VIE/02/015 đã chọn tỉnh Lạng Sơn là địa bàn để thực hiện thí
điểm việc tăng cường năng lực pháp luật cho cán bộ, công chức cơ
sở, giao cho Ban Nội chính trung ương là cơ quan chủ trì thực hiện
Tiểu dự án Tăng cường năng lực pháp luật cho cán bộ, công chức
cơ sở tỉnh Lạng Sơn.
Thực hiện kế hoạch hoạt động của Tiểu dự án, Công ty tư vấn
luật Vision & Associates được lựa chọn là đơn vị tư vấn độc lập
khảo sát, đánh giá thực trạng năng lực pháp luật của cán bộ, công
chức cơ sở tỉnh Lạng Sơn. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá
của đơn vị tư vấn và nhu cầu của tỉnh Lạng Sơn, các chuyên gia
pháp luật đã được Tiểu dự án của Ban Nội chính trung ương tập
hợp để xây dựng bộ tài liệu tập huấn cho cán bộ, công chức cơ sở
của tỉnh Lạng Sơn. Bộ tài liệu này gồm năm tập Kiến thức pháp
luật và bốn tập Tình huống pháp luật cho cán bộ, công chức cơ sở.
Do năng lực, thời gian hạn chế và khối lượng kiến thức, công
việc rất lớn nên bộ tài liệu có thể còn khiếm khuyết. Ban quản lý Dự
án VIE/02/015 và Tiểu dự án Ban Nội chính trung ương cảm ơn
những ý kiến đóng góp và xin trân trọng tiếp thu để tiếp tục hoàn
thiện bộ tài liệu này.
Được sự đồng ý của Ban Quản lý Dự án VIE/02/015 và Tiểu
dự án Ban Nội chính trung ương, Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản
tập 3 ]Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân -
gia đình và các vấn đề xã hội^ trong bộ sách Kiến thức pháp
luật dành cho cán bộ, công chức cơ sở của tỉnh Lạng Sơn.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Tháng 02 năm 2007
Nhà xuất bản Tư pháp
8
preface
Officials and public servants at grassroots level (communes,
precincts, and towns) are the closest to ordinary people. Within
their scope of functions, and duties, they directly bring the laws
to the people through dealing with matters relating to the legiti-
mate rights and benefits of the people, at the same time, official and
public servant at grassroots level understand the most expectations
and needs of the peoples, understand well problems and shortcom-
ings of the States policies, laws and regulations in application in
the real life. Although policies and laws of the State are proper, its
implementation will be less effective if they are not applied by com-
petent public servants. However, because of various objective and
subjective reasons, capacity of officials and public servants at
grassroots level are limited, there are a part of them are not capa-
ble to meet with requirement, especially in the context of industri-
alisation, modernisation and building of a socialist rule of law
State of the people, for the people and by the people.
Accordingly, improvement of legal capacity for official and
public servants at grassroots level is a pressing need to contribute
to strengthen local staff to be qualified and capable to fulfill imple-
ment and enforce their duties and tasks as provided for by laws
and to protect legitimate rights and benefits of individuals and
organisation in the local area.
Aware of importance of the issue in the context of development
of a legal system for Viet Nam until 2010 and orientation up to 2020,
under the framework of Project VIE/02/015, Project Steering
9
Committee selected Lang Son province as the pilot site to imple-
ment a sub-project on strengthening the legal capacity for officials
and public servants at grassroots level and assigned Central
Internal Affairs Committee to deploy the sub-project.
In accordance with sub-project work plan, Vision & Associates-
an independent legal consultancy firm-was hired to conduct a
based-line survey and prepare an assessment report on current sta-
tus of legal capacity of officials and public servants in Lang Son
province. Based on this assessment and based on needs officials at
Lang Son province, legal consultants of the sub-project develop a
set of training materials for officials and public servants at grass-
root level of Lang Son province. These materials comprise of five
volumes named Legal Knowledge for officials and public servants
at grassroots level and the other four volumes named Legal Case
Studies for officials and public servants at grassroots level.
Because of limit of time and complexity of work, the materials
will certainly have errors or mistakes. Management Unit of Project
VIE/02/015 and Sub-project of the Central Internal Affairs
Committee sincerely thank for any comments and opinions from
the readers to improve the materials.
With permission of Management Unit of Project VIE/02/015
and Sub-project of the Central Internal Affairs Committee, Judicial
Publishing House publishes Volume 3 titled ]State Management
on Civil, Marriage, Family and Social Matters^ of the Legal
Knowledge for Officials and Public Servants at Grassroots Level of
Lang Son Province.
We kindly introduce this book to the readers!
Hanoi, February 2007
The Judicial Publishing house
10
MụC LụC
Lời giới thiệu
Phần I. Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và một
số chính sách xã hội khác
Phần II. Quản lý nhà nước về y tế và trách nhiệm của chính quyền
cấp xã
Phần III. Quản lý nhà nước về văn hoá và trách nhiệm của chính
quyền cấp xã
Phần IV. Quản lý nhà nước về giáo dục và trách nhiệm của chính
quyền cấp xã
Phần V. Pháp luật về bình đẳng giới
Phần VI. Pháp luật về dân sự và trách nhiệm của chính quyền
cấp xã
Phần VII. Pháp luật về hôn nhân và gia đình và trách nhiệm của
chính quyền cấp xã
11
Trang
7
13
58
106
145
180
231
270
12
Phần I
CHíNH SáCH ƯU ĐãI NGƯờI Có CÔNG VớI CáCH MạNG
Và MộT Số CHíNH SáCH Xã HộI KHáC
I. NHữNG VấN Đề CHUNG
1. Về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công lao, sự hy
sinh to lớn của các anh hùng, liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người
có công với cách mạng. Thể hiện truyền thống văn hoá và đạo lý
của dân tộc uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, đền
ơn, đáp nghĩa, Đảng và Nhà nước sớm xây dựng và ngày càng hoàn
thiện hệ thống chính sách, chế độ ưu đãi đối với thương binh, gia
đình liệt sỹ, người có công với cách mạng.
Thực hiện chủ trương ưu đãi xã hội trong Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết về cải cách chế độ tiền
lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công.
Nhân dịp kỷ niệm Ngày thương binh, liệt sỹ (27/7) năm 2005,
Văn phòng Chủ tịch nước đã tổ chức công bố Pháp lệnh Ưu đãi
người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11.
Hàng loạt các văn bản quan trọng đã được ban hành để hướng
Giới thiệu chung
13
Phần VII. Pháp luật về hôn nhân và gia đình
và trách nhiệm của chính quyền cấp xã
dẫn thực hiện các chính sách, chế độ đối với người có công như:
Nghị định số 54/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của
Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số
147/2005/NĐ-CP quy định về mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với
người có công với cách mạng; Nghị định số 07/2005/NĐ-CP sửa đổi
Nghị định số 91/1998/NĐ-CP về quy chế quản lý và sử dụng Quỹ
đền ơn đáp nghĩa; Thông tư liên tịch số 17/2005/TTLT-LĐTBXH-
TC của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện chế độ điều dưỡng đối với người có công với
cách mạng; Thông tư số 33/2005/TT-LĐTBXH của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị
định số 147/2005/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối
với người có công với cách mạng.
Ngoài việc thực hiện đầy đủ chính sách, chế độ ưu đãi của Nhà
nước, các ngành, các cấp, đặc biệt là nhiều xã, phường, thị trấn,
bằng nhiều biện pháp cụ thể và sáng tạo đã chủ động thực hiện các
hoạt động tình nghĩa như: nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam
anh hùng, đỡ đầu con thương binh, con liệt sỹ, tặng nhà tình
nghĩa, sổ tiết kiệm; và thực hiện nhiều ưu đãi như cấp đất ở và đất
sản xuất, ưu tiên cho vay vốn và miễn, giảm thuế nông nghiệp cho
các gia đình chính sách Những việc làm này đã tạo điều kiện và
môi trường thuận lợi để gia đình chính sách vượt qua khó khăn,
phát triển sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ, vươn lên tự đảm bảo
cuộc sống của mình; hơn nữa còn góp phần ổn định xã hội, đổi mới
đất nước.
Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều xã, phường, thị trấn chưa làm tốt
công tác thương binh, liệt sỹ và ưu đãi người có công với cách
mạng; một bộ phận gia đình chính sách ở vùng sâu, vùng xa, vùng
trước đây chiến tranh tàn phá nặng nề, vùng thường xuyên bị
thiên tai vẫn còn phải sống nghèo khổ; nhiều trường hợp chưa được
xác nhận để được hưởng chế độ của thương binh, liệt sỹ, người có
14
kiến thức pháp luật
Tập 3: Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân - gia đình
công; nhiều đối tượng chính sách, người có công không được hưởng
chế độ do những việc làm sai trái của một số cán bộ; nhiều gia đình
vẫn chưa nhận được thông tin về phần mộ và hài cốt liệt sỹ
Vì vậy, cần phải có nhiều việc làm thiết thực hơn nữa của
Đảng, Nhà nước, các ngành chức năng và chính quyền cấp xã để
sớm giải quyết những vấn đề tồn đọng, để các đối tượng chính sách
được hưởng chế độ ưu đãi xứng đáng.
- Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân
của họ được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của
đất nước trong từng thời kỳ.
- Hàng năm, Nhà nước dành phần ngân sách bảo đảm thực
hiện các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân
của họ.
- Các chế độ ưu đãi bằng tiền phải đưa tới tận tay người thụ
hưởng đầy đủ và kịp thời.
- Khai man, giả mạo giấy tờ để hưởng chế độ ưu đãi người có
công với cách mạng.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định hoặc gây
thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền lợi của người có công với
cách mạng.
- Vi phạm nguyên tắc quản lý, sử dụng kinh phí bảo đảm thực
Các hành vi bị nghiêm cấm trong
việc thực hiện chính sách ưu đãi
người có công
Nguyên tắc thực hiện chính sách
ưu đãi người có công
15
Phần VII. Pháp luật về hôn nhân và gia đình
và trách nhiệm của chính quyền cấp xã
hiện các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, Quỹ đền ơn
đáp nghĩa.
- Lợi dụng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng để
vi phạm pháp luật.
2. Về các chính sách xã hội khác
ở Việt Nam, truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, giúp
đỡ nhau, đặc biệt là trợ giúp những người có hoàn cảnh khó khăn
(người tàn tật, trẻ em mồ côi, người cao tuổi cô đơn không nơi
nương tựa, người nghèo) rất sâu sắc và mạnh mẽ. Đảng và Nhà
nước luôn quan tâm đến vấn đề này. Sự quan tâm đó được thể hiện
bằng việc ban hành và thực hiện các chính sách, pháp luật dành
cho những đối tượng này. Tuy nhiên, trong phạm vi chuyên đề này,
chúng tôi chỉ xin giới thiệu về chính sách, pháp luật dành cho
người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và những nhiệm vụ của
Uỷ ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện những chính sách,
pháp luật dành cho hai đối tượng này.
Cho đến nay, khó có thể đưa ra con số chính xác về số người
tàn tật ở Việt Nam do chưa có quy chuẩn chính xác để xếp loại
người tàn tật, nhưng theo báo cáo của Văn phòng điều phối các
hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam thì số lượng người tàn tật
có xu hướng gia tăng do: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ô
nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng và xu hướng tăng do sự
phát triển mạnh mẽ của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị
hoá. Vì vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng cần phải
nỗ lực thực hiện trách nhiệm của mình để hỗ trợ người tàn tật vượt
qua khó khăn và hoà nhập với đời sống cộng đồng.
Đối với người tàn tật
16
kiến thức pháp luật
Tập 3: Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân - gia đình
Để thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng và đáp ứng nguyện
vọng của người tàn tật, ngày 30 tháng 7 năm 1998, Uỷ ban thường
vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh về Người tàn tật. Pháp lệnh
đã cụ thể hoá các chính sách về bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện
cho người tàn tật hoà nhập cộng đồng, quy định trách nhiệm của
gia đình, Nhà nước và xã hội đối với người tàn tật, quyền và nghĩa
vụ của người tàn tật.
Sau khi Pháp lệnh được thông qua, đã có các nghị định của
Chính phủ, quyết định và chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, thông
tư và các văn bản khác của các Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông
vận tải hướng dẫn thực hiện các quy định liên quan đến người tàn
tật. Nhiều địa phương đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn
thực hiện Pháp lệnh về Người tàn tật phù hợp với đặc điểm, điều
kiện thực tế của địa phương.
Các chính sách, chế độ hỗ trợ người tàn tật đã tạo khung pháp
lý về chăm sóc người tàn tật, xác định rõ trách nhiệm của Nhà
nước, gia đình và xã hội, cũng như tạo môi trường thuận lợi cho
người tàn tật nâng cao mức sống, tiếp cận học nghề, việc làm và
các dịch vụ xã hội cơ bản. Tuy nhiên, trên thực tế, cuộc sống của
người tàn tật, nhất là ở khu vực nông thôn còn nhiều khó khăn.
Điều đó đòi hỏi phải có sự nỗ lực hơn nữa từ phía các cơ quan, ban
ngành, chính quyền các cấp, đặc biệt là chính quyền cấp xã trong
việc hỗ trợ người tàn tật.
Sự phát triển của trẻ em có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nói riêng
là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và mọi
Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
17
Phần VII. Pháp luật về hôn nhân và gia đình
và trách nhiệm của chính quyền cấp xã
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét