Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Mâu thuẫn biện chứng và biểu hiện của nó trong quán trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở VN

Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến
sự chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phất triển
đến một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện càn thiết mới dẫn đến
chuyển hoá, bài trừ và phủ định nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của
các mặt đối lập thờng diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hoá
của các mặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của
con ngời.
Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập
chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy moc. Thông thờng thì mâu
thuẫn chuyển hoá theo hai phơng thức:
+ Phơng thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập
kia nhng ở trình độ cao hơn xét về phơng diện chất của sự vật.
Ví dụ: Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến
đấu tranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan
hệ sản xuất t bản chủ nghĩa và lực lợng sản xuất mới ở trình độ cao hơn.
+ Phơng thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để thành
hai mặt đối lập mới hoàn toàn.
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nến kinh tế kế hoạch hoá tập
trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc
theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Từ những mâu thuẫn trên cho ta thấy trong thế giới hiện thực, bất kỳ
sự vật hiện tợng nào cũng chứa đựng trong bản thân nó những mặt, những
thuộc tính có khuynh hớng phát triển ngợc chiều nhau. Sự đấu tranh chuyển
hoá của các mặt đối lập trong điều kiện cụ thể tạo thành mâu thuẫn. Mâu
thuẫn là hiện tợng khách quan, phổ biến của thế giới. Mâu thuẫn đợc giải
quyết, sự vật cũng mất đi, sự vật mới hình thành. Sự vật mới lại nảy sinh các
mặt đối lập và mâu thuẫn mới.
Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau để
tạo thành sự vật mới hơn. Cứ nh vậy mà các sự vật, hiện tợng trong thế giới
khách quan thờng xuyên phát triển và biến đổi không ngừng. Vì vậy, mâu
thuẫn là nguồn gốc và động lực của mọi quá phát triển.
5
II . Tính tất yếu của quá trình xây d ợng nền kinh tế thị
tr ờng ở Việt Nam :
1. Kinh tế thị truờng và những đặc điểm :
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam theo định hớng xã hội chủ nghĩa là một
tất yếu lịch sử. Nó nhằm dẫn đến những mục tiêu rất cụ thể và mang tính
cách mạng. Nó thay cũ đôi mới hàng loạt vấn đề về lý luận và thực tiễn, cả
về kinh tế và chu trình xã hội, nó bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và
t tởng Hồ Chí Minh trong điều kiện, hoàn cảnh mới.
Nh chúng ta đã biết, từ khi chủ nghĩa xã hội đợc xây dựng, tất cả các
nớc xã hội chủ nghĩa đều thực hiện nền kinh tê kế hoạch hoá tập trung, cơ
chế vận hành và quảnlý kinh tế này đợc duy trì trong một thời gian khá dài
và xem nh là một đặc trng riêng biệt của chủ nghĩa xã hội, là cái đổi lập với
cơ chế thị trờng của CNTB. Sự thực thì không phải hoàn toàn nh vậy, nền
kinh tế tập trung không chỉ là sản phẩm riêng biệt của CNXH, cũng nh nên
kinh tế thị trờng không phải duy nhất đợc thiết lập trong CNTB. Nền kinh tế
tập trung đã đợc các nớc t bản áp dụng từ trớc nhiều nớc nớc xác lập chế độ
XHCN. Nhng các nớc TBCN đã xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sau
khi chiến tranh kết thúc và đã đạt đợc những thành tựu lớn về kinh tế, xã hội.
Nhng công bằng mà nói, nền kinh tế thị trờng cũng cha phải là cái duy nhất
bảo đảm cho sự tăng trởng và phát triển của xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH thì sự tồn tại của nền sản xuất hàng
hoá, nền kinh tế thị trờng - bớc phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá - là
lẽ đơng nhiên. Nh vậy, có thể nói rằng nền kinh tế thị trờng cũng nh nền kinh
tế tạp trung không phải là thuộc tính đặc thù, cố hữu riêng của một chế độ xã
hội nào vấn đề áp dụng mỗi nền kinh tế đó vào thời điểm, hoàn cảnh lịch sử
nào cho phù hợp để danh hiệu quả cao nhất. Chúng ta đang trong giai đoạn
quá độ lên CNXH, bởi thế việc phát triển nền kinh tế thị trờng là một tất yếu
khách quan. Mới chỉ có hơn chục năm đổi mới vữa qua, Việt Nam đã cho
nhân dân thế giới ngỡ ngàng. Từ chỗ chúng ta còn xa lạ, nay đã hội nhập đợc
với các nền kinh tế tiên tiến, hiện đại. Tất cả những thành tựu kinh tế mà
6
chúng ta đạt đợc khi chuyển sang nên kinh tế thị trờng đã nói lên công cuộc
đổi mới ở nớc ta là một cuộc cách mạng thực sự.
ở Việt Nam có đặc điểm là bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh là mục tiêu, nhiệm vụ không
kém phần quan trọng làm sáng tỏ thêm ý nghĩa và vai trò cách mạng của
công cuộc đổi mới hiện nay ở nớc ta.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta một lần nữa khẳng định
những giá trị khoa học bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí
Minh, đồng thời tuyên bố lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh
làm kim chỉ nam cho mọi hành động.
2. Chuyển sang nền kinh tế thị tr ờng là một tất yếu khách quan trong
quá trình phát triển nền kinh tế đất n ớc :
Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho
thấy, mô hình phát triển kinh tế theo hớng thị trờng có sự diều tiết vĩ mô từ
trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả.
Mô hình này, về đại thể có thể đáp ứng những thách thức của sự phát triển.
ở nớc ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội
dung của công cuộc đổi mới mà hơn thế nữa còn là công cụ, là phơng thức
để nớc ta đi tới mục tiêu xây dựng CNXH.
Nền kinh tế nớc ta hiện nay chỉ có thể nói đang trong giai đoạn quá
độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính, bao cấp sang nền kinh
tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo đinh hớng XHCN. Do vậy,
những đặc điểm của gia đoạn quá độ trong nền kinh tế nớc ta, đơng nhiên là
một vấn đề rất có ý nghĩa, rất cần đợc nghiên cứu, xem xét. Nhận thức đợc
nhứng đặc điểm phức tạp của giai đoạn quá độ, chi phối những đặc điểm đó,
chúng ta sẽ tránh đợc những sai lầm chủ quan, nóng vội, duy ý chí hoặc
những khuynh hớng cực đoan, máy móc, sao chép, chấp nhận nguyên bản
kinh tế thị trờng từ bên ngoài vào.
Nh chúng ta đã biết, trong nên kinh tế tập trung, bao cấp, mọi chức
năng kinh tế - xã hội của nền kinh tế đều đợc triển khai trong quá trình kế
hoạch hoá ở cấp độ quốc gia. Tính bao cấp của Nhà nớc đối với các hoạt
động của sản xuất, lu thông, phân phối khá nặng nề. ở nớc ta trớc đây, chế
7
độ hạch toán, trên thực tế còn nặng về hình thức. Lợi ích kinh tế, đặc biệt là
lợi ích cá nhân ngời lao động, một động lực trực tiếp của hoạt động xã hội
cha đợc quan tâm đúng mức. Vì thế, sự vận động của nền kinh tế nhìn chung
là chậm chạp, kém năng động.
Kể từ đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đến nay, theo đờng lối đổi
mới, đất nớc ta dã từng bớc chuyển sang nên kinh tế thị trờng với định hớng
xã hội chủ nghĩa. Và điều đó có ý nghĩa là chúng ta đã đạt đợc những thành
tựu hết sức quan trọng, những thành tự cho phép chúng ta điều chỉnh và bổ
sung nhận thức, làm cho quan niệm về chủ nghĩa xã hội ngày càng cụ thể; đ-
ờng lối chủ trơng, chính sách ngày càng đồng bộ, có căn cứ khoa hcọ và thực
tiễn. Những thành tựu đó, trong một chừng mực nhất định cũng gián tiếp
khả năng của kinh tế thị trờng trong việc năng động hoá nền kinh tế đất nớc.
Kinh tế thị trờng, nh chúng ta đã biết, là một kiểu quan hệ kinh tế - xã
hội mà trong đó sản xuất và tái sản xuất xã hội gắn liền với thị trờng, tức là
gắn chặt với quân hệ hàng hoá - tiền tệ. với quan hệ cung - cầu Trong nền
kinh tế thị trờng, nét biểu hiện có tính chất bề mặt của đời sống xa hội quan
hệ hàng hoá.
Nếu nh trớc đây, nền kinh tế nớc ta chỉ có một kiểu sở hữu tơng đối
thuần nhất với hai thành phần tập thể và quốc doanh, thì hiện nay, cùng với
thành phần sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nớc, còn tồn tại nhiều hình thức sở
hữu khác. Những hình thức sử hữu đó, trong thực tế vận hành của nền kinh
tế, không hẳn đã đồng bộ với nhau, đối khi chúng còn có mâu thuẫn với
nhau. Song về tổng htể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế,
có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của nền kinh té thị
trờng.
Trên con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, việc chúng ta bớc đầu
sử dụng thị trờng nh là một công cụ, phơng thức, trên thực tếđã đem lại
những kêt quả tích cực cả về phơng diện thực tiễn và phơng diện nhận thức.
Mỗi hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới trang bị cho chúng
ta sản xuất hàng hoá cùng với nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trờng, hiện đã dợc chúng ta hiểu là không đối lập với CNXH. Với tính
8
cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để các cộng đồng mở
cửa, tiếp xúc với bên ngoài, kinh tế thị trờng rõ ràng là cái khách quan và tất
yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nớc ta.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thnàh phần ở nớc ta, thị trờng vừa là
căn cứ, vừa là đối tợng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối
với thị trờng, một mặt làm cho nền kinh tế nớc ta thực sự trở thành một thị tr-
ờng thống nhất- thống nhất trong cả nớc và thống nhất với thị trờng thế giới-
mặt khác còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế phải tự khẳng định khả
năng và vai trò của mình trong thị trờng.
Tuy nhiên, nhận ra sức mạnh của cơ chế thị trờng bao nhiêu, chúng ta
lại cũng hiểu rõ hơn bấy nhiêu mặt trái của nó đối với sự vận động của đời
sống xã hội. Sự tăng trởng kinh tế đơng nhiên là một mục tiêu của phát triển
xã hội; nó có khả năng tạo ra điều kiện để giải quyết các vấn đề xã hội. Nhng
tăng trởng kinh tế không nhất thiết đi liền với tiến bộ xã hội. Do vậy, những
quan niệm của Đảng ta, để thực hiện sự nghiệp xây dựng CNXH với mục
tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn minh, nền kinh tế thị trờng
nhất thiết phải có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
9
III . mâu thuẫn biện chứng trong quá trình xây dựng nền
kinh tế thị tr ờng theo định h ớng x hội chủ nghĩa ở Việtã
Nam :
1. Thực chất nền kinh tế thị tr ờng ở Việt Nam :
1.1. Khái niệm kinh tế thị trờng
Kinh tế thị trờng là một kiểu quan hệ kinh tế xã hội mà trong đó, sản
xuất xã hội gắn chặt với thị trờng, tức là gắn chặt chẽ với quan hệ hàng hoá -
tiền tệ, với quan hệ cung cầu Trong nền kinh tế thị trờng nét biểu hiện có
tính chất bề mặt của đời sống xã hội là quan hệ hàng hoá. Mọi hoạt động xã
hội đều phải tính đến quan hệ hàng hoá, hay ít nhất thì cũng phải sử dụng các
quan hệ hàng hoá nh mắt khâu trung gian.
1.2. Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta.
Thành tựu của 10 năm đổi mới vừa qua ở nớc ta đã có tác dụng làm
cho nớc ta quen dần với các quan hệ hàng hoá. Hàm lợng kinh tế trong các
hoạt động xã hội ngày càng đợc chú ý. Những kế hoạch những hoạt động xã
hội bất chấp kinh tế hoặc phi kinh tế đã giảm đáng kể. Bớc chuyển sang kinh
tế thị trờng này đơng nhiên không tránh khỏi có những mặt tiêu cực của nó,
nhng dẫu sao nó cũng nói lên sức sống và khả năng tác động của những quan
hệ thị trờng ở Việt Nam, dù nền kinh tế thị trờng mới chỉ đang hình thành,
còn đang trong những bớc chập chững ban đầu và đợc điều tiết một cách có ý
thức theo định hớng XHCN, song cũng tác động khá rõ đến mọi mặt của đời
sống xã hội và để lại đó những dấu ấn của mình Nếu nh trớc đây, nền
kinh tế nớc ta chỉ có một kiểu sở hữu thuần nhất với hai thành phần kinh tế
tập thể và quốc doanh, thì hiện nay cùng với thành phần sở hữu chủ đạo chủ
đạo là sở hữu nhà nớc thì còn tồn tại nhiều thành phần sở hữu khác, về tổng
thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp
ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của kinh tế thị trờng.
Trên con đờng CNH - HĐH, việc chúng ta bắt đầu sử dụng thị trờng
nh một công cụ,một phơng thức để đảm bảo tăng trởng kinh tế, trên thực tế,
10
đã đem lại những kết quả tích cực về cả phơng diện, thực tiễn lẫn phơng diện
nhận thức.
Một hành trang có ý nghĩa mà công cuộc đổi mới cho chúng ta là, sản
xuất hàng hoá cùng với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trờng hiện nay đã đợc chúng ta hiểu là không mâu thuẫn với
CNXH. Với tính cách là sản phẩm của văn minh nhân loại, một cơ hội để
cộng đồng mở cửa, tiếp xúc với bên ngoài. Kinh tế thị trờng rõ ràng là khách
quan là tất yếu đối với công cuộc xây dựng CNXH.
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta, thị trờng vừa là
căn cứ, vừa là đối tợng của công tác kế hoạch hoá. Việc điều tiết vĩ mô đối
với thị trờng, một mặt là nền kinh tế nớc ta thực sự trở thành một thị trờng
thống nhất - thống nhất trong cả nớc và thống nhất với thị trờng thế giới, mặt
khác còn có tác dụng làm cho mỗi đơn vị kinh tế buộc phải tự khẳng định
mình - vai trò của mình trong thị trờng.
2. Những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị
tr ờng theo định h ớng Xã hội chủ nghĩa ở n ớc ta :
+) một số vấn đề lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin về
qua hệ giữa kinh tế và chính trị :
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thì kinh tế quyết
định chính trị: chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Trong lịch sử
phát triển xã hội loại ngời không phải báo về cũng có vấn đề chính trị. Xã
hội nguyên thuỷ cha có giai cấp, cha có vấn đề chính trị. Từ khi xã hội xuất
hiện giai cấp và Nhà nớc thì vấn đề chính trị mới hình thành. Vấn đề chính
trị là vấn đề thuộc quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp. Trung tâm của vấn
đề chính trị là vấn đề đấu tranh giữa các giai cấp , các lực lợng xã hội nhằm
giành và giữ chình quyền nhà nớc và sử dụng chính quyền đó làm công cụ dể
xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm
quyền. Bản thân vấn đềm chính trị ra đời hoàn toàn lad do kinh tế quyết
định. Chính trị không phải là mục đích, mà chỉ là phong tiện để thực hiện
mục đích kinh tế. Khi phê phán quan niệm của Đuyrich cho rằng bạo lực
chính trị quyết định kinh tế, F.Engen đã khẳng địnhbạo lực chỉ là phơng
tiện, còn lợi ích kinh tế là mục đích. Trong tác phẩm Lútvích Phoiơbăc và
11
sự cáo chung của triết học cổ điểnĐức, F.Engen đã chỉ rõ để thoả thuận
những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ đợc sử dụng là một phơng
tiện đơn thuần.
Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế đọ xã hội.
Sự thống trị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo cho
giai cấp đó thực hiện đợc sự thống trị về kinh tế. Đấu tranh giai cấp, về thực
chất là đấu tranh vì lợi ích kinh, đợc thực hiện thông qua đấu tranh chính trị.
Theo F.Engen, bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu tranh
chính trị, xét đến cùng, đều xoay quoanh vấn đề giải phóng về kinh tế. Để
nhấn mạnh vai trò của chính trị V.I.Lenin đã khẳng định chính trị không thể
chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tếKhẳng định đó của Lenin không có
nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò quyết định của kinh tế đối voứi chính trị,
mà muôns nhấn mạnh tác động tích cực của chính trị đối với kinh tế. Vấn đề
kinh tế không thể tách rời vấn đề chính trị mà nó đợc xem xét giải quết theo
một lập trờng chinhs trị nhất định. Giai cấp nào cầm quyền cũng hớng kinh
tế phát triển theo lập trờng chính trị của giai cấp đó nhằm phục vụ cho mục
tiêu kinh tế xã hội nhất định. Và lập trờng chính trị đúng hay sai sẽ thúc đẩy
hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. V.I>Lenin còn khẳng định
không có một lập trờng chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó
không thể nào giữ vững đuực sự thống trị của mình và do đó cúng không thể
hoàn thành đợc nhiệm vụ của mình trong lĩnh vục sản xuất . Khi thể chế
chính trị không phù hợp với yêu câùphát triển kinh tế thì kinh tế tất yếu sẽ
mở đờng đi. Khi đó, việc thay đổi thể chế chính trị cho phù hợp với yêu cầu
phát triển kinh tế là điều kiện quyết định để thúc đẩy kinh tế phát triển. Nh
vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng kinh tế và chính trị là thống nhất và
biện chứng với nhau trên nền tảng quyết định là kinh tế. Đây là cơ sở phơng
pháp luận quan trọng trong việc nhận thức xã hội nói chung, nhận thức công
cuộc đổi mới ở Việt Nam nói riêng.
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 năm 1991). Đảng ta
đã khẳng định:
Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung
sức làm tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của nhân dân về
12
đời sống, việc làm và nhu cầu xã hội khác, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cuả CNXH, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến hành đổi mởi trong lĩnh
vực chính trị. Đồng thời với đổi mới kinh tế, phải từng bớc đổi mới tổ chức
và phơng thức hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy ngày càng tốt
quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội. Vì chính trị đụng chạm đến tất cả các mối quan hệ
đặc biệt nhạy cảm và phức tạp trong xã hội, nên việc đổi mới hệ thống chính
trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc, không
cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến sự rối loạn. Nhng không vì thế
mà tiến hành chậm chễ đổi mới chính trị, nhất là về tổ chức bộ máy và các
bộ, các mối quan hệ giữ Đảng và Nhà nớc và cá đoàn thể nhân dân, bởi đó là
điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế , xã hội và thực hiện dân chủ. Điều đó
cho thấy Đảng ta đã không tách rời đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
Đảng ta khẳng định răng phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế và đồng
thời với đổi mới kinh tế phải tiền hành từng bớc đổi mới chính trị, nhng phải
thận trọng không gây mất ổn định về chính trị.
T tởng trên đã đợc tiếp tục phát triển một cáh rõ ràng hơn ở Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 7 năm 1996) của Đảng ta. Khi tổng kết
các bài học của 10 năm đổi mới, Đảng ta đã khẳng định phải kết hợp chặt
chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Đây là một bài học
khái quát mới, hoàn toàn khoa học. Nó vừa phù hợp với lý luận của chú
nghĩa Mác - Lênin vừa phù hợp với thực tiễn công cuộc đổi mới ở nớc ta.
Trong khi đề ra đổi mới chính trị, Đảng ta luôn nhấn mạnh phải ổn
định chính trị, giữ vững và tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng. Điều này tởng
nh một ngịch lý nhng hoàn toàn có lý và khoa học.
ổn định về chính trị, nói một cách khái quát là giai cấp cầm quyền
phải tăng cờng quyền lực chính trị của mình; Nhà nớc của giai cấp đó phải
mạnh và có hiệu lực, luật pháp phải nghiêm minh; chế độ xã hội đã xác lập
phải đợc giữ vững. Đối với nớc ta hiện nay, ổn định về chính trị thực chất là
giữ vững và tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cờng vai trò của Nhà
nớc XHCN, bảo vệ và xây dựng thành công CNXH.
13
Thực tiẽn trên thế giới chó thây, ổn định chính trị là điều kiện hết sức
cơ bản để phát triển kinh tế. Nó tạo ra môi trờng để thu hút nguồn đầu t trong
nớc và trên thế giới, tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh. Những
thành tựu trong 10 năm đổi mới vừa qua ở nớc ta cũng khẳng định điều đó.
Những thành từu đó không thể tách rời việc chúng ta giữ đợc ổn định về
chính trị.
ổn định về chính trị lại không thể tách rời đổi mới về chính trị. Nhng
đổi mới chính trị không phải là đổi mới vô nguyên tắc, mà đổi mới là để giữ
vững ổn định về chính trị, giữ vững và tăng cơng vai trò lãnh đạo của Đảng,
vai trò tổ chức quản lý của Nhà nớc XHCN. Đổi mới chính trị phải gắn liền
với đổi mới về kinh tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của kinh tế thì mới có
thể tăng cờng vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò tổ chức quản lý của Nhà
nớc XHCN, và nhừ đó mới giữ vững ổn định về chịnh trị. Song đổi mới về
kinh tế cũng không phải đổi mới một cách tuỳ tiện mà theo một định hớng
nhất định. Đó là chuyển từ nền kinh tế kấ hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế nhiều thành phàn, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa hay nói ngăn gọn là kinh tế thị tr-
ờng theo định hớng XHCN. Chuyển sang nền kinh tế thị trờng theo định h-
ớng XHCN là nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng văn minh, và đó cũng là cơ sở để giứ vững ổn định về chính trị.
Tóm lại: ổn định và đổi mới về chính trị là hai mặt đổi lập nhng thống
nhất biện chứng với nhau. Có ổn định thì mới đổi mới, và đổi mới là điều
kiện để ổn định, Hai mặt đó tác động qua lại với nhau và gắn bó chặt chẽ với
đổi mới kinh tế, trên nền tảng của đổi mới kinh tế.
Nh vậy, chúng ta thấy trong quá trình đổi mới ở nớc ta, đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau,
trong đó đổi mới kinh tế là trọng tâm, đổi mới chính trị phải tiến hành từng
bớc phù hợp với đổi mới kinh tế, đáp ứng yêu cầu của đổi mới kinh tế.
Điều khẳng định đó là sự khái quát kinh nghiệm của 10 năm đổi mới
vừa qua là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủa nghĩa Mác - Lênin vào
điều kiện cụ thể ở Viêt Nam. Khía quát đó hoàn toàn khoa học và có giá trị
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét