Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Phát triển công cụ nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng nhà nước Việt Nam.docx

Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
Gía trị đối nội và giá trị đối ngoạ của đồng tiền có quan hệ mật thiết với nhau.
Muốn ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế,nhàn nước phải có các biện pháp ổn định
giá cả hàng hoá , dịch vụ trong nước và ổn định tỷ giá.
1.1.2.2 Tạo việc làm ,giảm thất nghiệp.
Việc làm cho người lao động là một vấn đề quan trọng đối với bất cứ quốc gia
nào trên thế giới. Thông qua chính sách tiền tệ có thể tác động đến công ăn việc làm,
tức tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế.
Nếu chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương nhằm mở rộng cung ứng tiền tệ
thì điều đó sẽ tạo điều kiện mở rộng đầu tư xản xuất, nền kinh tế cần nhiều lao động
hơn,cầu về lao động tăng dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp thấp. Ngược lại, khi lượng cung
ứng tiền tệ giảm xuống sẽ thu hẹp các hoạt động sản xuất kinh doanh, nền kinh tế sẽ
cần ít lao động hơn , tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng.
Theo đuổi mục tiêu công ăn việc làm cao không đồng nghĩa với tỷ lệ thất nghiệp
bằng không mà tỷ lệ thất nghiệp phải ở mức tự nhiên. Ngoài ra thông thường để có
một tỷ lệ công ăn việc làm ở mức hợp lý thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất
định nào đó, hai mục tiêu này luôn triệt tiêu cho nhau trong quá trình thực thi chính
sách tiền tệ.
1.1.2.3 Kích thích tăng trưởng kinh tế.
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn gắn liền với mục tiêu công ăn việc làm cao.
Chính sách tiền tệ có thể tác động đồng thời hai mục tiêu này. Khi mức cung ứng tiền
tệ tăng lên trong ngắn hạn lãi suất tín dụng giảm sẽ khuyến khích đầu tư, mở rộng sản
xuất kinh doanh , làm tăng sản lượng và tăng trưởng kinh tế. Ngược lại khi mức cung
tiền tệ giảm trong ngắn hạn lãi suất tín dụng tăng sẽ thu hẹp hoạt động sản xuất kinh
doanh , sản lưọng giảm, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm.
Các nhà kinh tế đã thừa nhận rằng, nền kinh tế thị trường luôn biến động mang
thính chu kỳ: Từ tăng trưởng kinh tế quá mức dẫn đến lạm phát cao, từ đó rễ rơi vào
trạng thái ngưng trệ rồi suy thoái kinh tế. Vấn đề đặt ra là đối với từng giai đoạn cụ
thể, chính sách tiền tệ phải tìm giải pháp để vừa có thể đạt được mục tiêu trọng tâm,
vừa dung hoà được các mục tiêu còn lại.
1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ
5
1.1.3.1Chính sách chiết khấu.
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt đó là
tiền tệ với chức năng chính là nhận tiền gửi và cho vay . Nhưng không phải lúc nào
hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng đều thuận lợi.Có những lúc khách hàng đến
rút tiền quá nhiều, khi đó ngân hàng thương mại có thể rơi vào tình trạng mất khả
năng thanh toán.Vì vậy nếu không có Ngân hàng trung ương , các ngân hàng thương
mại(NHTM) có thể sẽ rơi vào tình trạng phá sản . Chính vào lúc khó khăn này,
NHTW sẽ thực hiện chức năng là người cho vay cuối cùng của nền kinh tế.
NHTW sẽ cấp tín dụng cho NHTM qua nhiều hình thức, thông dụng nhất đó là
tái cấp vốn dưới hình thức chiết khấu và tái chiết khấu các thương phiếu hoặc các
giấy tờ có giá . Khi chấn nhận chiết khấu hoặc tái chiết khấu là NHTW đã làm tăng
lượng tiền trong lưu thông. Đây là hình thức phát hành tiền được xem là lành mạnh
do được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá và khi đáo hạn NHTW sẽ đòi được các món
nợ đã cho vay.
Việc điều hành công cụ chiết khấu , tái chiết khấu để thực thi chính sách tiền tệ
được thông qua lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu. NHTW có thể tác động để tăng
hoặc giảm khả năng cho vay của các NHTM , qua đó tăng hoặc giảm lượng tiền cung
ứng trong nền kinh tế.
Khi NHTW tăng lãi suất tái chiết khấu, giá của các khoản vay tăng lên, các ngân
hàng thương mại sẽ nâng lãi suất cho vay và hạn chế khả năng cho vay đối với nền
kinh tế, đồng thời lãi suất tăng sẽ dẫn đến nhu cầu vay vốn của nền kinh tế sẽ
giảm,lượng tiền cung ứng sẽ giảm. Khi NHTW giảm lãi suất tái chiết khấu sẽ có tác
động ngược lại.
Chiết khấu và tái chiết khấu là việc NHTW “mua” các thương phiếu của các
NHTM nhằm điều chỉnh mức cung tín dụng của ngân hàng thương mại đối với nền
kinh tế, đồng thời qua đó điều chỉnh cung ứng tiền tệ.
Chính sách chiết khấu là một công cụ rất quan trọng trong việc thực thi chính
sách tiền tệ của NHTW .Nó không chỉ điều tiết lượng tiền cung ứng mà còn thể hiện
được vai trò người cho vay cuối cùng của nền kinh tế và tác động đến việc điều chỉnh
cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế.
6
Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
Tuy nhiên với công cụ này , NHTW không thể chủ động trong việc điều tiết
lượng tiền cung ứng, do việc chiết khấu hay không chiết khấu do các NHTM tự quyết
định , NHTW không thể ép buộc.
1.1.3.2 Dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải giữ lại, không được
dùng để cho vay hoặc đầu tư, mức dự trữ này do Ngân hàng trung ương quy định và
bằng một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín
dụng . Dự trữ bắt buộc mang tính pháp luật, được các tổ chức tín dụng gửi tại các tài
khoản của mình ở NHTW và thường không được hưởng lãi hoặc lãi suất rất thấp.
NHTW sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để tác động tới lượng tiền cung ứng trên
hai phương diện :
Thứ nhất : Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của các
NHTM. Theo thuyết tạo tiền gửi, từ một lượng tiền dự trữ ban đầu , hệ thống ngân
hàng thương mại có thể tạo ra một lượng tiền gửi lớn gấp nhiều lần với công thức
tổng quát :
Tiền gửi mới được tạo ra= Tiền dự trữ ban đầuTỷ lệ dự trữ bắt buộc
Trong đó : 1/Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là số nhân tiền với hai giả thiết:
• Các NHTM không có tiền dự trữ dư thừa so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà NHTW
quy định.
• Các khoản tiền gửi do các NHTM tạo ra đều được giữ lại trong hệ thống ngân
hàng.
Khi NHTW quyết định tăng hoặc giảm tỷ lện dự trữ bắt buộc sẽ làm cho số nhân
tiền giảm đi hoặc tăng lên. Qua đó làm giảm hoặc tăng lượng tiền cung ứng.
Thứ hai : Tỷ lện dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của các NHTM .
Số tiền dự trữ bắt buộc của 1 NHTM được gửi ở một tài khoản tại NHTW , không
được hưởng lãi hoặc lãi suất rất thấp trong khi các ngân hàng thương mại vẫn phải trả
lãi của khoản tiền đó cho khách hàng của mình. Do vậy khi mức dự trữ tăng lên đòi
7
Obj674Obj675Obj676Obj677
hỏi các NHTM phải tăng lãi suất cho vay vì chi phí huy động vốn lớn hơn và khả
năng cho vay của NHTM giảm xuống, theo đó lượng tiền cung ứng sẽ giảm xuống.
Và ngược lại , khi tỷ lện dự trữ bắt buộc giảm xuống, các ngân hàng thương mại có
thể giảm lãi suất cho vay vì chí phí huy động vốn giảm xuống, tăng khả năng cho vay
của các NHTM và theo đó lượng tiền cung ứng tăng lên.
Điểm lợi chính của việc sủ dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát lượng tiền
cung ứng là nó có thể tác động bình đẳng đến các ngân hàng. Đây là công cụ có ảnh
hưởng rất lớn đến lượng tiền cung ứng. Nhưng chính điều này cũng làm cho công cụ
dự trữ bắ buộc trở lên phức tạp và thiếu linh hoạt vì sự thay đổi thường xuyên sẽ gây
ra sự bất ổn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng và chi phí cho việc điều chỉnh
thích ứng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc mới là rất tốn kém. Ngoài ra việc tăng tỷ lệ dự trữ
bắt buộc có thể ảnh hưởng ngay lập tức tới khả năng thanh khoản của các ngân hàng
có tỷ lệ dự trữ vượt quá ở mức thấp. Do đó hiện nay công cụ dự trữ bắt buộc đóng vai
trò kém phần quan trọng trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ của NHTW
1.1.3.3 Nghiệp vụ thị trường mở.
Vì phạm vi của đề án này tập trung đi sâu vào nghiên cứu về nghiệp vụ thị
trường mở . Do đó công cụ này sẽ được đề cập rõ ràng và đầy đủ ở phần sau của bài
viết
1.2 CÔNG CỤ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ
1.2.1 Khái niệm và cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở.
1.2.1.1Khái niệm.
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn hoặc
trung và dài hạn nhưng thời gian còn lại cho đến khi đáo hạn là ngắn hạn như: Tín
phiếu Kho bạc, Tín phiếu Ngân hàng trung ương, Chứng chỉ tiền gửi…. của NHTW
trên thị trường tiền tệ, điều hoà cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối
dự trữ của các NHTM , từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các
NHTM dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
1.2.1.2 Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở.
a.Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
8
Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
Hành vi mua, bán chứng khoán trên thị trường mở của NHTW có khẳ năng ảnh
hưởng ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các NHTM thông qua việc tác động tới
lượng tiền gửi của các NHTM tai NHTW và tiền gửi của khách hàng tại các NHTM.
Bằng việc bán các chứng khoán cho các đối tác, NHTW có thể làm giảm đi một khối
lượng dự trữ tương ứng (nếu các nhân tố khác không đổi), dù người mua là NHTM
hay khách hàng của nó khi tiền thanh toán cho lượng chứng khoán được ghi nợ vào
tài khoản của ngân hàng tại NHTW. Trong trường hợp người mua là khách hàng của
NHTM thì số tiền mua chứng khoán sẽ làm giảm số dư tiền gửi của khách hàng đó tại
NHTM. Sự giảm xuống của dự trữ sẽ dẫn đến giảm khả năng cho vay của hệ thống
ngân hàng và vì thế mà làm giảm khối lượng tiền cung ứng theo bội số, được đo
lường bằng sự giảm xuống của số nhân tiền tệ. Hành vi mua chứng khoán của
NHTW sẽ có tác động ngược lại.
NHTW bán tín phiếu kho bạc  Dự trữ NH  Dự trữ để mở rộng cho vay  khối lượng
tín dụng   MS 
Sơ đồ 1: Cơ chế tác dộng vào dự trữ của NHTM khi NHTW bán tín phiếu kho bạc.
b. Tác động qua lãi suất.
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường mở cuả NHTW có ảnh hưởng
gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua 2 con đường:
Thứ nhất: khi dự trữ của các ngân hàng bị ảnh hưởng nó có tác động đến cung
cầu vốn của NHTW trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Đến lượt nó, cung cầu tiền
trung ương thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi suất
ngắn hạn này , thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động Arbirage về lãi
suất, sẽ truyền tác động của nó đến các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường
tài chính. Tổng cầu AD của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết
định tại một mức lãi suất thị trường xác định.
Thứ hai: Việc mua bán chứng khoán sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung
cầu về loại chứng khoán đó trên thị trường mở và do đó tác động đến giá cả của nó.
Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi. Nếu đó là loại
9
chứng khoán chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay
đổi tỷ lệ sinh lời của chúng sẽ tác động trở lại lãi suất thị trường ,tổng cầu AD và sản
lượng.
Cung TPKB ↑––––> Giá TPKB ↓ –––––––> LS thị trường ↑–––––––––––––
NHTW Đầu tư ↓
Bán TPKB
Dự trữ ↓ > Cung vốn ↓ LS ngắn hạn ↑ ––––> LS
NHTW thị trường
Sơ đồ 2: Cơ chế tác động qua lãi suất khi NHTW bán tín phiếu kho bạc
1.2.2 Các loại nghiệp vụ thị trương mở.
Trong các nghiệp vụ thị trường mở phải có sự tham gia của NHTW bởi nếu
không có NHTW tham gia thì khối lượng tiền tệ nói chung sẽ không thay đổi. Việc
NHTM này bán chứng khoán cho một NHTM khác, xét toàn cục, chỉ là sự dịch
chuyển chứng khoán và di chuyển ngược lại của một phần dự trữ đang dư thừa từ
NHTM này sang NHTM khác đang thiếu vốn mà thôi.
Có hai loại nghiệp vụ thị trường mở:
• Nghiệp vụ thị trường mở năng động, nhằm làm thay đổi mức dự trữ và cơ số
tiền tệ.
• Nghiệp vụ thị trường mở thụ động, nhằm bù lại những chuyển động của các
nhân tố khác đã làm ảnh hưởng đến cơ số tiền tệ.
Nghiệp vụ thị trường mở của NHTW thường được sử dụng theo hai cách chủ
yếu là : Các giao dịch không hoàn lại và các giao dịch có hoàn lại.
Các giao dịch không hoàn lại (hay các giao dịch mua bán đứt đoạn): bao gồm
các nghiệp vụ mua, bán chứng khoán của NHTW theo các phương thức mua đứt bán
đoạn trên cơ sở giá trị thị trường. Hình thức giao dịch này làm chuyển hẳn quyền sở
10
Obj678
Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
hữu đối với các chứng khoán là đối tượng giao dịch. Vì vậy, ảnh hưởng của nó đối
với dự trữ của các ngân hàng là dài hạn.
Các giao dịch có hoàn lại (giao dịch có kỳ hạn) :Phương pháp này chủ yếu
được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời là các hợp đồng mua lại (Repor). Hợp
đồng mua lại được sử dụng khi NHTW thực hiện một giao dịch theo hợp đồng mua
lại, có nghĩa là mua chứng khoán từ người môi giới trên thị trường, người đồng ý sẽ
mua lại vào một ngay xác định trong tương lai. Hợp đồng mua lại đảo ngược được áp
dụng khi NHTW muốn rút bớt dự trữ của hệ thống ngân hàng. Để đạt được mục đích
này, NHTW bán chứng khoán cho người giao dịch, người đồng ý sẽ bán lại vào một
ngày xác định trong tương lai. Sự chênh lệch giá bán chứng khoán tại thời điểm t=o
và thời điểm t=T là lãi suất của khoản vay (Repor). Nói chung hợp đồng mua lại
được sử dụng trong một thời gian rất ngắn. Thường là qua đêm với t = 1 ngày. Tuy
nhiên, cũng có khi thời hạn hợp đồng mua lại dài hơn với t > 1 ngày, được coi là
Repor có thời hạn. Với loại Repor mở, thời hạn t không được xác định trước mà 2
bên thoả thuận lại vào mỗi ngày.Giao dịch theo hợp đồng Repor thực chất là một
khoản vay có bảo đảm bằng chứng khoán có tính thị trường cao.
Các giao dịch hoàn lại được sử dụng chủ yếu trong nghiệp vụ thị trường mở vì
những lý do sau đây:
Thứ nhất: đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh
hưởng không dự tính trước đến dự trữ của các ngân hàng.
Thứ hai: chi phí giao dịch cho một hợp đồng mua lại rẻ hơn so với các hợp
đồng mua bán đứt đoạn.
Thứ ba: thích hợp trong trường hợp các định hướng chính sách tiền tệ không
hoàn hảo dẫn đến việc sử dụng các giải pháp khắc phục.
Thứ tư: làm giảm bớt thời giam thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của
thị trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW.
Ngoài ra một loạt các nghiệp vụ khác cũng được NHTW sử dụng trong nghiệp
vụ thị trường mở như: phát hành chứng chỉ nợ của NHTW, giao dịch hoán đổi các
chứng khoán đến hạn, giao dịch hoán đổi ngoại tệ.
1.2.3 Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở.
11
Các nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua hình thức đấu thầu. Có
hai loại đấu thầu: Đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất.
1.2.3.1Đấu thầu khối lượng (đấu thầu với lãi suất cố định )
NHTW niêm yết trước mức lãi suất. Các tổ chức tham gia đầu thầu chỉ việc đăng
ký số tiền trên cơ sở chấp nhận mức lãi suất niêm yết.
Việc phân phối thầu đối với mỗi phiên thầu có lãi suất cố định được tiến hành
như sau: trước hết toàn bộ số đăng ký đặt thầu được cộng lại với nhau. Nếu tổng số
đặt thầu nhỏ hơn số lượng được phân phối thì toàn bộ các đơn đặt thầu đều được
phân phối. Nếu các đơn đặt thầu lớn hơn số lượng được phân phối thì các đơn đặt
thầu sẽ được phân phối theo công thức sau:
Tỷ lệ % phân phối thầu :
K = A ∑ a
i
(i=1,n)
Trong đó:
A: Số lượng đấu thầu được phân phối.
n :tổng số các tổ chức tín dụng tham gia đấu thầu
A
i
: số lượng đặt thầu của tổ chức i
K : tỷ lệ % phân phối thầu.
Số lượng trúng thầu của tổ chức i (T
i
) được tính:
T
i
= K . a
i
1.2.3.2 Đâú thâù lãi suất.
Các tổ chức tham gia đấu thầu tự đăng ký số tiền ứng với mỗi mức lãi suất do
mình lựa chọn. Đối với đấu thầu nhằm cung ứng thêm vốn khả dụng, các số lượng
đặt thầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân phối theo các mức lãi suất từ cao
xuống thấp . Nghĩa là những số lượng đăng ký thầu ứng với lãi suất cao sẽ được ưu
tiên phân phối trước cho đến khi số lượng phân phối được sử dụng hết. Nếu tại mức
lãi suất thấp nhất được chấp nhận, số lượng đăng ký dự thầu lớn hơn số lượng được
phân phối thì quá trình phân phối được tiến hành như sau:
Gọi : A : là số lượng thầu được phân phối
r
s
: Mức lãi suất thứ s được đăng ký
a(r
s
)
i
: số lượng tiền đặt thầu ứng với lãi suất rs
của thành viên thứ i.
a(r
s
) : Tổng số tiền đặt thầu với mức lãi suất rs của
12
Trần thanh Cao _ Ngân hàng 46A
tất cả các tổ chức
r
m
: Mức lãi suất cuối cùng được chấp nhận.
Đối với đấu thầu để cung ứng khả năng thanh toán thì : r
1
>=r
s
>=r
m
Tỷ lệ % trúng thầu được phân phối tại mức lãi suất cuối cùng k(r
m
)được tính
bằng công thức:
A – ∑a(r
s
) (s=1,m-1)
K(r
m
) = –––––––––––––––––––––––––
A(rm)
Số lượng trúng thầu được phân phối cho tổ chức i tại mức lãi suất r
m
là T(r
m
)
được tính băng công thức
T(r
m
) = K (r
m
) x A (r
m
)
(Đối với đấu thầu để thu hút dự trữ về thì các quy trình diễn ra theo chiều hướng
ngược laị )
Trong đấu thầu lãi suất NHTW có thể áp dụng dưới hình thức một giá (phương
thức Hà Lan ) hoặc phương thức nhiều giá (phương thức Mỹ) .
1.2.4 Hàng hoá của nghiệp vụ thị trường mở.
Chủng loại các chứng khoán được giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở không
giống nhau ở từng nước. Ở những nước như Anh, Mỹ, nghiệp vụ thị trường mở là
hành vi giao dịch các chứng khoán chính phủ của NHTW nhưng chủng loại các
chứng khoán được giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở lại phong phú hơn các
nước khác như Nhật Bản, Pháp, Úc. Mặt khác, có nước chỉ cho phép các chứng
khoán ngắn hạn được giao dịch trong nghiệp vụ thị trường mở, trong khi các chứng
khoán dài hạn lại được chấp nhận ở các nước khác. Về mặt lý thuyết, nghiệp vụ thị
trường mở không giới hạn cụ thể chủng loại cũng như thời hạn các chứng khoán giao
dịch, tuy nhiên những loại chứng khoán nợ chủ yếu bao gồm:
Tín phiếu kho bạc.
Tín phiếu kho bạc là giấy nhận nợ do chính phủ phát hành để bù đắp thiếu hụt
tạm thời trong năm tài chính. Thời hạn của tín phiếu thông thường là dưới 12 tháng.
Đây là công cụ chủ yếu của nghiệp vụ thị trường mở của hầu hết NHTW các nước
13
vì : thứ nhất Tín phiếu kho bạc có tính thanh khoản cao; thứ hai được phát hành định
kỳ với khối lượng lớn và vì thế có thể thỏa mãn nhu cầu can thiệp của NHTW với
liều lượng khác nhau. Bộ Tài Chính là người có vai trò quan trọng trong việc xác
định khối lượng phát hành, thanh toán lãi và gốc của tín phiếu.Tín phiếu kho bạc
được phát hành hàng tuần để chi trả các khoản nợ ngắn hạn của chính phủ, vì vậy,
khối lượng tín phiếu này thay đổi tùy theo nhu cầu vay mượn của chính phủ.
Chứng chỉ tiền gửi
Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của ngân hàng hay các trung gian tài chính
phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền gửi vào ngân hàng trong một thời
gian nhất định với mức lãi suất xác định trước. Thời hạn của chứng chỉ tiền gửi
thường là ngắn hạn (cũng có trường hợp thời hạn lên tới 3-5 năm). Sự ra đời của
chứng chỉ tiền gửi đánh dấu sự thay đổi căn bản trong cơ chế quản lý ngân hàng:
Chuyển từ quản lý tài sản nợ sang quản lý tài sản có vì nó cung cấp một hình thức
huy động vốn chủ động cho ngân hàng thay vì phải phụ thuộc vào người gửi tiền.
Tính ưu việt của chứng chỉ tiền gửi chính là đảm bảo cho sức sống của nó, và do đó
nó được sử dụng như là hàng hóa phổ biến cho nghiệp vụ thị trường mở .
Thương phiếu.
Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết
thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian xác định. Đây là
giấy ghi nhận nợ được phát hành bởi các doanh nghiệp nhằm bổ sung nhu cầu vốn
ngắn hạn của doanh nghiệp. Luật và pháp lệnh thương phiếu ở các nước đảm bảo tính
chất an toàn cho công cụ này bằng các quy định về điều kiện được phép phát hành
thương phiếu. Thương phiếu là tài sản có đối với người sở hữu, có thể là ngân hàng
( thông qua các hành vi chiết khấu hoặc cho vay có bảo đảm bằng thương phiếu) hoặc
các tổ chức phi ngân hàng trong quan hệ thanh toán trực tiếp ( cơ chế bảo lãnh của
ngân hàng là là cho thương phiếu có tính chuyển nhượng cao và vì thế được chấp
nhận dễ dàng trong thanh toán của tổ chức này). Vì vậy, việc mua, bán thương phiếu
của NHTW sẽ ảnh hưởng mạnh đến dự trữ của các NHTM hoặc tiền gửi của các
khách hàng tại cá NHTM.
Trái phiếu chính phủ.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét