Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Bảo hiểm Việt Nam - thực trạng và giải pháp phát triển

B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
Vào thời kỳ đầu, khi tổn thất xảy ra, người nhận bảo hiểm phải bán
một số tài sản, hoặc rút tiền từ tài khoản ngân hàng để thanh toán cho người
được bảo hiểm. Tuy nhiên, một số nhà kinh doanh đã nhanh chóng nhận ra
rằng rất nhiều thành viên của cộng đồng không muốn nhận bảo hiểm cho
những rủi ro lớn như vậy. Và khái niệm góp vốn chung đã dược hình thành
cùng với việc kêu gọi mọi người mua cổ phần của các công ty bảo hiểm. Chỉ
cần các khai thác viên chuyên nghiệp tính toán một cách đầy đủ, chính xác
trong việc lựa chọn rủi ro để bảo hiểm và số phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi
loại rủi ro cụ thể thì quỹ này sẽ luôn có khả năng bồi thường tổn thất cho
người được bảo hiểm nếu xảy ra rủi ro. Đồng thời, các cổ đông cũng vẫn có
lãi cổ phần ở mức đủ để họ hài lòng với việc đầu tư của mình.
Bảo hiểm hình thành do sự tồn tại các loại rủi ro và sự đòi hỏi con
người phải có những biện pháp đề phòng, ngăn chặn việc xảy ra rủi ro, đồng
thời, khắc phục, hạn chế những hậu quả của rủi ro. Bắt đầu từ bảo hiểm hàng
hải, rồi tới những loại bảo hiểm khác như bảo hiểm hoả hoạn, bảo hiểm nhân
thọ , bảo hiểm ngày nay đã phát triển nhanh chóng trên nhiều mặt và dần dần
đóng vai trò rất quan trọng đối với con người.
2. Đ

nh nghĩa
Mặc dù bảo hiểm đã có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời,
nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ này, cho đến nay vẫn chưa có một
định nghĩa thống nhất về bảo hiểm. Theo các chuyên gia bảo hiểm, một định
nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quĩ
tiền tệ (quĩ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hợp số
đông các đơn vị đối tượng riêng lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau tạo
thành một nhóm tương tác.
- 5 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
- 5

5 -
B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm. Theo Dennis Kessler,
"b

o hi

m là s


đ
óng góp c

a s


đ
ông vào s

b

t h

nh c

a s

ít." Còn theo
Monique Gaullier, "b

o hi

m là m

t nghi

p v

qua
đ
ó, m

t bên là ng
ườ
i
đượ
c
b

o hi

m cam
đ
oan tr

m

t kho

n ti

n g

i là phí b

o hi

m th

c hi

n mong
mu

n
để
cho mình ho

c
để
cho ng
ườ
i th

ba trong tr
ườ
ng h

p x

y ra r

i ro s

nh

n
đượ
c m

t kho

n
đề
n bù các t

n th

t
đượ
c tr

b

i m

t bên khác:
đ
ó là
ng
ườ
i b

o hi

m. Ng
ườ
i b

o hi

m nh

n trách nhi

m
đố
i v

i toàn b

r

i ro và
đề
n bù các thi

t h

i theo các ph
ươ
ng pháp c

a th

ng kê."
Các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặc quá thiên về
góc độ kinh tế, kĩ thuật, ít nhiều cũng còn thiếu sót, chưa phải là một khái
niệm bao quát, hoàn chỉnh. Nói một cách chính xác, bảo hiểm là một dịch vụ tài
chính, dựa trên cơ sở tính toán khoa học, áp dụng biện pháp huy động nhiều
người, nhiều đơn vị cùng tham gia xây dựng quỹ bảo hiểm bằng tiền để bồi
thường thiệt hại về tài chính do tài sản hoặc tính mạng của người được bảo
hiểm gặp phải tai nạn rủi ro bất ngờ. Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ) định
nghĩa: “B

o hi

m là m

t c
ơ
ch
ế
, theo c
ơ
ch
ế
này, m

t ng
ườ
i, m

t doanh nghi

p
hay m

t t

ch

c chuy

n nh
ượ
ng r

i ro cho công ty b

o hi

m, công ty
đ
ó s

b

i
th
ườ
ng cho ng
ườ
i
đượ
c b

o hi

m các t

n th

t thu

c ph

m vi b

o hi

m và phân
chia giá tr

thi

t h

i gi

a t

t c

nh

ng ng
ườ
i
đượ
c b

o hi

m”.
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban hành ngày
09/12/2000) thì “kinh doanh b

o hi

m là ho

t
độ
ng c

a doanh nghi

p b

o hi

m
nh

m m

c
đ
ích sinh l

i, theo
đ
ó doanh nghi

p b

o hi

m ch

p nh

n r

i ro c

a
ng
ườ
i
đượ
c b

o hi

m, trên c
ơ
s

bên mua b

o hi

m
đ
óng phí b

o hi

m
để
doanh nghi

p b

o hi

m tr

ti

n b

o hi

m cho ng
ườ
i th

h
ưở
ng ho

c b

i
th
ườ
ng cho ng
ườ
i
đượ
c b

o hi

m khi x

y ra s

ki

n b

o hi

m."
Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có
thể đưa ra định nghĩa: “B

o hi

m là m

t s

cam k
ế
t b

i th
ườ
ng c

a ng
ườ
i b

o
- 6 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
- 6

6 -
B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
hi

m v

i ng
ườ
i
đượ
c b

o hi

m v

nh

ng thi

t h

i, m

t mát c

a
đố
i t
ượ
ng b

o
hi

m do m

t r

i ro
đ
ã tho

thu

n gây ra, v

i
đ
i

u ki

n ng
ườ
i
đượ
c b

o hi

m
đ
ã thuê b

o hi

m cho
đố
i t
ượ
ng b

o hi

m
đ
ó và n

p m

t kho

n ti

n g

i là phí
b

o hi

m”.
3. B

n ch

t c

a b

o hi

m
Bằng sự đóng góp của số đông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro,
quĩ sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít. Mỗi
cá nhân hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các
công ty bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn
thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ được bồi
thường. Khoản tiền bồi thường này được lấy từ số phí mà tất cả những người
tham gia bảo hiểm đã nộp. Tất nhiên, chỉ có một số người tham gia bảo hiểm
gặp tổn thất, còn những người không gặp tổn thất sẽ mất không số phí bảo
hiểm. Như vậy, có thể thấy, th

c ch

t c

a b

o hi

m là vi

c phân chia t

n th

t
c

a m

t ho

c m

t s

ng
ườ
i cho t

t c

nh

ng ng
ườ
i tham gia b

o hi

m cùng
ch

u. Do đó, một nghiệp vụ bảo hiểm muốn tiến hành được phải có nhiều
người tham gia, tức là, bảo hiểm chỉ hoạt động được trên cơ sở luật số đông
(the law of large numbers), càng nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro
đối với mỗi người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi.
Với hình thức số đông bù cho số ít người bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm
sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi ro,
tiết kiệm được nguồn chi cho ngân sách nhà nước. Như vậy, thực chất mối
quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người bảo
hiểm và người được bảo hiểm, mà suy rộng ra, nó là tổng thể các mối quan hệ
giữa những người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình
thành và sử dụng quĩ bảo hiểm. Quĩ bảo hiểm được tạo lập thông qua việc huy
- 7 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
- 7

7 -
B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
động phí bảo hiểm, số người tham gia càng đông thì quĩ càng lớn. Quĩ được
sử dụng trước hết và chủ yếu là để bù đắp những tổn thất cho người được
bảo hiểm, không làm ảnh hưởng đến sự liên tục của đời sống xã hội và hoạt
động sản xuất - kinh doanh trong nền kinh tế. Ngoài ra, quĩ còn được dùng để
trang trải chi phí, tạo nên nguồn vốn đầu tư cho xã hội. Bảo hiểm thực chất là
hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản
phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quĩ bảo hiểm
cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với người được bảo
hiểm, đảm bảo quá trình tái sản xuất được thường xuyên, liên tục.
4. Các nguyên t

c c
ơ
b

n c

a b

o hi

m
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày nay đã đạt đến trình độ phát
triển cao ở nhiều nước trên thế giới, với rất nhiều loại hình, cũng như đối
tượng được bảo hiểm ngày càng rộng mở và trở nên hết sức phong phú. Tuy
nhiên, hoạt động bảo hiểm vẫn được tiến hành trên cơ sở một số nguyên tắc
cơ bản của nó.
4.1. Nguyên t

c ch

b

o hi

m s

r

i ro, không b

o hi

m s

ch

c ch

n (fortuity not certainty)
Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro,
tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn, tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu
nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn
xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát
do rủi ro gây ra chứ không bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra,
đương nhiên xảy ra.
Như vậy, người ta chỉ bảo hiểm cho những gì có tính chất rủi ro, bất
ngờ, không lường trước được, nghĩa là không bảo hiểm cái gì đã xảy ra hoặc
chắc chắn sẽ xảy ra. Bởi lẽ, bảo hiểm được thực hiện chính là nhằm giải
- 8 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
- 8

8 -
B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
quyết hậu quả của những sự cố rủi ro ngoài ý muốn của con người, những rủi
ro mà con người không thể hạn chế được hoặc chỉ hạn chế được phần nào.
Người khai thác không nhận bảo hiểm khi biết chắc chắn rủi ro được bảo
hiểm sẽ xảy ra, ví dụ như xe cơ giới không đảm bảo an toàn kỹ thuật, con tàu
không đủ khả năng đi biển Người ta cũng không bảo hiểm cho những gì đã
xảy ra, ví dụ như bảo hiểm cho tàu, xe sau khi chúng đã gặp tai nạn.
4.2. Nguyên t

c trung th

c tuy

t
đố
i (utmost good faith)
Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy
lẫn nhau, trung thực với nhau. Tuy nhiên, trong bảo hiểm, điều này được thể
hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ hơn, và ràng buộc cao hơn về mặt trách
nhiệm. Theo nguyên tắc này, hai bên trong mối quan hệ bảo hiểm (người bảo
hiểm và người được bảo hiểm) phải tuyệt đối trung thực với nhau, tin tuởng
lẫn nhau, không được lừa dối nhau. Các bên chịu trách nhiệm về tính chính
xác, trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia. Doanh nghiệp bảo hiểm có
trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp. Nếu một
bên vi phạm thì hợp đồng bảo hiểm trở nên không có hiệu lực. Nguyên tắc này
thể hiện như sau:
- Ng
ườ
i b

o hi

m phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên
tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm cho người được bảo hiểm biết. Ví dụ, trong bảo
hiểm hàng hải, mặt 1 của đơn bảo hiểm bao gồm các nội dung như điều kiện
bảo hiểm, giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, tỷ lệ bảo hiểm , mặt 2 bao gồm
quy tắc, thể lệ bảo hiểm của công ty bảo hiểm có liên quan. Khi giao kết hợp
đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ
thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều
khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm. Người bảo hiểm cũng không được
nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn.
- 9 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
- 9

9 -
B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
- Ng
ườ
i
đượ
c b

o hi

m phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan
đến đối tượng bảo hiểm. Họ cũng phải thông báo kịp thời những thay đổi về
đối tượng bảo hiểm, về rủi ro, về những mối đe dọa nguy hiểm hay làm tăng
thêm rủi ro mà mình biết được hoặc đáng lẽ phải biết. Người được bảo hiểm
cũng không được mua bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng
bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tổn thất.
Sở dĩ có nguyên tắc này là vì trong giao dịch bảo hiểm, chỉ có người
chủ (hoặc người quản lý, sử dụng) mới biết được tất cả mọi yếu tố của đối
tượng bảo hiểm, biết rủi ro mình yêu cầu bảo hiểm, còn người bảo hiểm
thường không biết rõ rủi ro mà chỉ dựa vào những thông tin do người yêu cầu
bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình
đối với rủi ro: nhận hay không nhận bảo hiểm, nhận bảo hiểm theo điều kiện,
điều khoản như thế nào và tính tỉ lệ phí bảo hiểm bao nhiêu Do đó, người
yêu cầu bảo hiểm phải có trách nhiệm khai báo mọi yếu tố liên quan một cách
đầy đủ và trung thực và phải khai báo sự phát sinh các yếu tố quan trọng, có
ảnh hưởng đến đối tượng được bảo hiểm trong suốt thời gian hợp đồng có
hiệu lực hoặc khi tái tục hợp đồng.
Ví dụ, một người mua bảo hiểm thiệt hại do hoả hoạn, lụt lội, trộm cắp
cho một ngôi nhà và biết rằng vùng đó thưòng có nguy cơ xảy ra bão lụt nhưng
khi mua bảo hiểm lại không khai báo gì về điều đó. Khi bão đến gây ra thiệt
hại cho ngôi nhà, người đó cũng không được bảo hiểm bồi thường. Một ví dụ
khác là khi tàu, xe đã gặp tai nạn, chủ tàu, chủ xe mới tham gia bảo hiểm để
được bồi thường, bằng cách mua bảo hiểm ghi lùi lại ngày tháng trước tai nạn,
hoặc tìm cách để có hồ sơ tai nạn ghi ngày tháng xảy ra sau ngày mua bảo
hiểm. Trong trường hợp đó, người bảo hiểm sau khi biết người được bảo
- 10 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
-
10

10
-
B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
hiểm không khai báo thật, có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hoặc không
bồi thường tổn thất xảy ra.
4.3. Nguyên t

c quy

n l

i có th


đượ
c b

o hi

m (insurable
interest)
Quyền lợi có thể được bảo hiểm, hay lợi ích bảo hiểm, là quyền sở
hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi
dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. Như vậy, quyền lợi có
thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay
phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Người
nào có quyền lợi có thể được bảo hiểm ở một đối tượng bảo hiểm nào đó có
nghĩa là quyền lợi của người đó sẽ được đảm bảo nếu đối tượng đó được an
toàn, và ngược lại, quyền lợi của người đó sẽ bị phương hại nếu đối tượng
bảo hiểm đó gặp rủi ro. Nói khác đi, người có quyền lợi có thể được bảo
hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro.
Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có một số quan hệ với đối
tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận. Đó có thể là người chủ sở hữu của
đối tượng bảo hiểm đó, người chịu trách nhiệm quản lý tài sản hoặc người
nhận cầm cố tài sản. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn
trong bảo hiểm, có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì mới được ký kết hợp
đồng bảo hiểm. Khi xảy ra tổn thất, người được bảo hiểm đã phải có quyền
lợi có thể được bảo hiểm rồi mới được bồi thường.
Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ ra rằng, người được
bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể
được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo
hiểm. Trong bảo hiểm hàng hải, quyền lợi có thể được bảo hiểm không nhất
- 11 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
-
11

11
-
B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
thiết phải có khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, nhưng nhất thiết phải có khi xảy
ra tổn thất.
4.4. Nguyên t

c b

i th
ườ
ng (indemnity)
“Bồi thường” có thể được hiểu là “sự bảo vệ hoặc đảm bảo cho thiệt
hại hoặc tổn thất phát sinh từ trách nhiệm pháp lý”. Ở đây, “đảm bảo” và “bảo
vệ” rất phù hợp với ý nghĩa của bảo hiểm. Mục đích của bảo hiểm chính là
nhằm khôi phục vị trí tài chính như ban đầu cho người được bảo hiểm ngay
sau khi tổn thất xảy ra. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất nhiều trường hợp
các công ty bảo hiểm không thể khôi phục được hoàn toàn vị trí tài chính ban
đầu cho người được bảo hiểm mà chỉ có thể cố gắng khôi phục được gần như
thế.
Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm
phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị
trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên
không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Trong bảo hiểm, số tiền bồi
thường mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong một rủi
ro được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm, không được lớn hơn thiệt
hại thực tế. Người được bảo hiểm cũng không thể được bồi thường nhiều
hơn thiệt hại do tổn thất, không được kiếm lời bằng con đường bảo hiểm, tối
đa người được bảo hiểm cũng chỉ được bồi thường đầy đủ, chứ không thể
nhiều hơn thiệt hại.
Ở đây, ta thấy có mối liên hệ giữa bồi thường và quyền lợi được bảo
hiểm. Khi xảy ra trường hợp phải bồi thường, số tiền trả cho người được bảo
hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi của người đó. Tuy nhiên, đôi
khi, người được bảo hiểm chỉ được nhận số tiền ít hơn giá trị lợi ích của họ.
Cùng với quyền lợi được bảo hiểm, nguyên tắc bồi thường phụ thuộc chủ yếu
- 12 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
-
12

12
-
B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
vào việc đánh giá tài chính, và như vậy, khi xem xét giá trị sinh mạng, hoặc bồi
thường thương tật con người, chúng ta không thể đưa ra được số tiền chính
xác.
4.5. Nguyên t

c th
ế
quy

n (subrogation)
Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho
người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người
thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình. Tất cả các khoản tiền nào có thể
thu hồi được để giảm bớt thiệt hại đều thuộc quyền sở hữu của người bảo
hiểm, tức là người đã trả tiền bồi thường tổn thất. Khi số tiền phải bồi thường
càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng quan trọng và có ý nghĩa.
Thế quyền có thể được thực hiện trước hoặc sau khi bồi thường tổn thất.
Trong trường hợp này, người bảo hiểm được thay mặt người được bảo hiểm
để làm việc với các bên liên quan. Để thực hiện được nguyên tắc này, người
được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ cần
thiết cho người bảo hiểm.
Điều cần chú ý là, người được bảo hiểm cũng có thể được bồi thường
từ một nguồn khác ngoài nguồn bồi thường từ công ty bảo hiểm, nhưng trong
trường hợp đó, bất cứ số tiền nào mà người được bảo hiểm thu được cũng
phải đặt dưới danh nghĩa của công ty bảo hiểm đã thực hiện bồi thường. Do
mối quan hệ chặt chẽ giữa thế quyền và bồi thường, một công ty bảo hiểm
không được phép thu nhiều hơn số tiền họ đã bồi thường. Người bảo hiểm chỉ
được thực hiện thế quyền ở mức độ tương đương với số tiền đã trả hoặc sẽ
trả. Điều này cũng có nghĩa là không chỉ người được bảo hiểm mà cả công ty
bảo hiểm đều không được phép thu lời từ việc thực hiện quyền của mình.
5. Các lo

i hình b

o hi

m
- 13 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
-
13

13
-
B

o hi

m Vi

t Nam - th

c tr

ng và gi

i pháp phát tri

n
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, bảo hiểm ngày nay đã bao gồm
nhiều hình thức hết sức đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở các tiêu
chí khác nhau, chúng ta lại có được các loại hình khác nhau của bảo hiểm.
Người ta có thể phân loại dựa trên cơ chế hoạt động, tính chất, đối tượng của
bảo hiểm, cũng như có thể dựa theo quy định của pháp luật.
5.1. C
ă
n c

vào c
ơ
ch
ế
ho

t
độ
ng c

a b

o hi

m
Theo tiêu chí này, bảo hiểm có thể phân ra thành:
* B

o hi

m xã h

i (social insurance): là chế độ bảo hiểm của nhà
nước, của đoàn thể xã hội hoặc của các công ty nhằm trợ cấp cho các viên
chức nhà nước, người làm công trong trường hợp ốm đau, bệnh tật, bị chết
hoặc tai nạn trong khi làm việc, về hưu.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời
khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. So với
các loại hình bảo hiểm khác, đối tượng, chức năng và tính chất của BHXH có
những điểm khác biệt. BHXH có một số đặc điểm: có tính chất bắt buộc; hoạt
động theo những luật lệ quy định chung; không tính đến những rủi ro cụ thể;
không nhằm mục đích kinh doanh Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập, tập
trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước, hình thành chủ yếu từ các nguồn đóng
góp hay ủng hộ của người lao động, người sử dụng lao động, nhà nước, các tổ
chức, cá nhân từ thiện Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế
(ILO) trong công ước 102 tháng 6/1952 tại Giơnevơ, quỹ BHXH được sử dụng
để trợ cấp cho:
- Chăm sóc y tế
- Trợ cấp ốm đau
- Trợ cấp thất nghiệp
- Trợ cấp tuổi già
- 14 - Sinh viên: Bùi H

ng Anh - Nh

t 3 K38F-KTNT
-
14

14
-

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét