý của các nhà quản trị.
2. Đối tượng, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm sản xuất trong doanh nghiệp
2.1 Đối tượng, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
2.1.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất
Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là công việc đầu tiên và
quan trọng của tổ chức hạch toán quá trình sản xuất. Xác định đối tượng hạch
toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực
chất là việc xác định nơi phát sinh chi phí và chịu phí.
Chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
có thể phát sinh ở nhiều địa điểm( phân xưởng, tổ đội) khác nhau và có thể
liên quan đến nhiều loại sản phẩm hay thực hiện các dịch vụ khác nhau . do
vậy, việc xác định hạch toán chi phí sản xuất phù hợp với tình hình hoạt động,
đặc điểm kinh doanh , đậc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và
đáp ứng được yêu cầu quản lý chi phí kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều
kiện để tổ chức tốt công việc kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Để xác định đối tượng hạch toán chí phí sản xuất một cách hiệu quả cần
dựa trên một số căn cứ sau:
+ Đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp( quy trình sản xuất
sản phẩm khép kín 2 phân đoạn, sản xuất một hay nhiều loại sản phẩm, có
một hay nhiều phân xưởng sản xuất).
+ Yêu cầu thông tin của công tác quản lý và trình độ quản lý của doanh
nghiệp.
13 13
Căn cứ vào đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp mà đối tượng hạch
toán chi phí có thể là:
+ Từng chi tiết, bộ phận sản phẩm, từng sản phẩm riêng biệt, nhóm sản
phẩm hay đơn đặt hàng.
+ Từng phân xưởng, bộ phận, giai đoạn công nghệ sản xuất.
+ Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
2.1.2 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ
thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản
xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí. Phương pháp
hạch toán chi phí sản xuất bao gồm các phương pháp sau:
a. Phương pháp hạch toán theo công việc
Theo phương pháp này, đối tượng tập hợp chi phí được xác định theo
từng loại sản phẩm, công việc, từng đơn đặt hàng. Trên cơ sở đó, kế toán mở
thẻ( hoặc sổ) kế toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng. Chi phí sản xuất
không kể ở đâu, ở bộ phận nào đều được phân loại theo sản phẩm, công việc,
đơn đặt hàng. Trong trường hợp chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất thì kế toán dựa vào một tiêu chuẩn phân bổ
thích hợp để phân bổ cho từng đối tượng và ghi vào sổ tương ứng.
Sử dụng phương pháp này để hạch toán chi phí giúp cho công việc hạch
toán giá thành sản phẩm chính xác, kịp thời, đồng thời giúp cho việc kiểm tra
đánh gía thường xuyên tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp có nhiều đối tượng tính giá thành
nếu áp dụng theo phương pháp này sẽ làm cho công tác hạch toán ban đầu trở
nên phức tạp. Do đó, phương pháp này phù hợp với các doanh nghiệp có điều
kiện sau:
14 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét