Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền ở Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên từ 1939 đến 1945.pdf
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
du kích liên quan đến hoạt động của các chiến sĩ cách mạng ở “Căng Bá Vân”.
Về hoạt động chuẩn bị lực lượng trực tiếp cho tổng khởi nghĩa trong cao trào
kháng Nhật, các tác giả đã trình bày về quá trình chuẩn bị lực lượng chính trị, vũ
trang và chớp thời cơ giành chính quyền ở huyện lỵ Phổ Yên. Tuy cuốn sách đã
dành nhiều trang trình bày về hoạt động chuẩn bị lực lượng, nhưng chưa hệ
thống, chỉ tập trung chủ yếu vào hoạt động chuẩn bị lực lượng vũ trang, có nhiều
sự kiện lịch sử chưa chính xác. Cuốn sách chưa phân tích và trình bày được vai
trò, vị trí của công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến đến khởi nghĩa giành chính
quyền của huyện Phổ Yên.
Từ năm 1990 đến năm 1995, trên cơ sở những ý kiến đóng góp của các cán
bộ lão thành cách mạng, của đông đảo cán bộ, đảng viên trong toàn huyện, Ban
thường vụ huyện uỷ Phổ Yên đã thẩm định và xác minh làm rõ nhiều vấn đề
lịch sử trong thời kỳ 1930 – 1954 và quyết định biên soạn lại cuốn sách “Lịch
sử Đảng bộ Phổ Yên”. Trên cơ sở phê phán các loại tư liệu lịch sử, cuốn sách
đã chỉnh lý bổ sung một số sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, nội dung cuốn “Lịch sử
Đảng bộ Phổ Yên” xuất bản năm 1995 không có gì thay đổi lớn so với cuốn
“Lịch sử Đảng bộ Phổ Yên” xuất bản năm 1990.
Bài viết “Khởi nghĩa từng phần ở Bắc Thái” của tác giả Phạm Tất Quynh
in trong tạp chí Lịch sử Đảng số 4/1995, đã trình bày về quá trình khởi nghĩa
giành chính quyền ở tỉnh Thái Nguyên từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp
(9/3/1945). Trong đó, đã trình bày và phân tích một số sự kiện lịch sử diễn ra tại
ATKII, trong đó có Phổ Yên.
Năm 1997, Huyện uỷ Đồng Hỷ xuất bản cuốn sách “Sơ thảo lịch sử Đảng
bộ huyện Đồng Hỷ 1930 – 1995”, do Tiến sĩ Nguyễn Xuân Minh làm Chủ biên
đã viết về một số sự kiện cách mạng diễn ra ở nam Đồng Hỷ, bắc Phổ Yên. Đây
là nguồn tài liệu quý để nghiên cứu về lịch sử Phổ Yên và mối quan hệ giữa lịch
sử lịch sử Phổ Yên với các địa phương khác trong khu vực.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Năm 1998, cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ thị xã Sông Công 1985 – 1995” đã
dành phần mở đầu chương I để viết về phong trào cách mạng trên địa bàn huyện
Phổ Yên trước cách mạng tháng Tám, nhưng chỉ khái quát những nét chung chưa
trình bày cụ thể, hệ thống về quá trình chuẩn bị lực lượng trong thời kì 1939 – 1945.
Năm 1999, cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ xã Kha Sơn 1938 – 1995” do Tiến
sĩ Nguyễn Xuân Minh làm chủ biên, đã có trình bày về mối quan hệ giữa các
địa phương trong ATK II và mối quan hệ giữa ATK II với các địa phương khác.
Năm 1999, trong cuốn sách “Thái Nguyên Lịch sử đấu tranh cách mạng và
kháng chiến chống Pháp 1941 -1954” của Ban chỉ huy Quân sự tỉnh Thái
Nguyên, nhóm tác giả cũng đã trình bày khái quát về hoạt động cách mạng ở
huyện Phổ Yên thời kỳ 1939 – 1945.
Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên”, tập I (1936 -1965) xuất
bản năm 2003, trong phần mở đầu và chương I nhóm tác giả đã có đề cập đến
tình hình Phổ Yên trước cách mạng tháng Tám, nhưng chủ yếu là những thủ
đoạn cai trị của thực dân Pháp. Các tác giả mới chỉ nêu những nét chung về
phong trào cách mạng ở Phổ yên chưa nêu cụ thể, hệ thống về phong trào cách
mạng ở huyện Phổ Yên.
Trong cuốn “Lịch sử Đảng bộ Phú Bình 1930 - 2005”, các nhà nghiên cứu
đã có phân tích vị trí, mối quan hệ, vai trò của ATK II với các địa phương khác
trong đó có hoạt động trước cách mạng tháng Tám ở huyện Phổ Yên.
Tóm lại, cho đến nay chưa có công trình nào trình bày đầy đủ và hệ
thống về công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền
ở Phổ Yên từ 1939 đến 1945. Tuy nhiên, những tài liệu nêu trên là nguồn tư
liệu lịch sử có giá trị khoa học, đó là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu, hoàn
thiện luận văn của mình.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Đề tài nghiên cứu công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính
quyền ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên từ 1939 đến 1945.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: chủ yếu huyện Phổ Yên (sau năm 1985 là huyện Phổ
Yên và thị xã Sông Công).
Phạm vi thời gian: từ 1939 đến cách mạng tháng Tám năm 1945.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu công cuộc chuẩn bị lực lượng (lực lượng
chính trị, lực lượng vũ trang và căn cứ địa) và khởi nghĩa giành chính quyền ở
huyện Phổ Yên.
Khôi phục chân xác công cuộc chuẩn bị lực lượng và diễn biến Cách mạng
tháng Tám năm 1945 tại huyện Phổ Yên. Từ đó, nêu rõ vai trò, vị trí và mối
quan hệ giữa công cuộc chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa ở Phổ Yên với
các địa phương khác.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng trong thời
kỳ trước cách mạng tháng Tám là cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi khai thác triệt để các nguồn tư
liệu lịch sử, tài liệu lịch sử liên quan đến công cuộc chuẩn bị lực lượng và khởi
nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám tại huyện lỵ Phổ Yên.
Các công trình nghiên cứu Lịch sử có liên quan đến quá trình chuẩn bị lực
lượng cách mạng cho cách mạng tháng Tám tại huyện Phổ Yên: Lịch sử Đảng
bộ, Huyện bộ, Chi bộ, Lịch sử quân sự,…
Các tập hồi ký của các đồng chí lãnh đạo Đảng, cán bộ lão thành cách
mạng. Ngoài các tư liệu, tài liệu thành văn, những lời kể của các nhân chứng
lịch sử là nguồn tư liệu quý, góp phần làm sáng rõ, cụ thể về công cuộc chuẩn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
bị lực lượng và khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám trên
quê hương Phổ Yên.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc để phục dựng lại công cuộc
chuẩn bị lực lượng tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Phổ Yên, tỉnh
Thái Nguyên.
- Phương pháp thống kê, so sánh để thấy được sự phát triển của phong trào
cách mạng ở Phổ Yên so với các địa phương khác.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp để thấy được vai trò, vị trí và mối liên
hệ giữa phong trào cách mạng ở Phổ Yên với các địa phương khác.
- Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp điền dã, phỏng vấn.
5. Đóng góp của luận văn
- Khôi phục chân thực toàn cảnh quá trình chuẩn bị lực lượng tiến tới giành
chính quyền ở Phổ Yên trong cách mạng tháng Tám (từ 1939 đến 1945).
- Phân tích, đánh giá vai trò của công cuộc chuẩn bị lực lượng trước cách
mạng tháng Tám ở huyện Phổ Yên.
- Luận văn làm rõ vai trò của Phổ Yên trong quá trình tham gia xây dựng
An toàn khu của TW và vai trò “cầu nối liên lạc” giữa phong trào cách mạng
các tỉnh miền xuôi với khu giải phóng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài còn là nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình
giảng dạy lịch sử địa phương, góp phần giáo dục truyền thống yêu quê hương,
đất nước và lòng tự hào dân tộc.
6. Bố cục nội dung luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được
xây dựng thành 3 chương.
Chương 1. Vài nét về mảnh đất con người và truyền thống lịch sử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
Chương 2. Công cuộc xây dựng lực lượng cách mạng (từ 1939 đến 3/1945)
Chương 3. Phổ Yên trong cao trào kháng Nhật cứu nước và khởi nghĩa giành
chính quyền (từ tháng 3 đến 8/1945)
Chương 1
VÀI NÉT VỀ MẢNH ĐẤT CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ
1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
Phổ Yên (nay là huyện Phổ Yên và thị xã Sông Công) là một huyện trung
du, nằm phía nam tỉnh Thái Nguyên, phía đông giáp huyện Hiệp Hoà (Bắc
Giang) và huyện Phú Bình, phía nam giáp Sóc Sơn (Hà Nội), phía tây và tây
bắc tiếp giáp với dãy Tam Đảo (Phúc Yên) và huyện Đại Từ, phía bắc giáp thị
xã Thái Nguyên. Trung tâm của huyện là thị trấn Ba Hàng.
Phổ Yên nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia làm hai mùa
rõ rệt, mùa mưa và mùa khô rất thuận lợi cho việc phát triển, thâm canh cây
trồng theo mùa. Bên cạnh những thuận lợi, khí hậu Phổ Yên thường xuyên gây
ra tình trạng lũ lụt, đặc biệt là khu vực phía nam của huyện. Vì vậy, nhân dân
Phổ Yên thường xuyên phải kiên cường dũng cảm đương đầu với khó khăn của
thiên nhiên và cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm, xây dựng, bảo vệ quê
hương từ đó đã tạo nên truyền thống đoàn kết, tương trợ lẫn nhau.
Diện tích tự nhiên của huyện khoảng 300 km
2
, thấp dần về phía nam và
đông nam, tạo thành hai vùng với đặc điểm địa hình khác nhau, phía bắc và tây
bắc của huyện là vùng đồi núi, xen kẽ với những dải đồng bằng hẹp, thích hợp
cho việc trồng các cây công nghiệp (chè, lạc,…), cây ăn quả lâu năm (vải, nhãn,
trám,…) và chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò). Phía đông nam và tây nam chủ yếu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
là đồng đất tương đối bằng phẳng, liền kề với sông Cầu và sông Công, đất đai
dễ canh tác, thuận tiện cho việc tưới tiêu, phù hợp với trồng lúa nước và các loại
rau màu (su hào, cải bắp, cà chua đặc biệt là khoai lang và sắn).
Ở vị trí trung tâm khu vực miền núi phía bắc, nên ngoài mạng lưới các
tuyến đường liên huyện, liên xã đã được xây dựng và phát triển trong quá trình
phát triển kinh tế, xã hội, trên địa bàn Phổ Yên còn có hai tuyến đường quốc
gia. Đó là đường quốc lộ số 3 từ Hà Nội đi Cao Bằng, đoạn đi qua huyện dài
tới 30 km chạy theo hướng bắc nam và tuyến đường sắt Hà Nội – Quán Triều,
có ga đỗ tại trung tâm huyện lỵ. Hai tuyến đường này, cùng hệ thống đường liên
huyện, liên xã trở thành mạng lưới giao thông thuận lợi cho việc đi lại của nhân
dân, thúc đẩy kinh tế, văn hoá địa phương phát triển.
Ngoài các tuyến đường bộ, sông Cầu và sông Công cùng với hệ thống
kênh máng, ao, hồ không chỉ thuận lợi cho việc tưới tiêu, là nguồn cung cấp
thuỷ sản cho nhân dân trong huyện mà còn là hệ thống giao thông đường thuỷ
hết sức quan trọng. Quan trọng nhất là sông Cầu và sông Công, từ thị xã Thái
Nguyên sông Cầu chảy xuống phía đông và đông nam của huyện Phổ Yên, tạo
thành danh giới tự nhiên với huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang). Sông Công chảy
theo hướng bắc xuống nam, chia Phổ Yên thành hai phần. Hai con sông hợp
lưu tại ngã ba Vát (thôn Phù Lôi, xã Thuận Thành). Với lưu lượng nước tương
đối lớn, hai con sông đã mang nhiều phù sa, nguồn lợi về cho huyện và góp
phần quan trọng thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển. Trong lịch sử sông Cầu
không chỉ là biên giới tự nhiên bảo vệ phía bắc kinh thành Thăng Long mà còn
là tuyến đường huyết mạch giao lưu kinh tế nối đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh
miền núi phía Bắc. Trên địa bàn huyện Phổ Yên, bến Đại Phùng xưa (nay là
chợ Chã) đã từng là trung tâm giao lưu buôn bán trên bến dưới thuyền lớn nhất
trong khu vực, từ đây hàng hoá ngược lên bến Thượng, Thái Nguyên và xuôi
đến tận Hải Phòng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, cho nên trong suốt quá trình lao
động, chống giặc ngoại xâm tộc người Kinh đã đoàn kết với các tộc người Tày,
Nùng, Sán Dìu,…cùng xây dựng, bảo vệ quê hương Phổ Yên. Sau khi giành
được quyền độc lập tự chủ, các triều đình phong kiến nước ta đã chọn Thái
Nguyên để xây dựng tuyến phòng ngự chống lại giặc phương Bắc. Với vị trí
nằm ở cực nam của tỉnh Thái Nguyên, cho nên Phổ Yên luôn là phên dậu quan
trọng bảo vệ phía Bắc kinh thành Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ.
Nhìn chung, địa hình Phổ Yên là bán sơn địa, có nhiều đồi núi đất. Trước
cách mạng tháng Tám năm 1945 còn có nhiều rừng rậm rất thuận lợi cho hoạt
động bí mật, xây dựng các cơ sở cách mạng, chuẩn bị cho khởi nghĩa giành
chính quyền.
1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội huyện Phổ Yên
Do đặc điểm điều kiện tự nhiên, cho nên kinh tế chủ yếu là nông lâm
nghiệp mang tính chất tự cung tự cấp, đa số dân cư đã biết làm thuỷ lợi để phát
triển nông nghiệp trồng lúa nước, ngoài ra cư dân trong huyện còn trồng xen
canh các loại cây hoa màu khác (khoai lang, sắn, ngô) và chăn nuôi các loại gia
súc gia cầm. Tại Phổ Yên, nghề thủ công đan lát khá phát triển, trong đó nghề
truyền thống đan lát ở thôn Yên Trung, xã Tiên Phong với sản phẩm chủ yếu là:
thúng, dần, sàng, nong, giỏ, nơm…không chỉ phục vụ cho nhân dân trong
huyện, đã có nhiều lái buôn từ các nơi về cất hàng đem bán cho các địa phương
trong khu vực. Thương nghiệp trong huyện nhìn chung không phát triển, chỉ
được coi là nghề phụ, phần lớn được tiến hành vào lúc nông nhàn hoặc chỉ là sự
trao đổi những nông sản dư thừa thông qua hệ thống chợ làng, ngoại trừ một vài
cửa hàng buôn bán tại chợ Ba Hàng và chợ Chã, mặt hàng trao đổi chủ yếu là
các mặt hàng thiết yếu như muối, diêm,…
Theo dư địa chí của Nguyễn Trãi, Phổ Yên là một trong tám huyện thuộc
phủ Phú Bình, Đạo Thái Nguyên (Bắc Đạo). Địa danh Phổ Yên đã phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
cùng quá trình xây dựng đất nước và chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Qua
các thời kỳ lịch sử, Phổ Yên vẫn thuộc phủ Phú Bình. Năm 1887, thi hành chính
sách chia để trị của thực dân Pháp, Đồng Khánh cho thiết lập lại huyện Phổ
Yên. Khi thành lập khu tự trị Việt Bắc (8/1956) Phổ Yên được chuyển giao
sang cho tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 7/1957, Phổ Yên trở lại là huyện của tỉnh Thái
Nguyên. Năm 1932, Phổ Yên có 7 tổng, 38 làng. Cuối năm 1984, Phổ Yên có
19 xã và 4 thị trấn (thị trấn Ba Hàng, Bãi Bông, Phúc Thuận và Mỏ Chè). Tháng
4/1985, Phổ Yên cắt một xã và một thị trấn (xã Cải Đan và thị trấn Mỏ Chè) để
thành lập thị xã Sông Công, huyện Phổ Yên còn lại là 18 xã và 3 thị trấn [42].
Cư trú trên địa bàn huyện Phổ Yên là những cư dân thuộc 7 tộc người:
“Kinh, Sán Dìu, Tày, Nùng, Dao, Hoa, Mường; trong đó người Kinh (Việt) có
số đông (93,76%), Sán Dìu (5,09%), Tày (0,53%), Nùng (0,3%), Dao (0,26%),
Hoa và các dân tộc khác chiếm 0,06% và sống xen kẽ với nhau, riêng đồng
bào Dao cư trú chủ yếu ở các xã chân dãy Tam Đảo” [41,tr.39]. Trên một địa
bàn không rộng, có nhiều tộc người cùng cư trú, văn hoá - xã hội của Phổ Yên
mang những sắc thái riêng. Bên cạnh kết cấu, quan hệ bản làng tồn tại ở các
vùng dân tộc ít người là kết cấu quan hệ làng xóm với đình làng, luỹ tre xanh
của người kinh. Đặc điểm đó đã làm phong phú thêm đời sống văn hoá, tâm
linh của dân cư trên địa bàn. Trong quá trình phát triển của lịch sử, trải qua
các cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ, quan hệ giao lưu giữa các vùng,
các dân tộc đã tạo nên một cộng đồng dân cư thống nhất bền chặt, đó là “cơ
sở” để các tộc người trên địa bàn Phổ Yên cùng xây dựng quê hương và chống
lại thù trong giặc ngoài.
Với những đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và những tư liệu
lịch sử chứng tỏ đất và người Phổ Yên đã luôn gắn với quá trình xây dựng đất
nước, chống giặc ngoại xâm, duy trì bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Quá trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
phát triển lịch sử lâu dài đã hình thành cho con người Phổ Yên truyền thống yêu
nước, bất khuất trước mọi thách thức, khó khăn.
1.3. Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng
Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế và thường xuyên phải
cùng nhau trị thuỷ, chống lại giặc xâm lược từ phương Bắc, nhân dân các tộc
người Phổ Yên luôn đoàn kết, gắn bó keo sơn. Tuy đời sống của nhân dân Phổ
Yên còn nghèo khó về vật chất, nhưng họ đều rất dũng cảm, yêu lao động, căm
thù mọi sự áp bức bất công. Những phẩm chất tốt đẹp đó được lưu truyền và
phát huy từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành một trong những đặc điểm
nhân cách của con người Phổ Yên.
“Nhân dân Phổ Yên không chỉ cần cù, kiên nhẫn, sáng tạo trong lao động
sản xuất, chinh phục thiên nhiên để biến những mảnh đất hoang vu xưa thành
vùng đất màu mỡ, với những bản làng trù phú, mà còn dũng cảm kiên cường
đấu tranh chống lại mọi áp bức, bất công và giặc ngoại xâm” [16,tr.4].
Kể từ khi cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lược thất bại đến thành
công của cuộc khởi nghĩa do Khúc Thừa Dụ lãnh đạo (179 TCN - 905), đất
nước ta bị các triều đại phương Bắc kế tiếp nhau xâm lược. Trong hơn một
thiên niên kỷ đó, nhân dân ta đã liên tục vùng lên đấu tranh giành độc lập: Tiêu
biểu như khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40, khởi nghĩa của Bà Triệu năm 248,
khởi nghĩa Lý Bí năm 542, khởi nghĩa Mai Thúc Loan năm 722,
Trong đó, mùa xuân năm 542, Lý Bí đã liên kết với các hào kiệt và nhân
dân các Châu thuộc miền Bắc nước ta nổi dậy khởi nghĩa. Cùng với nhân dân
trong vùng, nhân dân Phổ Yên đã nổi dậy ủng hộ nghĩa quân. Hiện nay, tại xã
Hồng Tiến có nhiều ngôi chùa, đền đều thờ Lý Bí. Sự tham gia đóng góp của
nhân dân Phổ Yên với cuộc khởi nghĩa đã gắn liền với địa điểm “đồi khao
vương”, “ngòi khao vương” tại xã Tiên Phong ngày nay [77].
Năm 1077, nhà Tống cho 30 vạn quân vào xâm lược nước ta. Dựa vào địa
thế núi sông, Nhà Lý (1010 - 1225) đã cho dựng phòng tuyến trên sông Như
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Nguyệt (Sông Cầu) để chặn giặc. Trong cuộc chiến đấu đó, nhân dân các dân
tộc Phổ Yên cùng đồng bào cả nước dưới sự chỉ huy trực tiếp của tướng Dương
Tự Minh đã góp phần đánh tan quân Tống xâm lược. Ngày nay trên địa bàn
huyện có nhiều ngôi chùa, đền, nghè ven sông Cầu đều thờ Cao Sơn Quý Minh
đại vương thần (là Dương Tự Minh - một tướng quân thời Lý).
Sang thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng khủng hoảng,
nền kinh tế bế tắc, đời sống nhân dân khốn cùng, bộ máy chính quyền ngày
càng quan liêu, tha hoá. Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, đã làm bùng lên
làn sóng đấu tranh quyết liệt của các tầng lớp trong xã hội chống lại nhà
Nguyễn. Trong nửa đầu thế kỷ XIX, đã có gần 400 cuộc khởi nghĩa nổ ra.
Năm 1806, Dương Đình Cúc phất cờ khởi nghĩa đã được đông đảo nhân
dân Phổ Yên tham gia.
Năm 1833, nhân dân Phổ Yên đã cùng đồng bào trong tỉnh hưởng ứng cuộc
khởi nghĩa do Nông Văn Vân lãnh đạo. Sau khi đánh chiếm Thái Nguyên, nghĩa
quân đã bắt quan lại, thích vào mặt dòng chữ “quan tỉnh ăn hối lộ”, rồi đuổi ra
khỏi thành. Sau đó nhân dân Phổ Yên lại tiếp tục tham gia cuộc khởi nghĩa do
Cai Vàng chỉ huy [77].
Do triều Nguyễn phải tập trung lực lượng đàn áp các cuộc khởi nghĩa của
nông dân, cho nên biên giới phía bắc nước ta gần như bỏ ngỏ. Vì thế, năm
1870 tàn quân của phong trào nông dân Thái Bình Thiên Quốc từ Vân Nam
(Trung Quốc) tràn vào tỉnh ta, đánh chiếm thành Thái Nguyên và phủ Phú
Bình. Nhân dân các dân tộc trong phủ Phú Bình cùng các vùng lân cận hưởng
ứng lời kêu gọi của tri phủ Đoàn Công Trịnh, đã tự vũ trang đánh trả kẻ thù,
bảo vệ quê hương.
Đầu năm 1884, quân Cờ Đen do Lý A Sinh cầm đầu đã đánh chiếm và
cướp bóc hầu hết các tổng trong phủ Phú Bình. Một lần nữa nhân dân trong
khu vực và quân triều đình do Tôn Thất Thuyết chỉ huy cùng đánh đuổi bọn
giặc cướp lên phía Bắc.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét